DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ
Viết tắt
Cán bộ quản lý
CBQL
Đội ngũ giáo viên
ĐNGV
Giáo dục và Đào tạo
GD&ĐT
Nhà xuất bản
Nxb
Sách giáo khoa
SGK
Uỷ ban nhân dân
UBND
CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI
NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN HÀ
ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO CHUẨN
33
2.1.
NGHỀ NGHIỆP
Khái quát chung về tình hình kinh tế - xã hội và giáo
33
2.2.
dục của quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Thực trạng đội ngũ giáo viên và phát triển đội ngũ giáo
viên tiểu học quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo
Chương 3
chuẩn nghề nghiệp
YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI
38
NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN HÀ
ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO CHUẨN
58
tố quyết định trực tiếp chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh. Về vấn đề
này, Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ rõ: “Mục tiêu
là xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục theo hướng chuẩn hoá, nâng
cao chất lượng, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú
trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm
nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng
cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước”[1, tr.4].
Gần đây, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá XI về "Đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá - hiện
đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế" đã xác định: phát triển ĐNGV và CBQL giáo dục là khâu đột
phá để thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và nâng
cao chất lượng giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Muốn vậy, phải thường xuyên quan
tâm "Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và
CBQL giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh,
quốc phòng và hội nhập quốc tế"[20, tr.136]. Đây được coi là nhiệm vụ trọng
tâm của tổ chức Đảng và chính quyền các cấp, trong đó ngành giáo dục giữ
vai trò trung tâm trong việc tham mưu và tổ chức thực hiện.
Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục, đội ngũ
nhà giáo và CBQL giáo dục còn có những bất cập, hạn chế: “Số lượng giáo
viên còn thiếu nhiều, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số... Cơ cấu giáo viên đang mất cân đối giữa các môn học, bậc học, vùng
4
miền. Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa
đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội,...”[1, tr.4].
Là một trong những quận nội thành của thành phố Hà Nội; những năm
đây không chỉ là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý mà đã có nhiều khoa
học, nhà giáo nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý ĐNGV
cả ở phạm vi vĩ mô và vi mô dưới góc độ quản lý giáo dục theo ngành, bậc
học. Tiêu biểu như nghiên cứu của các tác giả Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm,
Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Văn
Lê, Nguyễn Đức Trí, Phạm Viết Vượng,...
Nhóm tác giả Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo khẳng
định, ĐNGV có vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của sự nghiệp giáo
dục. Vì vậy, xây dựng ĐNGV và CBQL giáo dục vừa mang tính chiến lược,
vừa là yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo của đất
nước hiện nay. Những vấn đề xây dựng, phát triển ĐNGV và CBQL giáo dục
được các tác giả xem xét như là nguồn nhân lực quan trọng nhất trong quản lý
giáo dục.
Nhiều công trình khoa học đi sâu nghiên cứu quản lý, phát triển ĐNGV
theo bậc học, ngành học, từng vùng miền khác nhau và trong từng nhà trường
cụ thể khác nhau, như:
Với đặc thù của một địa bàn huyện miền núi, tác giả Hoàng Văn
Chương nghiên cứu "Quản lý phát triển ĐNGV trung học phổ thông huyện
Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay", Luận văn thạc sĩ Quản lý
giáo dục - 2007.
Cùng hướng nghiên cứu về phát triển ĐNGV trung học phổ thông, tác
giả Nguyễn Tiến Dũng nghiên cứu "Biện pháp phát triển ĐNGV các trường
trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi
mới giáo dục hiện nay", luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục - 2008 và tác giả
Hà Thị Quyến nghiên cứu "Biện pháp quản lý phát triển ĐNGV trường trung
6
học phổ thông Cát Bà, trong giai đoạn hiện nay", luận văn thạc sĩ Quản lý
giáo dục - 2009.
giáo dục (2013). Đây là đề tài nghiên cứu phát triển ĐNGV có tính chất đặc
thù tại một địa phương thuộc Đồng bằng sông Cửu Long.
