DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Giá trị sản xuất
GTSX
Hội đồng nhân dân
HĐND
Kết cấu hạ tầng
KCHT
Kinh tế - xã hội
KTXH
Ủy ban nhân dân
UBND
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
28
ra từ thực trạng trong phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KẾT
46
CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI Ở HUYỆN
HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Quan điểm phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở
54
huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội thời gian tới
3.2. Giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế -xã hội ở
54
huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội thời gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
59
74
76
82
MỞ ĐẦU
triển KTXH huyện Hoài Đức đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Quy
hoạch phát triển KTXH huyện Hoài Đức phù hợp với chiến lược phát triển
KTXH của thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 trên cơ sở có
tính đến đặc thù riêng có của huyện và lợi thế so với các vùng lân cận. Lấy
xây dựng đô thị, hạ tầng và phát triển dịch vụ đô thị là khâu đột phá trong
phát triển KTXH của huyện. Thực tế đó đã và đang đặt ra yêu cầu bức thiết về
phát triển KCHT KTXH huyện Hoài Đức. Song, về tổng thể, hệ thống KCHT
KTXH ở huyện Hoài Đức vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, lạc hậu, thiếu đồng
bộ, kém tính kết nối, nhất là các xã thuần nông… là điểm nghẽn, cản trở sự phát
triển nhanh và bền vững của huyện. Vì vậy, với mong muốn làm rõ hơn một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển KCHT KTXH, đề xuất giải pháp phát
triển góp phần xây dựng quê hương Hoài Đức giàu đẹp, tác giả chọn: “Phát
triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội”
làm đề tài nghiên cứu của luận văn cao học, chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, bước đầu tác giả tiếp cận được
một số công trình khoa học liên quan đến đề tài sau:
* Nhóm công trình khoa học bàn về kết cấu hạ tầng và kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội
- Bùi Nguyên Khánh (2001), Thu hút và sử dụng vốn nước ngoài trong
xây dựng kết cấu hạ tầng của ngành Giao thông Vận tải Việt Nam, Luận án
Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Ngoại thương, H. Tác giả làm rõ một số vấn
đề lý luận và thực tiễn về việc thu hút và sử dụng vốn nước ngoài trong xây
dựng KCHT của Ngành Giao thông Vận tải Việt Nam; đề xuất quan điểm, giải
pháp để thu hút và sử dụng vốn nước ngoài trong xây dựng KCHT của Ngành
Giao thông Vận tải Việt Nam thời gian tới.
- Tạ Thị Đoàn (2005), “Tăng cường đầu tư KCHT nhằm thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn”, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 5/2005, tr.43 - 46. Tác giả khái quát
4
5
của đất nước, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của quốc gia. Từ đó,
tác giả đề xuất biện pháp phát triển KCHT ở nước ta thời gian tới.
- Nguyễn Thế Cao (2013), Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hà Nam, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện
Chính trị, H. Tác giả phân tích và luận giải một số vấn đề lý luận về KCHT
KTXH trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hà Nam; đề xuất quan
điểm và giải pháp để phát triển KCHT KTXH trong công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở tỉnh Hà Nam.
- Nguyễn Hồng Trường (2016), “Phát triển KCHT Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 3(611)/2016, tr.20
- 23. Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KCHT Việt Nam và đề
xuất giải pháp phát triển KCHT Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế thời gian tới.
Nhóm công trình khoa học trên bàn về KCHT và KCHT KTXH được
đề cập với nội dung, phạm vi khác nhau ở cả địa phương cũng như trung ương
và lĩnh vực cụ thể như hạ tầng giao thông, nhất là hạ tầng giao thông nông
thôn; hạ tầng khu công nghiệp, đô thị; về KCHT phục vụ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Các công trình này đã đưa ra được quan
niệm về KCHT, KCHT KTXH, đánh giá thực trạng và đề xuất quan điểm,
giải pháp phát triển KCHT ở các nội dung đã xác định trên. Tổng quan nhóm
các công trình này đã cũng cấp cho tác giả nét khái quát nhất về KCHT,
KCHT KTXH và vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, các
các công trình này chưa đề cập đến phát triển KCHT KTXH ở huyện Hoài
Đức, thành phố Hà Nội.
