MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CỦA HỌC SINH Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.2. Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.3. Các yếu tố chi phối quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp ở Tiểu học
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Đặc diểm tình hình kinh tế - xã hội và hoạt động của ngành
giáo dục quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội
2.2. Thực trạng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường
tiểu học quận Nam Từ Liêm
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho
học sinh các trường tiểu học quận Nam Từ Liêm
Chương 3. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG
TIỂU HỌC QUẬN NAM TỪ LIÊM
3.1. Định hướng đổi mới hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tại
các trường Tiểu học quận Nam Từ Liêm
3.2. Hệ thống biện pháp quản lý hoạtđộng giáo dục ngoài giờ lên
lớp cho học sinh cáctrường tiểu học quận Nam Từ Liêm, thành
phố Hà Nội
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp
3.4. Khảo sát tính cần thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Lí do chọn đề tài
Luật Giáo dục năm 2005, Điều 2 đã xác định: Mục tiêu của giáo
dục phổ thông là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có
đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp; trung thành với lí
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân
cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nghị quyết số 29-NQ/TW đã xác định phải đổi mới chương trình giáo
dục phổ thông theo tiếp cận năng lực: “Đổi mới chương trình nhằm phát triển
năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy
chữ và dạy nghề”. Nghị quyết đã nêu rõ mục tiêu cụ thể của giáo dục phổ
thông đó là: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất,
hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu,
định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ,
tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”.
Đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau
2015 đã tóm tắt nét đặc trưng trong thiết kế chương trình giáo dục phổ thông
như sau: “Xác định hệ thống năng lực cơ bản, thiết yếu mà học sinh cần đạt.
Các năng lực này sẽ chi phối việc xác định các lĩnh vực/môn học cốt lõi và
các hoạt động giáo dục quan trọng nhằm phục vụ mục tiêu giáo dục”. Ngoài
ra, đề án này đã đưa ra quan niệm “Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện
mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kĩ năng, phạm vi và cấu trúc nội
dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách
thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học và hoạt động giáo dục ở
mỗi lớp, mỗi cấp học của giáo dục phổ thông”.
3
hoạt động này, học sinh được rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo, củng cố và
tăng cường những kiến thức đã học trên lớp. Điều này có ý nghĩa rất quan
trọng, đặc biệt đối với học sinh tiểu học vì đặc điểm tâm sinh lí của học sinh ở
bậc học này là khả năng tập trung trong thời gian dài không cao, khả năng tư
duy trừu tượng còn hạn chế, các em thích vận động, thích các hoạt động vui
chơi, giải trí. Do đó, HĐGDNGLL dành cho học sinh lứa tuổi tiểu học là rất
cần thiết nhằm bổ trợ thêm cho các bài học trên lớp. Với thời gian quy định
của một tiết học, học sinh khó có khả năng thể nghiệm những tri thức thu
nhận được qua các bài học. Việc tổ chức các hoạt động giáo dục khác nhau
vào thời gian ngoài giờ lên lớp là điều kiện quan trọng để rèn luyện hành vi,
kỹ năng cho học sinh một cách sinh động. Như vậy, HĐGDNGLL thực sự là
một đòi hỏi tất yếu của quá trình giáo dục mà không gì có thể thay thế được.
Nam Từ Liêm là quận mới của thành phố Hà Nội. Trên địa bàn quận có 09
trường công lập và 07 trường dân lập. Tuy là quận mới thành lập và nằm ở khu
vực đang phát triển nhưng quận đã có nhiều thành công trong công tác giáo dục.
Bên cạnh đó, một số trường tiểu học trong quận hiện nay còn xem nhẹ công tác
giáo dục ngoài giờ lên lớp. Việc định hướng nội dung, hình thức về HĐGDNGLL
ở một số trường chưa có sự sáng tạo và còn nhiều hạn chế. Từ những lý do nêu
trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp của học sinh ở các trường tiểu học quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà
Nội” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành QLGD của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Lịch sử phát triển của giáo dục có thể chia ra những giai đoạn chủ
yếu như: giáo dục trong xã hội cộng sản nguyên thủy, giáo dục dưới chế độ
chiếm hữu nô lệ, giáo dục trong xã hội phong kiến và thời kì văn hóa phục
hưng, giáo dục thời kì tích lũy tư bản chủ nghĩa, giáo dục dưới thời tư bản
chủ nghĩa, giáo dục thời kì cận hiện đại và giáo dục thời kì hiện đại trong
vài thập niên gần đây. Trong từng giai đoạn đều xuất hiện những tư tưởng
dân tộc.Theo A.S.Makarenko (1888 - 1939), nhà giáo dục Xô Viết lỗi lạc
6
thì: Cái lôgic của quá trình sư phạm còn là quá trình tổ chức hợp lí hoạt
động của học sinh tham gia vào quá trình cách mạng xã hội, lao động sản
xuất, các hoạt động tập thể như vui chơi, giải trí, thể dục, thể thao, tham
quan du lịch, văn hóa nghệ thuật.