Nghiên cứu phát triển ĐNGV các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao
đẳng, đại học được nhiều tác giả quan tâm chọn làm nội dung nghiên cứu của
luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, như: tác giả Nguyễn Xuân Hường nghiên
cứu "Một số giải pháp quản lý phát triển ĐNGV trường Trung học Phòng
không" (2002); tác giả Lê Duy Sinh nghiên cứu "Thực trạng và biện pháp
quản lý ĐNGV ở trường Trung cấp Kỹ thuật Hải quân" (2011); tác giả
Trương Quang Tùng, nghiên cứu giải pháp "Quản lý phát triển ĐNGV trường
Trung cấp Kỹ thuật Hải quân hiện nay" (2011); tác giả Vũ Văn Nghi nghiên
cứu về "Phát triển ĐNGV chuyên môn kỹ thuật trường Trung cấp Kỹ thuật
Xe-Máy, Tổng cục Kỹ thuật", (2012). Trên đây là những công trình nghiên
cứu phát triển ĐNGV, giảng viên có tính chất đặc thù, với đặc điểm nhân
cách của nhà giáo và nhân cách người quân nhân cách mạng.
Trên địa bàn thành phố Hà Nội, đã có một số công trình khoa học
nghiên cứu về phát triển ĐNGV ở các bậc học khác nhau, tiêu biểu như luận
văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của các tác giả: Nguyễn Thị Hằng nghiên cứu
"Phát triển ĐNGV trường trung học phổ thông Mê Linh, Thành phố Hà Nội"
(2007); tác giả Phạm Thu Hà nghiên cứu "Quản lý phát triển ĐNGV các
trường trung học phổ thông quận Hai Bà Trưng, Hà Nội trong bối cảnh hiện
nay" (2007); tác giả Lê Văn Huấn đã nghiên cứu "Các biện pháp quản lý
ĐNGV trung học cơ sở thành phố Hà Đông nhằm tăng cường chất lượng dạy
học trong giai đoạn hiện nay" (2008).
Tóm lại, phát triển ĐNGV có tầm quan trọng đặc biệt, nhân tố chủ đạo
để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và của mỗi nhà trường nói riêng;
8
đây là vấn đề được quan tâm nghiên cứu nhằm phát triển ĐNGV, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường và hệ thống giáo dục quốc dân.
Quản lý ĐNGV tiểu học quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
* Đối tượng nghiên cứu:
Phát triển ĐNGV tiểu học quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo
chuẩn nghề nghiệp.
* Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu những biện pháp phát triển ĐNGV tiểu học
các trường công lập quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo chuẩn nghề
nghiệp đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay.
Các số liệu sử dụng để nghiên cứu từ năm 2010 đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Chất lượng giáo dục của một nhà trường phụ thuộc một phần quan
trọng vào sự phát triển của ĐNGV. Đối với giáo dục tiểu học ở quận Hà
Đông, nếu trú trọng xây dựng quy hoạch phát triển ĐNGV phù hợp với sự
phát triển giáo dục tiểu học của Quận; thực hiện tốt khâu tuyển chọn, sắp xếp
cơ cấu ĐNGV phù hợp; đồng thời, thường xuyên đổi mới công tác đào tạo,
bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt cho ĐNGV theo chuẩn nghề nghiệp; kết
hợp với tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả phát triển và thực hiện tốt các
chế độ chính sách, tạo động lực phát triển thì ĐNGV tiểu học của Quận sẽ
từng bước phát triển vững chắc; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện của Quận và của Thành phố.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và quản lý
giáo dục, trực tiếp là những quan điểm, tư tưởng về phát triển ĐNGV.
10
Quá trình nghiên cứu sử dụng các quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu
liệu, cụ thể hoá bằng các sơ đồ, bảng biểu.
7. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần hệ thống hoá và phát triển cơ sở lý luận về phát
triển ĐNGV.
Cung cấp những luận cứ khoa học để nhà quản lý các cấp có thể vận
dụng phát triển ĐNGV trên địa bàn Quận đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao
chất lượng giáo dục, đào tạo của Quận trong tình hình mới.
8. Cấu trúc của luận văn
Luận văn có kết cấu bao gồm: Phần mở đầu; 3 chương (8 tiết); kết luận
và kiến nghị; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
12
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP
1.1. Các khái niệm công cụ của luận văn
1.1.1. Khái niệm đội ngũ giáo viên tiểu học
Theo quan niệm chung nhất hiện nay, "Giáo viên là người dạy học ở
bậc phổ thông hoặc tương đương"[46, tr.395].
Cụ thể hoá quan niệm này, Điều 70, Luật Giáo dục 2005 sửa đổi bổ
sung năm 2009 chỉ rõ:
"1. Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà
trường, cơ sở giáo dục khác.
2. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt:
b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
c) Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp:
d) Lý lịch bản thân rõ ràng.
3. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông,
Hồ Chí Minh, gia đình học sinh và các tổ chức xã hội liên quan để tổ chức
hoạt động giáo dục.