* Nhóm công trình khoa học bàn về phát triển kết cấu hạ tầng và phát
triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
- Nguyễn Đức Độ (2002), Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và vai trò
* Nhóm các công trình khoa học về xây dựng cơ sở hạ tầng, kết cấu hạ
tầng của huyện Hoài Đức và thành phố Hà Nội
- Trung tâm tiếng Anh Quốc tế Btes (2006), Hoài Đức - toàn cảnh trên
đường phát triển: A panorama of Hoai Duc on the development, Nxb Văn hoá
Sài Gòn, Công ty Văn hoá Trí tuệ Việt, thành phố Hồ Chí Minh. Cuốn sách
giới thiệu về lịch sử, kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện Hoài Đức, Hà Tây.
7
Về lĩnh vực kinh tế, cuốn sách đã giới thiệu những thành tựu đạt được của
Hoài Đức trong những năm qua mà phát triển KCHT là một nội dung.
- Hải Yến (2007), “Uỷ ban nhân dân huyện Hoài Đức: Thức dậy một
tiềm năng”, Tạp chí Đông Nam Á, số 9+10/2007, tr. 38 - 39. Tác giả trình
bày khái quát về huyện Hoài Đức, Ủy ban nhân dân huyện Hoài Đức và tiềm
năng của huyện. Trên cơ sở đó, tác giả làm rõ vai trò của Uỷ ban nhân dân
huyện Hoài Đức trong việc khai thác tiềm năng của huyện cửa ngõ phía Tây
của thành phố Hà Nội.
- Ngô Thị Năm (2002), Giải pháp huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng kinh tế trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận án Tiến sỹ Kinh tế, Học
viện Tài chính, H. Tác giả trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về cơ sở hạ
tầng kinh tế, về đầu tư huy động vốn, phân cấp quản lý đầu tư giữa trung ương
và địa phương để giải quyết vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế. Tác giả đã
đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp huy động vốn đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng kinh tế trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian tới.
- Nguyễn Thành Công (2013), Thực trạng và các giải pháp chủ yếu
nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Hà Nội giai đoạn 2011 - 2020, Nxb
Hà Nội, H. Cuốn sách trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về tốc độ và chất
lượng tăng trưởng kinh tế; đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
chất lượng tăng trưởng kinh tế Hà Nội giai đoạn 2010 - 2020.
- Hồ Thị Hương Mai (2015), Quản lý nhà nước về vốn đầu tư trong phát
triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” là đề
tài nghiên cứu của luận văn thạc sỹ, chuyên ngành kinh tế chính trị.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển KCHT KTXH ở huyện
Hoài Đức, thành phố Hà Nội; trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp
phát triển KCHT KTXH ở huyện Hoài Đức thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải cơ sở lý luận về phát triển KCHT KTXH ở huyện Hoài
Đức, thành phố Hà Nội.
- Đánh giá thực trạng phát triển KCHT KTXH ở huyện Hoài Đức,
thành phố Hà Nội.
9
- Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển KCHT KTXH ở huyện
Hoài Đức, thành phố Hà Nội thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
* Phạm vi nghiên cứu
Phát triển KCHT KTXH ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Thời gian: từ 2009 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận, thực tiễn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính sách của Đảng Cộng
sản Việt Nam; chủ trương của thành phố Hà Nội và huyện Hoài Đức về phát
triển KTXH nói chung và phát triển KCHT KTXH nói riêng.
* Phương pháp nghiên cứu
liên tục. Dựa trên các tiêu chí khác nhau để phân chia KCHT thành nhiều
loại; nếu căn cứ theo lĩnh vực KTXH, thì KCHT được phân chia thành
KCHT phục vụ kinh tế, KCHT phục vụ hoạt động xã hội và KCHT phục vụ
an ninh, quốc phòng. Tuy nhiên, ít có loại KCHT nào hoàn toàn chỉ phục vụ
kinh tế mà không phục vụ hoạt động xã hội và ngược lại. Căn cứ theo sự
phân ngành của nền kinh tế quốc dân thì KCHT được phân chia thành
KCHT trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, y tế,
giáo dục… Căn cứ theo khu vực dân cư, vùng lãnh thổ, thì KCHT được
phân chia thành KCHT đô thị, KCHT nông thôn; KCHT đồng bằng, trung
du, miền núi, vùng trọng điểm phát triển… Trong mỗi lĩnh vực, ngành và
khu vực thì KCHT lại bao gồm những công trình đặc trưng cho hoạt động
của lĩnh vực, ngành, khu vực cùng những công trình liên ngành khác đảm
bảo cho hoạt động đồng bộ của toàn hệ thống.
