MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG
KINH TẾ-XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN
MỚI Ở HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
1.1. Một số vấn đề chung về nông thôn, xây dựng nông thôn mới
và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
1.2. Quan niệm, nội dung và các nhân tố tác động đến phát
triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong xây dựng nông
thôn mới ở huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng
1.3. Kinh nghiệm phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội ở
nông thôn trong xây dựng nông thôn mới của một số địa
phương trong nước và bài học rút ra cho huyện Kiến Thuỵ
3
12
12
19
36
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH
TẾ-XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở
HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
63
63
72
93
95
102
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp. Nông dân nước ta hiện nay vẫn
chiếm hơn 70% dân số và trên 50% lực lượng lao động xã hội. Cơ cấu kinh tế
nước ta trong những năm gần đây: nông lâm ngư nghiệp chiếm khoảng 20%
GDP của cả nước. Nói đến nông nghiệp nước ta là nói đến 3 vấn đề gắn kết
hữu cơ khăng khít với nhau: nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong đó
nông thôn là yếu tố vô cùng quan trọng, nơi phát triển nền sản xuất nông
nghiệp và sinh sống của dân cư nông thôn. Nông thôn Việt Nam nói chung,
nông thôn huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng nói riêng có vai trò rất
quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) của đất nước, có tác dụng
to lớn trong giải quyết đời sống, công ăn việc làm..., nhất là trong giai đoạn
suy thoái kinh tế trên thế giới, trong khu vực cũng như ở nước ta.
Nông dân nước ta đã gắn bó hàng nghìn đời nay đối với nông thôn, đó
là làng xóm, thôn bản, nơi họ sinh sống và lao động chủ yếu bằng nghề nông,
song vấn đề xây dựng nông thôn mới (NTM) được chính thức đặt ra từ năm
2008, sau khi có Nghị quyết số 26-NQ/TW của Trung ương Đảng. Xây dựng
NTM là một nhiệm vụ chiến lược trong quá trình CNH-HĐH đất nước. Phát
triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội (KT-XH) trong xây dựng NTM của cả
triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở huyện
Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng” là thiết thực góp phần thực hiện chủ
trương chiến lược chung của Đảng, Nhà nước, thành phố Hải phòng và huyện
Kiến Thuỵ về xây dựng NTM trong giai đoạn đổi mới hiện nay .
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Từ thập niên 70 thế kỷ XX, nhiều quốc gia trên thế giới đã có chiến
lược phát triển nông nghiệp với mục tiêu là phát triển theo hướng nhanh và
bền vững nền nông nghiệp quốc gia, bảo đảm an ninh lương thực và chú trọng
nâng cao đời sống cho nông dân. Các công trình, tài liệu về lĩnh vực này của
nước ngoài hiện nay cũng tương đối nhiều. Một số công trình tiêu biểu có
những nội dung cần thiết để tác giả tham khảo như:
4
Cuốn sách: "Vai trò của Nhà nước trong phát triển nông nghiệp ở Thái
Lan" của GS, TS Nguyễn Thế Nhã và TS Hoàng Văn Hoan do NXb Nông
nghiệp, 1995 phát hành. Tác giả đã đi sâu phân tích quá trình hoạch định và
chỉ đạo thực hiện chính sách nông nghiệp của Thái Lan từng thời kỳ. Trong
đó, một số nội dung được đề cập giúp cho tác giả luận văn tham khảo như:
Chính sách phát triển hợp tác của các hợp tác xã nông nghiệp; chính sách xuất
khẩu nông sản; chính sách tín dụng và các chính sách liên quan đến nông
nghiệp, nông thôn, nông dân với nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Cuốn sách: "Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các
nước và Việt Nam" của tác giả Bendrict.JtriaKerrkvliet, Jamesscott do
Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu, Nxb Hà Nội phát hành
năm 2000. Các tác giả cuốn sách đã nghiên cứu về vai trò, đặc điểm của nông
dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thế giới và kết quả bước đầu
trong nghiên cứu làng truyền thống Việt Nam. Đặc biệt, nội dung cuốn sách
đề cập đến một số vấn đề mà đề tài cần tham khảo là: Mối quan hệ của người
nông dân với khoa học, hệ tư tưởng của nông dân ở các nước đang phát triển
thôn của các nước cho thấy: Các quốc gia đặc biệt chú trọng tới tính hiệu quả
trong phát triển kinh tế nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm; chú trọng nâng
cao vai trò và bồi dưỡng kiến thức cho người nông dân, hướng họ tới nền kinh
tế hàng hóa và hiện đại hóa kinh tế nông nghiệp.
Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề mà các công trình nghiên cứu của các nhà
khoa học nước ngoài và trong khu vực chưa tập trung phân tích làm rõ như:
Vấn đề giảm tỷ lệ hộ nghèo trong khu vực dân cư nông thôn một cách bền
vững trong điều kiện những áp lực tới môi trường phát triển nông nghiệp
ngày càng lớn và khắc nghiệt; Các vấn đề về chính sách xã hội cho khu vực
nông thôn, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa đô thị và nông thôn cũng
chưa được đề cập một cách thấu đáo; Chưa làm rõ mối quan hệ và vai trò của
nhà nước với vai trò của nông dân và doanh nghiệp đối với phát triển nông
nghiệp và nông thôn; giải pháp tuyên truyền vận động nông dân tham gia góp
vốn xây dựng NTM phù hợp với đặc thù của từng quốc gia, địa phương...
6
Một số công trình dưới dạng sách trong nước có thể tham khảo như:
Cuốn sách: "Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ mới" của PGS,
TS Nguyễn Sinh Cúc, NXb Thống kê, Hà Nội, 2003. Nội dung cốt lõi của
công trình đã luận giả và đúc kết những vấn đề, thành tựu cơ bản của nông
nghiệp Việt Nam sau 20 năm đổi mới; cung cấp cho người đọc hệ thống tư
liệu về phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta; luận giải rõ những thành
tựu và phát hiện những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong những năm tiếp theo
của nông nghiệp nước ta như vấn đề đầu tư; phân hoá giàu nghèo; nâng cao
chất lượng sản phẩm hàng hoá nông nghiệp trong kinh tế thị trường hiện nay;
đề xuất những giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá nông
nghiệptrong điều kiện mới.
Cuốn sách: "Huy động vốn trong nước phát triển nông nghiệp vùng
đồng bằng Sông Hồng" của tác giả Phạm Thị Khanh, NXb CTQG, Hà Nội,
NTM theo nhóm của 8 tiêu chí hạ tầng KT-XH/19 tiêu chí xây dựng NTM trên
địa bàn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
Đề xuất một số quan điểm và giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng KTXH trong xây dựng NTM ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu phát triển kết cấu hạ tầng KT-XH trong xây dựng
NTM.
* Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian
Đề tài nghiên cứu từ năm 2010 đến nay và có đề cập một số nội dung
liên quan trong thời gian trước 2010.
Về không gian
Trên địa bàn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước về
vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
10
* Cơ sở thực tiễn
Luận văn dựa vào các báo cáo sơ kết, tổng kết của UBND huyện Kiến
Thụy, thành phố Hải Phòng về xây dựng NTM qua các năm 2010 - 2016 và từ
khảo sát thực tiễn về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Kiến
Thụy của tác giả.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp của duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử. Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp trừu
tượng hóa khoa học; phương pháp thống kê so sánh; phương pháp phân tích
Việt, nông thôn là môi trường sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền; là
không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hoá xây đắp nên nền
tảng tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt. Ở Việt
Nam, cho đến nay hơn 70% dân số sống ở vùng nông thôn, trong khi tỷ lệ này
vào năm 1999 là 76,5%. Con số đó những năm trước còn lớn hơn nhiều.
Chính vì thế cuộc sống và tổ chức nông thôn ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến toàn
xã hội. Ngay cả những Việt kiều sống ở các nước văn minh, tiên tiến nhất thế
giới vẫn giữ nhiều nét đặc biệt của nông thôn Việt Nam. Từ điển Bách khoa
định nghĩa: “Nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay một đơn vị hành
chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh KT-XH,
điều kiện sống khác biệt với thành thị và cư dân chủ yếu làm nông nghiệp”
[67, tr306]. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác định: “Nông thôn là
phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn
được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân xã” [12, tr1].