Ở trong nước, trong thư gửi học sinh nhân dịp khai trường năm 1945, Chủ
tịch Hồ Chí Minh có viết: “Nhưng các em ngoài giờ học ở trường cũng nên
tham gia vào các hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ
và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước”. Cuộc cải
cách giáo dục lần thứ nhất (1950) đã vạch rõ phương châm giáo dục là: “Học đi
đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn”. Về xây dựng chương trình có đưa
thêm một số môn học và một số hoạt động mới như: thời sự chính sách, giáo dục
công dân, tăng gia sản xuất ở tất cả các lớp (mỗi tuần 3 giờ).
Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1956) đã nêu rõ mục tiêu giáo dục
là “Đào tạo, bồi dưỡng thế hệ thanh niên và thiếu nhi trở thành những người
phát triển về mọi mặt, những công dân tốt trung thành với Tổ quốc, những
người lao động tốt, cán bộ tốt của nước nhà, có tài có đức để phát triển chế độ
dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta…”. Phương
châm của giáo dục là lý luận liên hệ với thực tiễn, gắn chặt nhà trường với đời
sống xã hội. Cuộc vận động xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa năm 1958
có yếu tố đặc trưng là lao động sản xuất phải trở thành yếu tố cơ bản trong
mục đích, phương châm, phương pháp giáo dục của nhà trường. Trong dịp hè,
các trường tổ chức cho học sinh tham gia lao động sản xuất, học sinh sôi nổi
tỏa về các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, đi về các bản làng, thôn xóm, tham
gia lao động trong các công trường, công trình thủy lợi, cầu đường…
Cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba (1979) nêu mục tiêu cơ bản của giáo
sinh tiểu học qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” [12] đưa ra các giải
pháp tổ chức HĐGDNGLL nhằm phát huy vai trò chủ thể trong quá trình hình
thành nhân cách của mỗi học sinh, đáp ứng nhu cầu xã hội trong xu thế hội
nhập, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
8
Tài liệu “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” [32] của tác giả Nguyễn
Dục Quang, Ngô Quang Quế. (Giáo trình Cao đẳng sử phạm ngành giáo dục
công dân) đã đề cập đến những nội dung cơ bản xung quanh những vấn đề của
HĐGDNGLL cung cấp cho giáo sinh làm cơ sở cho công tác thực tập sư phạm
và công tác chủ nhiệm lớp sau này.
Hoàng Thị Minh Hương với nghiên cứu “Các biện pháp quản lý hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởng trường Tiểu học quận Hồng
Bàng - Hải Phòng” [14] đã khẳng định HĐGDNGLL với nội dung, hình thức
phong phú sẽ là phương thức để thực hiện nguyên lý giáo dục “học đi đôi với
hành”. Nghiên cứu đã chỉ ra một số biện pháp như: thành lập ban chỉ đạo, kế
hoạch hóa HĐGDNGLL, tăng cường kiểm tra, đánh giá… sẽ góp phần làm cho
công tác quản lý chỉ đạo HĐGDNGLL của Hiệu trưởng được hoàn thiện hơn.
Nguyễn Thị Kim Bình với nghiên cứu “Giải pháp quản lý hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởng trường THCS quận Tân Phú Thành phố Hồ Chí Minh” [2] đã khẳng định vai trò quan trọng của việc tổ chức
HĐGDNGLL đối với việc nâng cao chất lượng của trương THCS. Nghiên cứu
đã xây dựng được các biện pháp quả lý của Hiệu trưởng ở trường THCS như
nâng cao nhận thức, bồi dưỡng năng lực cho giáo viên, phối hợp với các lực
lượng tham gia hướng dẫn HĐGDNGLL nhằm xây dựng và hình thành ở học
sinh những năng lực và phẩm chất tốt.