Khi tiếp cận, phân tích và luận giải việc phát triển KCHT phục vụ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tác giả Lê Du Phong đưa ra quan
niệm: “Kết cấu hạ tầng là tổng hợp các yếu tố và điều kiện vật chất - kỹ
11
thuật được tạo lập và tồn tại trong mỗi quốc gia, là nền tảng và điều kiện
chung cho các hoạt động KTXH, các quá trình sản xuất và đời sống diễn ra
trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, cũng như trong mỗi khu vực,
vùng lãnh thổ của đất nước” [35, tr.5]. Quan niệm trên cho ta thấy, KCHT là
một khái niệm dùng để chỉ làm cơ sở mà nhờ đó các quá trình công nghệ,
quá trình sản xuất và các dịch vụ được thực hiện. Tương ứng với mỗi loại
lĩnh vực hoạt động của xã hội lại có một loại KCHT tương ứng. Song, dù
lĩnh vực nào thì các loại KCHT này đều tồn tại, vận hành phục vụ nhu cầu
phát triển KTXH của đất nước.
Từ cách tiếp cận trên, theo tác giả kết cấu hạ tầng là một bộ phận đặc
thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm
Để làm rõ KCHT KTXH, trước hết tác giả tập trung làm rõ KCHT kinh
tế. Như chúng ta biết, KCHT kinh tế là bộ phận quan trọng trong hệ thống
kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định, bền vững và là
động lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn, tạo điều kiện cải thiện cuộc sống dân
cư. KCHT kinh tế bao gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật như năng lượng
(điện, than, dầu khí) phục vụ sản xuất và đời sống, các công trình giao thông
vận tải (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông, đường hàng không,
đường ống), bưu chính viễn thông, các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất
nông, lâm, ngư nghiệp… phục vụ các hoạt động phát triển kinh tế. Giá trị của
các công trình, thiết bị vật chất và kỹ thuật cấu thành KCHT kinh tế được
chuyển dần vào giá trị hàng hoá, dịch vụ mà nó tham gia tạo ra. KCHT kinh
tế là bộ phận quan trọng trong hệ thống kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát
triển nhanh, ổn định, bền vững và là động lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn,
tạo điều kiện cải thiện cuộc sống dân cư.
KCHT xã hội là tập hợp một số ngành có tính chất dịch vụ xã hội; sản
phẩm do chúng tạo ra được thể hiện dưới hình thức dịch vụ và thường mang
tính chất công cộng, liên hệ với sự phát triển con người cả về thể chất và tinh
thần. KCHT xã hội bao gồm các công trình xây dựng, thiết bị vật chất, kỹ
thuật với chức năng phục vụ cho sinh hoạt và đời sống văn hoá của dân cư,
13
như các cơ sở y tế, bệnh viện, trường học, các công trình văn hoá, các công
trình phúc lợi công cộng… và các trang, thiết bị đồng bộ với chúng. KCHT xã
hội là điều kiện thiết yếu để phục vụ, nâng cao mức sống của cộng đồng dân
cư, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tiến trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nghiên cứu về KCHT KTXH, tác giả Đỗ Hoài Nam cho rằng: “Hạ tầng
kinh tế xã hội của một xã hội hiện đại là một khái niệm dùng để chỉ tổng thể
những phương tiện, thiết chế và tổ chức làm nền tảng cho KTXH phát triển”
đến quá trình phát triển KTXH của vùng và cả nước. Mặt khác, toàn bộ cơ sở,
vật chất kỹ thuật chỉ có thể phát huy tác dụng, khai thác có hiệu quả và đi vào
cuộc sống thiết thực với một cơ chế, chính sách khai thác, quản lý chúng khoa
học, hợp lý, phù hợp với điều kiện KTXH của địa phương.
1.1.2. Vai trò của kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
KCHT KTXH có vai trò rất to lớn với sự phát triển KTXH, là nền tảng
vật chất cơ bản của quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng.