1.1.2. Khái niệm phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học quận Hà Đông
theo chuẩn nghề nghiệp
Nếu coi Chuẩn là: Điều được quy định dùng làm cơ sở để phân loại
đánh giá thì Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học được hiểu, đó là "hệ thống
15
các yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức; kỹ
năng sư phạm mà giáo viên tiểu học cần phải đạt được nhằm đáp ứng mục
tiêu của giáo dục tiểu học" [6, tr.3].
Như vậy, Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học được hiểu rộng hơn, đó
là cơ sở để xây dựng, đổi mới nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng giáo
viên tiểu học ở các cơ sở đào tạo giáo viên; giúp giáo viên tự đánh giá năng
lực nghề nghiệp của bản thân, từ đó xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện
phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp
vụ. Đồng thời, là cơ sở để đánh giá giáo viên tiểu học hằng năm và để đề xuất
chế độ, chính sách đối với giáo viên tiểu học.
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học không tồn tại bất biến, luôn được
điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và mục tiêu của giáo dục tiểu
học ở từng giai đoạn. Trong quản lý giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng để phát triển
ĐNGV là đòi hỏi khách quan; đồng thời, là việc làm thường xuyên, được thực
hiện bằng nhiều cách thức, biện pháp khác nhau.
Dưới góc độ nghiên cứu của Triết học, phát triển là sự biến đổi nói
chung của sự vật, hiện tượng trong không gian và thời gian, theo chiều hướng
từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản
đến phức tạp.
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi
từ từ đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [46,
giáo viên giáo viên tiểu học theo quy định của Nhà nước.
Chủ thể phát triển ĐNGV tiểu học quận Hà Đông là tổ chức đảng các cấp;
các cơ quan chức năng liên quan; hiệu trưởng các trường tiểu học và ĐNGV các
nhà trường vừa là khách thể, vừa là chủ thể phát triển bản thân về mọi mặt.
Phát triển ĐNGV tiểu học quận Hà Đông có sự tham gia của nhiều chủ
thể, mỗi chủ thể có vai trò, trách nhiệm riêng. Trong đó, Sở GD&ĐT, Sở Nội
17
vụ; Quận uỷ, UBND Quận và các cơ quan chức năng liên quan là chủ thể gián
tiếp. Tổ chức đảng, Ban Giám hiệu các nhà trường là chủ thể giữ vai trò chủ
yếu và trực tiếp phát triển ĐNGV. Các chủ thể đều hướng tới thực hiện mục
tiêu chung là phát triển về số lượng, chất lượng và cơ cấu ĐNGV tiểu học đáp
ứng mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục - đào tạo bậc tiểu học của các nhà trường.
Đối tượng phát triển là ĐNGV các trường tiểu học trên địa bàn Quận
gắn với phẩm chất, năng lực và cơ cấu phù hợp với sự phát triển giáo dục tiểu
học trên địa bàn Quận.
Nội dung phát triển ĐNGV tiểu học quận Hà Đông theo chuẩn nghề
nghiệp bao gồm phát triển về số lượng, chất lượng và bố trí, sắp xếp về cơ cấu.
Trong đó, phát triển về số lượng là biểu thị về mặt định lượng của đội ngũ,
phản ánh quy mô lớn, nhỏ, nhiều, ít. Căn cứ vào yêu cầu và sự phát triển của
nhiệm vụ giáo dục tiểu học trên địa bản Quận để phát triển đủ về số lượng.
Bên cạnh đó, phát triển về chất lượng ĐNGV là nội dung chủ yếu,
trọng tâm. Việc phát triển chất lượng ĐNGV tiểu học phải dựa trên các tiêu
chí của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học đã ban hành, đó là căn cứ pháp
lý và khoa học để tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng
yêu cầu các tiêu chí, tiêu chuẩn đã xác định. Cùng với phát triển về số lượng,
chất lượng, phát triển ĐNGV tiểu học quận Hà Đông còn phải quan tâm phát
triển về cơ cấu, nhất là cơ cấu độ tuổi, cơ cấu giáo viên dạy các môn văn hoá
với các môn chuyên biệt khác.
Nội dung của quy hoạch phát triển ĐNGV bao gồm: Đánh giá thực
trạng ĐNGV; dự báo quy mô phát triển giáo viên: về số lượng, cơ cấu, chất
lượng; xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, chất lượng
ĐNGV; xây dựng các biện pháp thực hiện quy hoạch phát triển ĐNGV.