Từ những luận cứ trên và căn cứ vào kết quả nghiên cứu của nhiều
công trình khoa học, nhiều quan niệm khác nhau để thống nhất quan niệm về
nông thôn là: Nông thôn Việt Nam là phần lãnh thổ không thuộc nội thành,
nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, kinh tế nông thôn chủ yếu là sản xuất
nông, lâm, ngư nghiệp và một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, xã là đơn
vị hành chính cơ sở ở nông thôn.
12
Với quan niệm trên nông thôn truyền thống và hiện nay có các đặc
điểm cơ bản sau đây:
Nông thôn là cụm từ dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông
nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ:
kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội... Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền
kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn. Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc
trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế
Theo đó, xây dựng nông thôn ở nước ta đã được triển khai từ rất lâu,
song khái niệm “xây dựng nông thôn mới” chính thức mới được nêu ra từ sau
khi Hội nghị Trung ương 7 khóa X ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày
05 tháng 8 năm 2008 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Từ thực tiễn
xây dựng nông thôn ở nước ta trong gần 30 năm đổi mới, khẳng định: “Xây
dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh
tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển
nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định,
giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái
được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được
tăng cường”. [25]
Như vậy, vấn đề cốt lõi là xây dựng NTM phải xuất phát từ cơ sở, nền
tảng ban đầu là nông thôn truyền thống. Công cuộc xây dựng NTM hiện nay
chính là cuộc cách mạng thứ hai nhằm từng bước thay đổi thói quen của
người nông dân về một nông thôn truyền thống gắn liền với nền văn minh lúa
nước từ phương thức sản xuất - sinh hoạt, phong cách ứng xử, cả trong nếp
nghĩ - cách sống định hình sau hàng ngàn năm lịch sử, sau những thăng trầm
của tự nhiên, xã hội và con người. Có những truyền thống tốt đẹp đã được đúc
kết và phải được kế thừa, phát triển hơn lên. Ví như lòng yêu quê hương đất
nước, tình làng nghĩa xóm tính cố kết cộng đồng trong chống thiên tai, giặc
ngoại xâm. Cũng có không ít điều phải đổi thay cho phù hợp với thời đại, với
nhân loại. Mục tiêu cần đạt được của chúng ta xây dựng NTM là vì con
người, NTM sẽ tạo môi trường để con người phát triển tốt hơn, sống hạnh
phúc hơn cả về vật chất và tinh thần. Ðiều quan trọng, lớn lao nhất là giúp phá
bỏ xiềng xích của lối tư duy bảo thủ của người sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp.
14
Ðồng thời, cũng là thay đổi lối sống khép kín, bó mình, bảo thủ trì trệ, ngại sợ
đổi mới, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm. NTM tạo môi trường
Toàn bộ kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành nhiều loại khác
nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau. Căn cứ theo lĩnh vực KT-XH, thì kết
cấu hạ tầng có thể được phân chia thành: Kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế, kết
cấu hạ tầng phục vụ hoạt động xã hội và kết cấu hạ tầng phục vụ AN-QP. Tuy
nhiên, trên thực tế, ít có loại kết cấu hạ tầng nào hoàn toàn chỉ phục vụ kinh tế
mà không phục vụ hoạt động xã hội và ngược lại.
Căn cứ theo sự phân ngành của nền kinh tế quốc dân, thì kết cấu hạ
tầng có thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng trong công nghiệp, trong
nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính - viễn thông, xây dựng, hoạt động
tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục, văn hóa - xã hội ...
Căn cứ theo khu vực khu dân cư, vùng lãnh thổ, thì kết cấu hạ tầng có
thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng đô thị, kết cấu hạ tầng nông thôn;
Kết cấu hạ tầng kinh tế biển, kết cấu hạ tầng đồng bằng, trung du, miền núi,
vùng trọng điểm phát triển, các thành phố lớn...
* Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Kết cấu hạ tầng gồm kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng xã hội.