Thứ nhất, KCHT KTXH là nền tảng vật chất có vai trò đặc biệt quan
trọng trong phát triển KTXH của mỗi quốc gia. Thực tế trên thế giới cho thấy,
những quốc gia phát triển cũng là những nước có hệ thống kết cấu hạ tầng
KTXH phát triển đồng bộ và hiện đại. Trong khi đó, hầu hết các quốc gia
đang phát triển có hệ thống KCHT KTXH kém phát triển. Thực tế ở Việt
Nam cũng vậy, khu vực nào, tỉnh nào có KCHT KTXH đồng bộ, hiện đại thì
KTXH ở khu vực đó, tỉnh đó phát triển và ngược lại. Chính vì vậy, việc đầu
tư phát triển KCHT KTXH luôn là ưu tiên của nhiều quốc gia đang phát triển,
trong đó có Việt Nam. Với quan điểm “kết cấu hạ tầng đi trước một bước”,
trong những năm qua Chính phủ đã dành một mức đầu tư cao cho phát triển
KCHT KTXH.
Thứ hai, KCHT KTXH phát triển là yếu tố cơ bản quyết định năng lực
cạnh tranh và thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển KTXH. Đây là vai trò
quan trọng có ý nghĩa quyết định mà kết cấu hạ tầng KT-XH mang lại cho
15
quá trình CNH,HĐH ở nước ta. Để khai thác triệt để tiềm năng về tài nguyên
thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn lực con người thì không còn cách nào khác,
chúng ta phải có nguồn vốn đầu tư. Muốn như vậy thì KCHT KTXH phải
được ưu tiên phát triển trước trong quá trình CNH,HĐH để tạo điều kiện thu
hút các nhà đầu tư đến với Việt Nam.
Thứ ba, KCHT KTXH phát triển góp phần làm chuyển dịch cơ cấu
động từ đó sẽ tác động tới thái độ và trách nhiệm của người lao động.
Thứ năm, KCHT KTXH phát triển sẽ góp phần tạo thêm nhiều việc làm
và thực hiện chính sách an sinh xã hội. Mục đích chung của quá trình CNH,
HĐH chính là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế và cho quá
trình xây dựng CNXH. Việc xây dựng nước ta thành thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, nhân dân có đời sống vật chất và tinh
thần cao, quốc phòng, an ninh giữ vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó chính là cuộc cách mạng
của con người, vì con người và do con người. Muốn tạo việc làm, nâng cao
đời sống nhân dân và thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH, HĐH đòi hỏi phải có
KCHT KTXH phát triển. KCHT KTXH giúp mọi người dân có điều kiện
được tiếp xúc với những thành tựu của khoa học, kỹ thuật, được trao đổi
thông tin, tiếp cận nguồn vốn nhằm phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện
đời sống nhân dân. KCHT KTXH góp phần luân chuyển vốn, máy móc, trang
thiết bị, đồng thời giúp luân chuyển hàng hoá đến thị trường tiêu thụ giữa
nông thôn và thành thị. Không chỉ phát triển về kinh tế mà KCHT KTXH còn
tạo điều kiện cho các nơi trên địa bàn trong cả nước được tiếp cận thông tin,
giáo dục, y tế, thể thao, văn hoá làm cho đời sống nhân dân ngày càng đầy đủ
và tiện nghi hơn.
Tóm lại, KCHT KTXH đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát
triển KTXH nói chung và quá trình CNH, HĐH nói riêng, tạo động lực cho sự
phát triển của nước ta. KCHT KTXH phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ thúc đẩy
17
tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế và góp phần
giải quyết các vấn đề xã hội. Ngược lại, hệ thống kết cấu hạ tầng KTXH kém
phát triển là một trở lực lớn đối với sự phát triển KTXH của Việt Nam.
1.2. Quan niệm, nội dung và nhân tố tác động đến phát triển kết
đảng bộ huyện đề ra chủ trương, nghị quyết phát triển KCHT KTXH
phù hợp. Đồng thời, bám sát tình hình trên địa bàn để điều chỉnh, bổ
sung những chủ trương mới, bảo đảm cho quá trình phát triển KCHT
KTXH trên địa bàn theo đúng định hướng chung của Đảng.
Chính quyền và các cơ quan chức năng của huyện là chủ thể quản lý, là
trung tâm hiệp đồng, phối hợp các lực lượng trong quá trình phát triển KCHT
KTXH của huyện. Từ chủ trương, nghị quyết của đảng bộ huyện, chính quyền
cụ thể hóa thành các kế hoạch, biện pháp cụ thể; xác định rõ mục đích, thời
gian, không gian phát triển, huy động các nguồn lực bên trong và bên
ngoài để thực hiện việc xây dựng, cải tạo, nâng cấp hệ thống KCHT
KTXH. Đồng thời, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong việc sử
dụng, khai thác, bảo dưỡng hệ thống KCHT bảo đảm hiệu quả, bền
vững.
