MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới đang phát triển mạnh mẽ, sâu sắc trên nhiều lĩnh vực. Sự phát triển ấy
tạo ra những tiền đề, những khả năng để nhân loại vững tin bước vào tương lai,
nhưng đồng thời cùng với quá trình phát triển nhân loại cũng đang gặp phải
những thách thức mới trong các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội. Trong cuộc đấu
tranh tự khẳng định để phát triển kể trên, giáo dục giữ vai trò vô cùng to lớn,
"Giáo dục có thể đóng một vai trò năng động và xây dựng". Giáo dục được các
quốc gia trên thế giới coi như chìa khoá để mở cửa tương lai. Trong báo cáo
"Học tập của cải nội sinh" của UNESCO nêu lên các nguyên tắc để xác định nội
dung của GD-ĐT, đã chỉ rõ 4 trụ cột của giáo dục: học để biết, học để làm, học
để sống chung với nhau, học để tự khẳng định mình.
Nghị Quyết TW 8, khoá XI đã khẳng định “Giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu
tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các
chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”. Cùng với khoa học và
công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, giáo dục phải đi trước một bước làm
tiền đề cho CNH, HĐH đất nước. Trong sự nghiệp đổi mới GD & ĐT, đổi
mới quản lý GD & ĐT đặt ra như một yêu cầu cấp bách hàng đầu của việc
tiếp tục triển khai, điều chỉnh và nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay,
Trong đó phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt.
Giáo dục trung học cơ sở (THCS) thành phố Thanh Hoá nói riêng và
tỉnh Thanh Hoá nói chung, trong những năm gần đây đã có những bước phát
triển cả về quy mô và chất lượng, đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường
THCS thành phố Thanh Hoá đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản về
công tác quản lý giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ở địa
phương, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài,
3
Ănghen trong quá trình nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã rút ra kết
luận, một trong những yếu tố quyết định đối với sự phát triển của nền sản xuất
tư bản là nhờ có vai trò của hoạt động quản lý.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê
Nin về vai trò của hoạt động quản lý, Người đã khẳng định: “Muốn xây dựng
chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”, cán bộ cách mạng phải
là người “vừa hồng, vừa chuyên”, đó chính là mối quan hệ giữa tài và đức
trong nhân cách người cán bộ quản lý, trong đó đức là gốc, còn năng lực của
con người không phải tự nhiên mà có mà phần lớn là do qua quá trình công
tác, rèn luyện mà nên.
Xuất phát từ quan điểm “Coi con người là động lực trực tiếp của sự
phát triển, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu”.
Ngày nay đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập mạnh mẽ và sâu rộng
trên tất cả các lĩnh vực trong đó giáo dục có vai trò quyết định đối với sự tồn
tại và phát triển của quốc gia.
Triển khai các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đối với sự phát triển giáo
dục, đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về lý luận quản lý giáo dục và công
tác phát triển đội ngũ CBQL giáo dục.
Thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất hoạt
động này trong thực tiễn. Nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: Quá
trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn
định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ thống vào
thế “phát triển”.