Kết cấu hạ tầng kinh tế: bao gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật như
năng lượng (điện, than, dầu khí) phục vụ sản xuất và đời sống, các công trình
giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông, đường
hàng không, đường ống), bưu chính - viễn thông, các công trình thủy lợi phục
vụ sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp... Kết cấu hạ tầng kinh tế là bộ phận quan
trọng trong hệ thống kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn
định, bền vững và là động lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn, tạo điều kiện cải
thiện cuộc sống dân cư.
Kết cấu hạ tầng xã hội: bao gồm nhà ở, các cơ sở khoa học, trường
học, bệnh viện, các công trình văn hóa, thể thao... và các trang thiết bị đồng
bộ với chúng. Đây là điều kiện thiết yếu để phục vụ, nâng cao mức sống của
cộng đồng dân cư, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tiến
môi trường sống của con người gồm: Các công trình phòng chống thiên tai,
công trình bảo vệ đất đai, tài nguyên thiên nhiên, hệ thống cung cấp xử lý và
tiêu thải nước sinh hoạt.
Kết cấu hạ tầng KT-XH tuy không trực tiếp tham gia sản xuất ra sản
phẩm nhưng nó là bộ phận quan trọng để phục vụ cho toàn bộ quá trình sản
xuất. Trong nền kinh tế thị trường, kết cấu hạ tầng KT-XH có hai thuộc tính:
17
Có giá trị bởi các công trình không thể tự nhiên mà có mà phải qua đầu
tư xây dựng với kinh phí lớn trong thời gian dài.
Có giá trị sử dụng theo đúng mục đích, công năng khi đầu tư xây dựng...
Ngoài ra, các sản phẩm kết cấu hạ tầng trong nền kinh tế thị trường sẵn
sàng tham gia trao đổi - thanh toán, vì thế kết cấu hạ tầng KT-XH thỏa mãn
điều kiện trở thành hàng hóa - Hàng hóa công cộng. Hàng hóa công cộng
cũng như hàng hóa thông thường tức là nó mang đầy đủ các thuộc tính của
hàng hóa. Nhưng sự khác biệt ở đây là hàng hóa thông thường sản xuất để
tiêu dùng còn hàng hóa công cộng sản xuất ra cho cả cộng đồng sử dụng...
* Kết cấu hạ tầng kinh tế -xã hội trong xây dựng nông thôn mới
Kết cấu hạ tầng KT-XH trong xây dựng NTM là nền tảng vật chất có
vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của địa phương,
nó bao gồm kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội đã được luận giải ở trên, song ở
nông thôn có những kết cấu đặc thù nhất định, bởi xuất phát từ điều kiện tự
nhiên, xã hội, nhu cầu thực tế phục vụ cho phát triển KT-XH, an ninh quốc
phòng ở mỗi địa phương khác nhau và thực hiện mục tiêu xây dựng NTM nói
riêng. Kết cấu hạ tầng KT-XH trong xây dựng NTM bao gồm các thành tố cơ
bản như:
Một là, quy hoạch phát triển KT-XH, quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020. Ngoài ra còn có quy hoạch các đô thị, khu dân cư gắn với quy hoạch
“Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá” khẳng định: “Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội của một xã hội hiện đại là
một khái niệm dùng để chỉ những phương tiện và thiết chế, tổ chức làm nền
tảng cho kinh tế phát triển”. [42, tr.16]. Theo đó, phát triển hạ tầng KT-XH ở
nông thôn là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của toàn
vùng nông thôn nhưng cũng bao hàm phạm vi rộng lớn. Việc phát triển hạ
tầng KT-XH ở nông thôn chính là xây dựng, phát triển các công trình vật chất
phục vụ sản xuất và đời sống của cư dân nông thôn như: phục vụ sản xuất,
nâng cao tính hiệu quả của sản xuất, nâng cao đời sống, mức sống dân cư nông
thôn. Việc này liên quan đến tất cả các mặt của đời sống cư dân ở khu vực
nông thôn xuất phát từ nhu cầu đa dạng của cư dân nông thôn. Đó là các nhu
cầu đi lại, nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất và sinh hoạt, nhu cầu được dùng
nước sạch, môi trường vệ sinh sạch sẽ, nhu cầu sử dụng các dịch vụ giáo dục,
văn hoá, y tế, sinh hoạt văn hoá văn nghệ, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng…
19
Từ những cơ sở trên tác giả đưa ra quan niệm về phát triển kết cấu hạ
tầng KT-XH trong xây dựng NTM ở huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải phòng
là: Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở
huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng là hoạt động của hệ thống chính trị và
toàn dân dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng tiến hành cải tạo, xây dựng, phát
triển các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc làm nền tảng đáp ứng nhu cầu hoạt
động mọi lĩnh vực cho địa phương để phục vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã
hội, quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao đời sống và phát triển mọi mặt
cho người dân.