Các đoàn thể và nhân dân trên địa bàn huyện Hoài Đức là chủ thể trực
tiếp thực hiện việc phát triển KCHT KTXH tại địa phương. Với sự năng
động, sáng tạo, đoàn kết dưới sự lãnh đạo, quản lý của đảng bộ và chính
quyền địa phương, nhân dân trên địa bàn trực tiếp cung cấp nhân lực, vật lực,
tài lực cho quá trình xây dựng, sửa chữa, nâng cấp hệ thống KCHT KTXH.
Đồng thời, là lực lượng tham gia quản lý, sử dụng, phát huy tối đa vai trò của
hệ thống KCHT KTXH trong các hoạt động phát triển sản xuất và phục vụ
đời sống sinh hoạt.
Quá trình phát triển KCHT KTXH của huyện Hoài Đức, thành phố Hà
Nội được thực hiện bằng nhiều cách thức, biện pháp như: đầu tư xây dựng
mới; sửa chữa; nâng cấp, cải tạo. Trong đó, có sự kết hợp chặt chẽ, thống
nhất giữa sự đầu tư của nhà nước, các tổ chức trong và ngoài nước thông
19
qua các dự án với việc huy động các nguồn lực của địa phương.
1.2.2. Nội dung phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở huyện
đó, chất lượng phát triển KCHT KTXH được biểu hiện trước hết ở kết quả
thẩm định, kiểm tra, đánh giá của các cơ quan chức năng; ở hiệu quả sử dụng
của các công trình đó trên thực tế; những tác động tích cực về mặt xã hội mà
các công trình đó đem lại cho nhân dân và toàn xã hội.
Ba là, phát triển cơ cấu KCHT KTXH
Với 10 nội dung phát triển KCHT KTXH đã bao quát mọi ngành, mọi
lĩnh vực trong đời sống KTXH cho thấy sự đa dạng, phong phú cũng như
tính phức tạp của nó trong suốt quá trình tổ chức thực hiện, khai thác sử
dụng và quản lý. Tuy nhiên, do điều kiện KTXH và đặc thù, nhiệm vụ của
từng địa phương mà nhu cầu phát triển KCHT KTXH có sự khác nhau; do
đó, để phát triển KCHT KTXH sát thực tế nhằm đem lại hiệu quả KTXH cao
cần phải quan tâm và chú ý đến cơ cấu. Nội dung của phát triển KCHT
KTXH về cơ cấu được biểu hiện ở cơ cấu phát triển của từng loại KCHT
KTXH trong mối quan hệ chung. Việc xác định thứ tự ưu tiên, số lượng và
quy mô phát triển, tỷ lệ phát triển trong mối quan hệ với các loại KCHT
KTXH khác.
Đồng thời, về mặt cơ cấu KCHT KTXH còn phải bảo được tính kết nối
giữa các hạ tầng với nhau trong phát triển KCHT KTXH ở huyện Hoài
Đức, thành phố Hà Nội và các vùng trong cả nước. Đây là quan điểm nhất
quán của Đảng, Nhà nước ta và chính quyền thành phố cũng như của
huyện Hoài Đức. Bảo đảm được tính kết nối trong phát triển KCHT KTXH
sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phát triển KTXH của huyện và giữa huyện
với các địa phương khác trong toàn thành phố và của cả nước. Lợi ích
kinh tế có được từ những kết nối này là rất lớn như việc giảm chi phí do sự
phát sinh về thời gian, quãng đường, áp lực cũng như sự thay đổi về diện
mạo của các địa phương đó và những lợi ích xã hội khác.
Tóm lại, trong phạm vi, khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ tác giả
không thể đánh giá sự phát triển KCHT KTXH lần lượt theo 10 nội dung
trên mà chỉ tập trung đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng phát triển
21
phát triển KCHT KTXH của huyện.