19
Quy hoạch phát triển ĐNGV tiểu học từng môn học phải đảm bảo được
yêu cầu về chuyên môn; vừa phải đảm bảo yêu cầu về năng lực sư phạm,
khuyến khích những giáo viên thật sự tâm huyết, trách nhiệm với nghề, cống
hiến tài năng cho sự nghiệp giáo dục, đồng thời có cơ sở để thay thế những
giáo viên, CBQL không đủ phẩm chất, năng lực công tác. Trên cơ sở đó xây
dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đạt chuẩn chất lượng đội ngũ nhà giáo và
giáo viên chuyên ngành.
Trong quy hoạch phát triển ĐNGV tiểu học phải tổ chức điều tra, đánh
giá đúng thực trạng ĐNGV từng chuyên ngành về tình hình tư tưởng, đạo
đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy...
Hàng năm phải rà soát, bố trí, sắp xếp lại những giáo viên không đáp
ứng yêu cầu của nhà trường bằng các giải pháp như: luân chuyển, đào tạo lại,
bồi dưỡng nâng cao trình độ... Có kế hoạch chuẩn bị ĐNGV theo quy định
của Điều lệ trường Tiểu học và Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học.
Việc xây dựng quy hoạch phát triển ĐNGV phải xuất phát từ nhiệm vụ
phát triển giáo dục tiểu học của Quận, của từng trường; trên cơ sở phân tích
đánh giá ĐNGV hiện có, dự kiến khả năng phát triển quy mô của đội ngũ
trong tương lai; xem xét khả năng phát triển của ĐNGV hiện tại và tính đến
khả năng bổ sung từ nguồn bên ngoài để xây dựng kế hoạch tổng thể; xây
dựng kế hoạch chi tiết cho từng giai đoạn cụ thể. Quy hoạch ĐNGV cần làm
rõ số lượng, chất lượng về trình độ chuyên môn - nghiệp vụ sư phạm, cơ cấu
của từng trường cụ thể và tính đến quy hoạch chung cho các trường trong
Quận làm cơ sở cho việc quản lý, tổ chức, chỉ đạo trong từng giai đoạn phát
dục từng lớp, từng độ tuổi học sinh tiểu học.
21
Về độ tuổi: Đảm bảo sự cân đối giữa các thế hệ trong nhà trường, tránh
tình trạng “lão hoá” trong ĐNGV, tránh sự hẫng hụt về ĐNGV trẻ kế cận, cần
có thời gian nhất định để thực hiện chuyển giao giữa các thế hệ giáo viên.
Về giới tính: Đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa giáo viên nam và giáo viên
nữ trong từng tổ, nhóm bộ môn của nhà trường.
Bảo đảm sự phát triển về chất lượng ĐNGV tiểu học của Quận
Phát triển chất lượng ĐNGV bao gồm phẩm chất chính trị; phẩm chất
đạo đức, lối sống; phẩm chất nghề nghiệp sư phạm của giá viên tiểu học.
Về trình độ chuyên môn, trước hết là trình độ được đào tạo về chuyên
môn, nghiệp vụ và sự phát triển về kiến thức, tư duy sư phạm phù hợp với đối
tượng học sinh tiểu học.
Về năng lực nghề nghiệp, đặc biệt là năng lực sư phạm được thể hiện ở
chỗ phát triển năng lực dạy học, giáo dục học sinh; phát triển phương pháp
dạy học hiện đại để học sinh phát huy tư duy độc lập và khả năng sáng tạo của
mình trong học tập và tìm kiếm tri thức khoa học; kỹ năng, kinh nghiệm sống.
Tuyển chọn bao gồm hai bước: tuyển mộ và lựa chọn, trong đó tuyển mộ
là một tiến trình thu hút những người có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau
đến đăng kí, nộp đơn xin việc làm, sau đó tập hợp danh sách lại xem xét trong
số đó ai là người hội tụ đủ các tiêu chuẩn theo yêu cầu rồi quyết định tuyển.
Lựa chọn giáo viên là quá trình xem xét những người có đủ tiêu chuẩn
làm giáo viên theo qui định của ngành, của cấp học, của các nhà trường. Căn
cứ vào Luật Giáo dục, Pháp lệnh công chức và nhu cầu sử dụng của nhà
trường để đưa ra các tiêu chuẩn lựa chọn giáo viên.