Nội hàm quan niệm chỉ rõ:
- Môc đích cña phát triển kết cấu hạ tầng KT-XH trong xây dựng NTM ở
huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải phòng là góp phần tạo ra cơ sở vật chất để
thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, tạo tiền đề để phát triển các lĩnh vực
lập hệ thống quản lý; tổ chức thông tin tuyên truyền; khảo sát đánh giá thực
trạng các xã; Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng KTXH của các xã; tổ chức thực hiện; thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá
tình hình thực hiện và tổng kết rút kinh nghiệm.
1.2.2. Nội dung phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong xây
dựng thôn mới ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
Căn cứ thực trạng nông thôn của 17 xã, các phân tích, dự báo thời gian
thực hiện hoàn thành nội dung các tiêu chí và mục tiêu đề ra trong Chương
trình xây dựng NTM. Huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xác định nội
dung phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như sau:
Thứ nhất, về Giao thông
Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hóa
hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn,
xóm cơ bản cứng hóa). Hệ thống giao thông trên địa bàn huyện Kiến Thụy,
thành phố Hải phòng được xác định trong xây dựng NTM gồm các loại
đường: Đường xã là đường nối trung tâm hành chính xã với các thôn hoặc
đường nối giữa các xã (không thuộc đường huyện) có thiết kế cấp IV; Đường
thôn là đường nối giữa các thôn đến các xóm; Đường xóm, ngõ là đường nối
giữa các hộ gia đình (đường chung của liên gia); Đường trục chính nội đồng
là đường chính nối từ đồng ruộng đến khu dân cư .
21
Các loại đường đó phải đạt được: Cứng hoá là mặt đường được trải
bằng một trong những loại vật liệu như đá dăm, lát gạch, bê tông xi măng v.v.
quy hoạch, thiết kế và công nhận phải tuân thủ theo tiêu chuẩn quốc gia.
Thứ hai, về Thủy lợi
Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện. Đến 2015 có
45% số xã đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hóa). Đến 2020
có 77% số xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng
theo quy hoạch). Công trình thuỷ lợi được hiểu là công trình thuộc kết cấu hạ
được hiểu là đáp ứng các nội dung của Quy định kỹ thuật điện nông thôn năm
2006 (QĐKT-ĐNT-2006), cả về lưới điện phân phối, trạm biến áp phân phối,
đường dây cấp trung áp, đường dây cấp hạ áp, khoảng cách an toàn và hành
lang bảo vệ, chất lượng điện áp. Các nguồn cấp điện cho nông thôn gồm:
nguồn điện được cấp từ lưới điện quốc gia, hoặc ngoài lưới điện quốc gia. Tại
địa bàn chưa được cấp điện từ lưới điện quốc gia, tùy điều kiện cụ thể của địa
phương để xem xét, áp dụng phương tiện phát điện tại chỗ như điện gió, điện
mặt trời, diesel … hoặc kết hợp các nguồn nói trên với quy mô công suất hợp
lý, đảm bảo cung cấp đủ điện cho nhu cầu phụ tải và triển vọng phát triển trong
vòng 5-10 năm tới. Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn đối với xã
nông thôn mới đạt từ 99% trở lên.