Các tư tưởng quản lý sơ khai xuất phát từ các tư tưởng triết học cổ Hy
Lạp và cổ Trung Hoa. Sự đóng góp của các nhà triết học cổ Hy Lạp tuy
còn ít ỏi nhưng đáng ghi nhận: Đó là các tư tưởng của Xôcrát (469-399
TCN), Platôn (427-347 TCN) và Arixtôt (384-322 TCN). Thời Trung Hoa
cổ đại đã công nhận các chức năng quản lý đó là: Kế hoạch hoá, tổ chức, tác
5
Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá
- Về không gian: Khảo sát và nghiên cứu các trường THCS trên địa bàn
thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
8
- Về thời gian: Từ năm 2013 đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở các trường THCS thành phố
Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá có đủ số lượng, đạt chuẩn về chất lượng, phù hợp về cơ
cấu là sản phẩm tổng hợp của nhiều yếu tố, nhiều hoạt động. Trong đó việc nghiên
cứu tìm ra các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL giáo dục một cách khoa học,
thiết thực có vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp quyết định đến sự thành
công của sự phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục THCS. Công tác phát
triển đội ngũ CBQL giáo dục hiện nay còn nhiều hạn chế và bất cập. Nếu các
chủ thể quản lý vận dụng linh hoạt các biện pháp quản lý như: Nâng cao trách
nhiệm của các cấp quản lý trong xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển
đội ngũ CBQL; tổ chức bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL và
các giáo viên quy hoạch dự nguồn; thực hiện hiệu quả công tác tuyến chọn,
bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển; tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt
động quản lý nhà trường của đội ngũ CBQL…thì sẽ phát triển được đội ngũ cán bộ
quản lý giáo dục ở các trường THCS, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng
giáo dục THCS ở thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin, nghiên cứu công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở các
trường THCS nằm trong mối quan hệ biện chứng các mặt, các lực lượng cùng
tham gia nhằm bảo đảm tính khách quan.
Quá trình nghiên cứu luôn quán triệt và hướng tới thực hiện tốt đường
lối, quan điểm của của Đảng Cộng sản Việt Nam về nâng cao chất lượng giáo
tích, minh hoạ cho thực trạng và rút ra kết luận cần thiết.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Bằng việc soạn thảo hệ thống các câu hỏi về tính hợp lý và khả thi của
các biện pháp quản lý gửi tới các chuyên gia (CBQL các trường THCS, lãnh
10
đạo các tổ chức đoàn thể của trường THCS, CBQL và chuyên viên làm công
tác quản lý cán bộ của Sở GD & ĐT và các nhà quản lý giáo dục, lãnh đạo
phòng GD & ĐT...) phương pháp này được sử dụng với mục đích xin ý kiến
của các chuyên gia về tính hợp lý và khả thi của các biện pháp được đề xuất.
- Phương pháp phỏng vấn
Hỗ trợ cho phương pháp điều tra viết, phương pháp lấy ý kiến chuyên
gia, đồng thời kiểm tra độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. Bằng việc trao đổi
ý kiến với đội ngũ các cán bộ, giáo viên lâu năm có kinh nghiệm, có uy tín.
- Các phương pháp hỗ trợ khác
Bằng việc sử dụng một số phương pháp toán học, một số tiện ích của
tin học. Phương pháp này được sử dụng để xử lý các số liệu.
7. Ý nghĩa của đề tài
- Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ CBQL
giáo dục ở các trường THCS. Đề xuất các biện pháp có tính khả thi để phát
triển đội ngũ CBQL giáo dục các trường THCS thành phố Thanh Hoá, tỉnh
Thanh Hoá.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo cho các cơ quan
chức năng, Sở giáo dục & đào tạo Thanh Hoá, Phòng GD & ĐT thành phố,
các trường THCS trên địa bàn thành phố Thanh Hoá trong việc chỉ đạo, quản
lý, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL giáo dục.
8. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.
hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản
xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc
tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một
nhạc trưởng” [5, tr.12]. Theo quan điểm này thì trong quá trình lao động con
12
người phải có sự phân công, hợp tác với nhau, sự tổ chức phân công lao động
đó chính là một chức năng quản lý, như vậy quản lý là một chức năng xã hội,
xuất hiện và phát triển cùng với xã hội.
- Theo Bách khoa toàn thư (Liên Xô cũ): “Quản lý là chức năng của
những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau, nó bảo toàn cấu
trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động. Quản lý bao gồm những
công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công việc
và đạt được mục đích”.
- Theo Từ điển Tiếng Việt 1998: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo
những yêu cầu nhất định”.
- Henri Fayol (người Pháp), người đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổ
điển: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.
- Theo Taylor F.W (người Mỹ), “Quản lý là biết được chính xác điều
bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công
việc một cách tốt và rẻ nhất”.