22
Bên cạnh đó, một số tác động tiêu cực đến quá trình phát triển
KCHT KTXH ở huyện Hoài Đức; đặc biệt là điều kiện thổ nhưỡng ảnh
hưởng đến chất lượng và tiến độ xây dựng các công trình KCHT. Hoài
Đức là một huyện ngoại thành, trên địa bàn của huyện có nhiều ao hồ, tài
nguyên phong cảnh, ruộng lúa, di tích văn hóa lịch sử, các nhân tố này rất
khó khắc phục, thậm chí phải trả với giá thành tương đối lớn mới có thể
khắc phục được. Song trên thực tế, quá trình phát triển KCHT KTXH ở
huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội cũng đã gây ra những phức tạp về
chính trị, xã hội như khiếu kiện, gây khó khăn trong công tác giải phóng
mặt bằng, làm chậm tiến độ thi công… Đồng thời, nguồn nước của huyện
hiện cũng đang bị ô nhiễm; hiện tượng ngập úng, mưa, gió cũng đang tác
động đến thời gian, tiến độ thi công, chất lượng các công trình xây dựng;
nó phá vỡ hay làm gián đoạn quá trình phát triển KCHT KTXH.
Hai là, các yếu tố lịch sử, yếu tố chính trị, xã hội, dân cư cũng tác động
ảnh hưởng đến phát triển KCHT KTXH
Hoài Đức cũng như nhiều vùng quê khác nằm trong nôi văn minh châu
thổ sông Hồng thuộc đất Văn Lang của các vua Hùng buổi đầu dựng nước,
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân huyện Hoài Đức, một
lòng, một dạ theo Đảng, theo cách mạng và trải qua nhiều biến cố, thử thách
vẫn giữ được lòng yêu nước, trách nhiệm xây dựng quê hương và được biểu
hiện bằng những hành động thực tiễn. Với một truyền thống hiếu học nên
trình độ dân trí ngày càng được nâng cao… Đảng bộ và chính quyền các cấp
của huyện Hoài Đức luôn quan tâm đến lợi ích của nhân dân; đường lối, chính
sách phát triển KTXH được xuất phát từ những lợi ích chung, phản ánh được
điểm tương đồng nên được nhân dân ủng hộ và tạo sự đồng thuận cao trong
Như trên đã trình bày, trình độ phát triển của nền kinh tế có tác động
đến phát triển KCHT KTXH mà trực tiếp nhất là nguồn vốn dành cho đầu tư,
phát triển KCHT KTXH hàng năm. Với đặc điểm của huyện Hoài Đức là một
trong những huyện có tốc độ đô thị hóa cao, được hưởng lợi nhiều từ chính
sách của Nhà nước trong việc mở rộng Thủ đô nên Hoài Đức đã nhận được
nguồn vốn lớn từ Nhà nước dành cho phát triển KCHT KTXH. Mặt khác,
phát triển KCHT KTXH luôn đòi hỏi một lượng vốn lớn; trên cơ sở nguồn
24
vốn mà tiến độ, chất lượng của công trình được đẩy nhanh và nâng cao hơn.
Tuy nhiên, tình hình kinh tế trong nước vẫn còn nhiều khó khăn nên nguồn
vốn của Nhà nước, thành phố và huyện dành cho đầu tư công bị cắt giảm. Mặt
khác, kinh tế của nhân dân cũng gặp nhiều khó khăn nên việc huy động nguồn
lực từ nhân dân cho phát triển KCHT KTXH thấp.
Năm là, cơ chế, chính sách, nhất là cơ chế quản lý và phương thức tổ
chức thực hiện phát triển KCHT KTXH
Cơ chế, chính sách tạo môi trường pháp lý, điều kiện thuận lợi cho phát
triển KCHT KTXH cũng như sự kết nối giữa chúng; trong việc huy động, sử
dụng và khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển KCHT KTXH.
Bên cạnh những tác động tích cực thì hệ thống cơ chế, chính sách liên quan
đến phát triển KCHT KTXH vẫn còn một số hạn chế đã và đang gây khó
khăn, cản trở cho phát KCHT KTXH ở huyện Hoài Đức hiện nay. Biểu hiện
cụ thể như tình trạng giải phóng mặt bằng, khiếu kiện, tiến độ thi công, chất
lượng công trình, khả năng khai thác và huy động các nguồn lực của huyện
Hoài Đức liên quan đến phát triển KCHT KTXH còn hạn chế.
Sáu là, công tác quy hoạch phát triển KCHT KTXH
Quy hoạch có tầm ảnh hưởng và tác động đến phát triển KCHT KTXH,
nhất là tính đồng bộ, khả năng kết nối nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả hệ
thống KCHT KTXH. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân yên