Thứ tư, về Trường học
Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục
trên địa bàn huyện. Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75%
số xã đạt chuẩn. Cụ thể: xây dựng NTM cần đạt được các nội dung sau đây:
Trường mầm non, nhà trẻ có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia: một xã
có các điểm trường, đảm bảo tất cả các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo được phân
chia theo độ tuổi và tổ chức cho trẻ ăn bán trú, cụ thể như sau:
Trường đặt tại trung tâm khu dân cư, thuận lợi cho trẻ đến trường, đảm
bảo các quy định về an toàn và vệ sinh môi trường. Diện tích khu đất xây
dựng nhà trường, nhà trẻ gồm: diện tích sân chơi; diện tích cây xanh; đường
đi. Diện tích sử dụng bình quân tối thiểu 12m 2 cho một trẻ đối với khu vực
nông thôn; 8m2 cho một trẻ đối với khu vực thành phố và thị xã. Khuôn viên
có tường bao ngăn cách với bên ngoài bằng gạch, gỗ, kim loại hoặc cây xanh
cắt tỉa làm hàng rào. Cổng chính có biển tên trường theo quy định tại Điều 7
23
của Điều lệ trường mầm non. Có đủ phòng chức năng, khối phòng hành chính
quản trị, phòng ngủ, phòng ăn, hiên chơi, phòng y tế, khu vệ sinh, khu để xe
xây dựng theo quy định tại Quyết định số 37/2008/QĐ-BGDĐT ngày
16/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Phòng học xây dựng theo
tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam do Bộ Xây dựng ban hành; phòng học có đủ
bàn ghế học sinh phù hợp với lứa tuổi, bàn ghế của giáo viên, bảng viết và đủ
điều kiện về ánh sáng, thoáng mát). Nhà tập đa năng, thư viện, phòng hoạt
động Đoàn - Đội, phòng truyền thống; phòng làm việc của hiệu trưởng, phó
hiệu trưởng, văn phòng, phòng họp toàn thể cán bộ và viên chức nhà trường,
phòng giáo viên, phòng y tế học đường, nhà kho, phòng thường trực; khu sân
chơi, bãi tập (có đủ thiết bị luyện tập thể dục thể thao và đảm bảo an toàn);
khu vệ sinh và khu để xe. Có hệ thống cấp nước sạch, hệ thống thoát nước
cho tất cả các khu vực theo quy định về vệ sinh môi trường.
Thứ năm, về cơ sở vật chất văn hoá
Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn
hóa thể thao trên địa bàn huyện Kiến Thụy. Đến 2015 có 30% số xã có nhà
văn hóa xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn. Cụ thể: Nhà
văn hoá đa năng: Diện tích đất được sử dụng 1000m 2 đối với các tỉnh đồng
bằng trong đó: Hội trường: 150 chỗ ngồi; phòng chức năng (hành chính;
thông tin; đọc sách, báo; truyền thanh; câu lạc bộ) phải có 05 phòng; phòng
tập thể thao đơn giản sử dụng để huấn luyện, giảng dạy và tổ chức thi đấu thể
thao có đủ diện tích theo quy định: 38m x 18m đối với các tỉnh đồng bằng;
các công trình phụ trợ (nhà để xe, khu vệ sinh, vườn hoa; trang thiết bị nhà
văn hoá (bàn ghế, giá, tủ, trang bị âm thanh, ánh sáng, thông gió, đài truyền
thanh; dụng cụ thể thao (dụng cụ chuyên dùng cho các môn thể thao phù hợp
với phong trào thể thao quần chúng ở xã; Sân thể thao phổ thông gồm: sân
bóng đá, ở hai đầu sân bóng đá có thể bố trí sân bóng chuyền, sân nhảy cao,
nhảy xa, sân đẩy tạ và một số môn thể thao dân tộc của địa phương. Diện tích
đất được sử dụng 90m x 120m đối với các tỉnh đồng bằng. Cán bộ quản lý có
trình độ trung cấp về văn hoá, thể thao trở lên do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
Nhà ở nông thôn đạt chuẩn Bộ Xây dựng có các chỉ tiêu sau: Diện tích
nhà ở đạt từ 14m2/người trở lên; Niên hạn sử dụng công trình nhà ở từ 20 năm
trở lên; Đảm bảo quy hoạch, bố trí không gian các công trình trong khuôn viên
ở (gồm nhà ở và các công trình đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tối thiểu như bếp,
nhà vệ sinh…) phải đảm bảo phù hợp, thuận tiện cho sinh hoạt đối với mọi
thành viên trong gia đình; đồng thời các công trình đảm bảo yêu cầu tối thiểu
về diện tích sử dụng; Có đủ các công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ sinh hoạt
26