Có nhiều cách khác nhau định nghĩa về quản lý, theo nghĩa rộng thì
quản lý là hoạt động có mục đích của con người, nếu xét quản lý với tư cách
là một hành động, các tác giả Đặng Quốc Bảo định nghĩa: “Quản lý là sự tác
động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý
nhằm đạt được mục tiêu đề ra”. [27, tr.12]
Quản lý là sự cộng tác có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý
đến khách thể quản lý trong mỗi tổ chức nhằm làm cho tổ chức hoạt động và
đạt được mục tiêu đặt ra. Quản lý là sự tác động, điều khiển, chỉ huy, hướng
trong cơ quan, đơn vị. Với tầm quan trọng của người CBQL, đòi hỏi người
CBQL phải có những phẩm chất và năng lực điển hình.
* Cán bộ quản lý giáo dục trường THCS
Theo Từ điển Tiếng Việt, CBQL là: "Người làm công tác có chức vụ trong
một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ" [22, tr. 45].
14
Chúng tôi đồng tình với khái niệm trong Giáo trình “Khoa học quản
lý”: CBQL là các cá nhân thực hiện những chức năng và nhiệm vụ quản lý
nhất định của bộ máy quản lý. Mỗi CBQL nhận trách nhiệm trong bộ máy
quản lý bằng một trong hai hình thức tuyển cử và bổ nhiệm.
CBQL là chủ thể quản lý, gồm những người giữ vai trò tác động, ra
lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý. CBQL là người chỉ huy, lãnh đạo, tổ chức
thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ của tổ chức. Người quản lý vừa là người
lãnh đạo, quản lý cơ quan đó vừa chịu sự lãnh đạo, quản lý của cấp trên.
Cán bộ quản lý là những người đứng đầu của một cơ quan, tổ chức, đơn
vị được giao chức trách quản lý, tổ chức điều hành hoạt động của đơn vị. Cán
bộ quản lý giáo dục trường THCS là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt
động của trường THCS.
1.1.2. Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trường trung học cơ sở
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, đội ngũ là “khối
đông người được tổ chức và tập hợp thành lực lượng”, “tập hợp số đông
người cùng chức năng, nghề nghiệp” [22, tr.33]. Ví dụ: Đội ngũ tri thức, đội
ngũ nhà giáo, đội ngũ CBQL,…
Đội ngũ được hiểu là khối đông người được tập hợp và tổ chức thành
lực lượng, cũng có thể hiểu là tập hợp một số đông người cùng chức năng
hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng. Do đó, đội ngũ cán bộ quản lý trường
THCS bao gồm Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng; các tổ trưởng, tổ phó
chuyên môn; các cán bộ của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể.
thành tận tuỵ của người CBQL giáo dục đối với nhà trường và xã hội.
Chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục được thể hiện trước hết là chất
lượng của từng cá nhân. Đó là phẩm chất chính trị, tư tưởng đạo đức; xu
hương nghề nghiệp, năng lực quản lý… Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ CBQL
giáo dục không chỉ là sự cộng lại thuần tuý các phẩm chất cá nhân của giáo
viên mà là sự tổng hoà các phẩm chất ấy thể hiện ở những đặc trưng của một
tập thể sư phạm, khoa học tích cực, lành mạnh.
Để có một đội ngũ CBQL giáo dục đồng bộ phải một cơ cấu hợp lý,
16
bao gồm cơ cấu về độ tuổi, thâm niên công tác, trình độ đào tạo, giới tính….
Đây là một nội dung quan trọng trong xác định biện pháp phát triển đội ngũ
CBQL giáo dục THCS.
Từ những cách tiếp cận trên, chúng tôi cho rằng: “Phát triển đội ngũ
CBQL giáo dục ở các trường THCS là hệ thống những tác động có mục đích,
có kế hoạch của các chủ thể quản lý đến đội ngũ CBQL giáo dục THCS nhằm
đảm bảo cho đội ngũ này có đủ số lượng, đạt chuẩn về chất lượng, có cơ cấu
hợp lý, đáp ứng yêu cầu giáo dục của bậc THCS.