Việc tuyển chọn ĐNGV được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu hồ sơ cá nhân, chú ý tới nguồn đào tạo thành tích
giảng dạy, công tác, học tập. Qua nghiên cứu hồ sơ và qua tiếp xúc có thể
23
Gắn chặt nghĩa vụ và quyền lợi của giáo viên, đảm bảo công bằng
về đãi ngộ;
Đảm bảo tính kế thừa để có sự ổn định trong một thời gian nhất định
tránh sự xáo trộn quá lớn có thể gây trì trệ công việc ở một số bộ phận;
Thực hiện thanh tra, kiểm tra thường xuyên để điều chỉnh việc bố trí
nếu cần và để đánh giá trình độ năng lực của đội ngũ.
1.2.3. Đào tạo, bồi dưỡng phát triển chất lượng đội ngũ giáo viên
Đào tạo ĐNGV là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm
hình thành hệ thống kiến thức, nguồn lực sư phạm, thái độ nghề nghiệp theo
những yêu cầu về Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên tiểu học phù hợp với yêu
cầu của Ngành và của nhà trường tiểu học.
Theo UNESCO, bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến
thức hoặc kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu
lao động nghề nghiệp.
Xã hội luôn vận động và biến đổi không ngừng, Chuẩn nghề nghiệp có
sự phát triển; do vậy nhà trường cũng không ngừng thay đổi để phù hợp với
xu thế phát triển chung của xã hội. Việc đào tạo, bồi dưỡng cho ĐNGV của
các trường phải được diễn ra thường xuyên, liên tục và phải có kế hoạch dài
hạn, nếu không sẽ bị tụt hậu và bị đào thải.
Việc đào tạo, bồi dưỡng có thể được thực hiện bằng nhiều phương thức
khác nhau nhằm tạo điều kiện tốt nhất để giáo viên có sự phát triển về chất
lượng cao đáp ứng với yêu cầu giảng dạy, giáo dục học sinh. Việc bồi dưỡng
nhằm mục tiêu đạt chuẩn theo quy định của bậc học, ngành học và để nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Bên cạnh việc đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng tri thức, văn hoá, chuyên
môn, nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên, hiệu trưởng cùng với CBQL nhà
25
ĐNGV được hưởng đầy đủ các đãi ngộ của nhà nước đối với cán bộ, công
chức nói chung như: Chính sách về tiền lương, chế độ nghỉ lễ, phép, ốm đau, thai
sản, được học tập, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ…
Luật Giáo dục (2005) đã chỉ rõ: Nhà nước có chính sách bồi dưỡng nhà
giáo về chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ và chuẩn hoá nhà giáo.
Nhà giáo được cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
được hưởng lương và phụ cấp ưu đãi theo nghề và các phụ cấp khác theo quy
định của Chính phủ.
Trong phát triển ĐNGV, Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung
ương Đảng cũng chỉ rõ: cần rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định, chính
sách, chế độ và bổ nhiệm, sử dụng, đãi ngộ, kiểm tra, đánh giá đối với nhà
giáo, CBQL giáo dục cũng như các điều kiện bảo đảm việc thực hiện các
chính sách, chế độ đó, nhằm tạo động lực thu hút, động viên đội ngũ nhà giáo,
CBQL giáo dục toàn tâm, toàn ý phục vụ sự nghiệp giáo dục. Có chế độ phụ
cấp ưu đãi thích hợp cho nhà giáo, CBQL giáo dục. Kết hợp chặt chẽ giữa
giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nhất là ở bậc đại học, tạo cơ sở pháp lý để
nhà giáo có quyền và trách nhiệm tham gia nghiên cứu khoa học.
Việc thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách đối với giáo viên theo các
văn bản Nhà nước đã ban hành vừa đảm bảo cho giáo viên được hưởng những
quyền lợi chính đáng, đồng thời vừa giáo dục họ thấy rõ bổn phận và trách
nhiệm trước nhiệm vụ của mình trước tập thể nhà trường và toàn xã hội. Mỗi
một nhà trường đều có quy định, chuẩn riêng để duy trì nề nếp, trật tự, kỷ
cương của trường mình. Người làm tốt thì được khen thưởng, người vi phạm
sẽ bị kỷ luật. Việc khen thưởng và kỷ luật chính xác sẽ tạo nên sự công bằng
trong tập thể và sẽ đạt được hiệu quả giáo dục cao. Khen thưởng kịp thời sẽ
có tác dụng động viên mọi thành viên trong tập thể phấn đấu. Kỷ luật nghiêm
minh sẽ tạo nên nề nếp kỷ cương cho tập thể.