Phát triển đội ngũ CBQL giáo dục ở các trường THCS là phát triển
nguồn nhân lực quan trọng nhất của nhà trường THCS. Việc phát triển đội
ngũ CBQL giáo dục THCS nằm trong phạm trù quản lý nhân lực giáo dục của
các trường - là một khâu, một nội dung trọng yếu trong quá trình quản lý
nguồn nhân lực giáo dục.
Chủ thể tiến hành phát triển đội ngũ CBQL giáo dục ở các trường
THCS là tập thể, cá nhân theo chức trách, nhiệm vụ và phân cấp nhất định.
Trong đó, Phòng Giáo dục là chủ thể chỉ đạo, điều hành; Ban giám hiệu các
trường là chủ thể trực tiếp tiến hành các hoạt động phát triển đội ngũ CBQL
giáo dục ở trường mình.
Đối tượng phát triển đội ngũ CBQL giáo dục ở các trường THCS là
Phát triển đội ngũ CBQL giáo dục là nhằm phát triển đội ngũ đảm bảo
đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu, đạt chuẩn và trên chuẩn, chất lượng đáp
ứng nhu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục,
đáp ứng yêu cầu đặt ra của địa phương. Vì vậy, những nội dung quan trọng
cần phải thực hiện là:
* Phát triển về số lượng
Số lượng CBQL giáo dục nhìn trên sự điều hành vĩ mô phải cân đối với
số lượng đội ngũ giáo viên trong toàn tỉnh, trong mỗi nhà trường và đáp ứng
những yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục đặt ra.
18
Số lượng CBQL giáo dục nhìn trên sự điều hành vi mô (trong một nhà
trường) được tính trên số lớp của trường đó. Như vậy, phát triển về số lượng
đối với CBQL giáo dục trường THCS cần phải nhìn trên tổng thể cả trên sự
điều hành vĩ mô và điều hành vi mô, cần phải đảm bảo số lượng CBQL giáo
dục theo quy định của Nhà nước để bộ máy của nhà trường hoạt động có hiệu
quả. Tuy nhiên, Nhà nước cũng cần có quy định mở, cho phép các tỉnh căn cứ
vào đặc điểm địa lý, phân bố dân cư của các vùng sâu, vùng xa để có thể quyết
định bổ sung cho các trường có nhiều điểm trường thêm Phó hiệu trưởng.
* Nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục trường THCS
Theo khái niệm triết học, chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị
của một người, một sự vật, sự việc. Đó là hệ thống những thuộc tính cơ bản,
khẳng định sự tồn tại của một người, một sự vật và phân biệt nó với người và
sự vật khác. Đồng thời, chất lượng là mục tiêu của hoạt động, trong đó có
giáo dục; nó có yếu tố cạnh tranh trong đời sống
Theo quan điểm của các nhà giáo dục Việt Nam, chất lượng là cái tạo
nên phẩm chất giá trị một con người, với tư cách một nhân cách, một chủ thể
có trình độ phát triển về phẩm chất, năng lực. Chất lượng của mỗi CBQL giáo
dục thể hiện bởi trình độ, phẩm chất, năng lực của bản thân họ thông qua hoạt
cụ quản lý để tạo nên những nguồn lực cho giáo dục, vì thế hệ thống chính trị
và cơ quan quản lý giáo dục các cấp có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển đội
ngũ cán bộ quản lý giáo dục trường THCS.
Thực tế cho thấy, khi hệ thống chính trị, trước hết là tổ chức đảng, bộ
máy chính quyền các cấp thực sự chăm lo tới giáo dục THCS, thì sẽ có những
chủ trương, biện pháp thích hợp nhằm phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo
dục ở cấp học này; đồng thời huy động sức mạnh của hệ thống chính trị vào
lãnh đạo, chỉ đạo và giám sát việc đào tạo, tuyển chọn, bố trí sử dụng đội ngũ
cán bộ quản lý giáo dục trường THCS. Để tăng cường sự quan tâm của hệ
thống chính trị đối với sự nghiệp giáo dục nói chung, phát triển đội ngũ cán
bộ quản lý giáo dục trường THCS nói riêng, thì cần thống nhất nhận thức,
nâng cao trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, của người đứng đầu tổ chức chính
20
quyền các cấp đối với phát triển đội ngũ này. Thành công hay hạn chế trong
giải quyết vấn đề nhận thức trách nhiệm của chủ thể có trách nhiệm trong hệ
thống chính trị xét cho cùng cũng là nguyên nhân của thực trạng phát triển đội
ngũ cán bộ quản lý giáo dục trường THCS hiện nay.
Chủ thể quản lý trực tiếp quá trình phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo
dục trường THCS, chính là các cơ quan quản lý giáo dục; do đó sự quan tâm
của các cơ quan này đến chất lượng giáo dục THCS có mối quan hệ biện chứng
với phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trường THCS. Điều đó thể hiện
ở chỗ, để đáp úng đòi hỏi nâng cao chất lượng giáo dục trường THCS, các cơ
quan giáo dục phải quan tâm phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục theo
hướng bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng theo chuẩn Hiệu trưởng và
điều chỉnh cơ cấu hợp lý. Đồng thời tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ quản lý
giáo dục rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực qua hoạt động thực tiễn. Do
đó để tác động có hiệu quả tới phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
trường THCS, không thể xem nhẹ việc nâng cao trách nhiệm và trình độ
trường THCS trong tình hình hiện nay.
* Tinh thần tích cực, chủ động tự học tập, rèn luyện của đội ngũ cán
bộ quản lý giáo dục trường trung học cơ sở
Cán bộ quản lý giáo dục trường THCS là đối tượng phát triển, nhưng
chính họ lại là chủ thể của sự phát triển theo quy định của chuẩn Hiệu
trưởng; vì vậy kết quả phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trường
THCS tuỳ thuộc không nhỏ vào tinh thần tích cực, chủ động tự học tập, rèn
luyện của chính đội ngũ cán bộ này.
Sự nỗ lực của từng cán bộ quản lý giáo dục trường THCS trong tự học
tập, tự rèn luyện bắt nguồn từ sự tự đánh giá mình theo chuẩn một cách chính
xác, trên cơ sở đó xác định động cơ phấn đấu vươn lên trong công tác để đạt
và vượt chuẩn. Động lực thúc đẩy bên trong đó phải được hiện thực hoá thành
mục tiêu, kế hoạch phấn đấu rèn luyện về phẩm chất, năng lực của mỗi cán
bộ. Nếu cấp uỷ các trường THCS và cơ quan quản lý giáo dục có biện pháp
thích hợp nhằm nắm và điều chỉnh mục tiêu, kế hoạch tự học tập, tự bồi
22
dưỡng của từng cán bộ, thì quá trình phát triển của cả đội ngũ sẽ được quản lý
chặt chẽ và đạt được hiệu quả cao. Ngược lại, không chăm lo nâng cao tính
tích cực, chủ động của từng cán bộ thuộc quyền trong tự học tập, tự sửa chữa,
khắc phục những hạn chế, thiếu sót so với chức năng, nhiệm vụ thì cấp uỷ các
trường THCS và cơ quan quản lý giáo dục không thể hoàn thành mục tiêu, kế
hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trường THCS.
Vai trò nỗ lực tích cực vươn lên của từng cá nhân cán bộ trong phát
triển đội ngũ là rất lớn; do đó khi phân tích nguyên nhân của thành công hay
hạn chế trong phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trường THCS phải
xem xét sự tận tâm, cố gắng vươn lên, tính nghiêm khắc, tự đòi hỏi cao trong
tự đánh giá, tự phê bình, nội dung và phương pháp rèn luyện, tu dưỡng các
phẩm chất, năng lực của mỗi cán bộ; đây cũng chính là một hướng tiếp cận
*
*
Để làm rõ cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ CBQL giáo dục ở các
trường THCS thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá, Luận văn đã phân tích
một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài như: Khái niệm về quản lý,
khái niệm về quản lý giáo dục, quản lý trường học, khái niệm về đội ngũ,
trong đó làm rõ khái niệm phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
trường THCS, đó chính là quá trình quy hoạch, xây dựng, bồi dưỡng đội
ngũ cán bộ quản lý giáo dục của cấp uỷ, cơ quan chức năng và người lãnh
đạo, cán bộ giáo viên trường THCS, làm cho đội ngũ này tăng tiến cả số
lượng lẫn chất lượng và có cơ cấu hợp lý, để họ thực hiện có chất lượng
hoạt động quản lý giáo dục trường THCS, đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới giáo
dục trong các nhà trường hiện nay. Đồng thời chỉ rõ nội dung và các nhân
tố tác động đến sự phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trường
THCS, làm cơ sở cho việc khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ CBQL giáo
dục ở các trường THCS thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá trong chương
2 của đề tài.
24
Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, và giáo dục
của thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá
2.1.1. Điều kiện kinh tế- xã hội của thành phố Thanh Hoá
Thành phố Thanh Hoá có địa giới: Phía tây và tây bắc giáp hai huyện
ngành Trung ương và tỉnh Thanh Hoá, thành phố Thanh Hoá đã triển khai
thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIX thắng lợi toàn diện các
mục tiêu đề ra. Ngày 29/4/2014, thành phố Thanh Hoá trở thành đô thị loại I,
theo nghị quyết của Chính phủ. Đây là bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử đối với
Đảng bộ, chính quyền và các tầng lớp nhân dân thành phố Thanh Hoá, tạo khí
thế và động lực để cho thành phố Thanh Hoá phát triển đi lên nhanh chóng và
bền vững.
Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khoá
XIX tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XX, nhiệm kỳ 20152020) nêu rõ: “Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2011-2015 ước
đạt 17,8%, cao gấp hơn 1,5 lần tốc độ tăng trưởng bình quân của tỉnh. Năm
2015, GRDP theo giá thực tế ước đạt 32.579 tỷ đồng, chiếm 28% GRDP của
toàn tỉnh. GRDP bình quân đầu người đến năm 2015 ước đạt 6.350 USD,
vượt chỉ tiêu đề ra (4.500 USD), tăng bình quân 23,2%, gấp 2,8 lần so với
năm 2010. Tổng huy động vốn đầu tư phát triển 5 năm ước đạt 58.291 tỷ
đồng. Đối với 37 phường, xã, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn
2011-2015 ước đạt 15,5%, chiếm 37,3% GRDP toàn tỉnh. Tổng vốn đầu tư
phát triển năm 2015 ước đạt 17.000 tỷ đồng, cao gấp 2,5 lần so với năm 2010,
tốc độ tăng bình quân thời kỳ đạt 20,6%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình
quân giai đoạn 2011-2015 theo GRDP ước đạt 13,5%, GRDP bình quân đầu
26
người năm 2015 ước đạt 5.200 USD (giảm 400 USD so với phương pháp cũ).
Tổng thu ngân sách giai đoạn 2011-2015 ước đạt 11.164,7 tỷ đồng; thu ngân
sách trên địa bàn năm sau cao hơn năm trước.
Hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị từng bước được đầu tư xây dựng, nâng
cấp, gắn với đẩy mạnh đô thị hoá, tỷ lệ đô thị hoá đạt 100% (18 phường, xã
cũ), 72% (37 phường, xã). Kết cấu hạ tầng đô thị đang được đầu tư theo
hướng đồng bộ, hiện đại; hoàn thành cơ bản xây dựng mới và cải tạo nâng cấp
hệ thống giao thông, điện chiếu sáng của 8 xã lên phường; chỉnh trang một số