Các công trình trên đã tiếp cận nghiên cứu ĐGDNGLL ở nhiều khía
cạnh khác nhau, song về góc độ hoạt động quản lý HĐGDNGLL của Hiệu
trưởng trường Tiểu học còn rất hạn chế, đặc biệt chưa có công trình nào nghiên
cứu vấn đề này tại quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Thời gian nghiên cứu từ khi thành lập quận Nam Từ Liêm năm 2013
đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Quản lý HĐGDNGLL cho học sinh các trường tiểu học quận Nam Từ
Liêm, Thành phố Hà Nội đang có những bất cập ảnh hưởng đến chất lượng
giáo dục toàn diện cho học sinh; Nếu các chủ thể quản lý các trường thực
hiện tốt việc bồi dưỡng kĩ năng hướng dẫn tổ chức HĐGDNGLL, chỉ đạo
10
xây dựng và thực hiện kế hoạch của Tổng phụ trách Đội, giáo viên chủ
nhiệm và các hình thức tổ chức HĐGDNGLL, phối hợp chặt chẽ các lực
lượng giáo dục và đảm bảo các điều kiện cho hoạt động này, kiểm tra đánh
giá kết quả cùng với khen thưởng và trao đổi kinh nghiệm giữa các trường
thì hiệu quả quản lý HĐGDNGLL cho học sinh các trường tiểu học quận
Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội được nâng lên, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phép biện chứng duy vật Mac xít làm cơ sở phương
pháp luận.
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Sưu tầm, phân tích và tổng hợp các tư liệu, các công trình nghiên cứu
để tổng quan cơ sở lý luận về quản lý HĐGDNGLL ở trường Tiểu học.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát, điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi đối với
các bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh và học sinh để tìm hiểu,
đánh giá trực trạng hiệu quả quản lý HĐGDNGLL của hiệu trưởng
trường tiểu học.
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.1.1. Khái niệm hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Theo Chương trình giáo dục phổ thông, hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp là những hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài giờ học các môn văn
hóa, là một chương trình thống nhất hữu cơ với hoạt động dạy học, tạo điều
kiện gắn lý thuyết với thực hành, thống nhất giữa nhận thức và hành động,
góp phần quan trọng và sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của
học sinh trong giai đoạn hiện nay [4].
Hoạt động GDNGLL được quy định cụ thể tại điểu 29 Điều lệ trường
tiểu học: “Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trên lớp và hoạt động
ngoài giờ lên lớp nhằm rèn luyện đạo đức, phát triển năng lực, bồi dưỡng
năng khiếu, giúp đỡ học sinh yếu kém phù hợp đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa
tuổi học sinh tiểu học. Hoạt động giáo dục trong lớp được tiến hành thông
qua việc dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong Chương trình
giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
ban hành. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm hoạt động ngoại
khóa, hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn
hóa; hoạt động bảo vệ môi trường; lao động công ích và các hoạt động xã
hội khác” [5].
Tác giả Đặng Vũ Hoạt viết: “HĐGDNGLL là việc tổ chức giáo dục
thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học - kỹ thuật, lao động
công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa, văn nghệ, thẩm mỹ,
thể dục, thể thao, vui chơi giải trí…để giúp các em hình thành và phát triển
nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường…)”.
Từ các quan niệm trên tác giả cho rằng: HĐGDNGLL là hoạt động
13
1.1.2. Mục tiêu, vị trí, vai trò, nội dung của hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp
*Mục tiêu của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp:
HĐGDNGLL ở trường Tiểu học nhằm:
- Góp phần củng cố, mở rộng và khắc sâu kiến thức đã được học trong
giờ học các môn văn hóa.
- Tạo cơ hội cho HS được tham gia vào đời sống cộng đồng, bước đầu
vận dụng những kiến thức đã học vào trong cuộc sống thực tiễn. Trên cơ sở
đó, phát triển ở HS vốn tri thức phù hợp về một số lĩnh vực của đời sống xã
hội; góp phần phát triển toàn diện nhân cách cho các em.
- Tạo cơ hội cho HS được thực hành, trải nghiệm trong các tình huống
của cuộc sống, bước đầu phát triển ở HS các kĩ năng sống cần thiết, phù hợp
với lứa tuổi như: kĩ năng tự giới thiệu, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng lắng
nghe tích cực, kĩ năng chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, kĩ năng bày tỏ ý kiến, kĩ
năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng ra quyết định và giải
quyết vấn đề, kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kĩ năng hợp tác nhóm,…
*Vị trí, vai trò của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp:
Cùng với dạy học ở trên lớp,HĐGDNGLL là một bộ phận rất quan
trọng và vô cùng cần thiết trong toàn bộ quá trình dạy học - giáo dục ở nhà
trường phổ thông nói chung và của trường tiểu học nói riêng. Hai bộ phận này
gắn bó hỗ trợ với nhau trong quá trình giáo dục.
HĐGDNGLL là cầu nối giữa hoạt động giảng dạy và học tập ở trên lớp
với giáo dục học sinh ở ngoài lớp thông qua các hoạt động lao động, văn
nghệ, xã hội, thể dục thể thao… Hay nói cụ thể hơn, đó là sự chuyển hóa giữa
giáo dục với tự giáo dục, chuyển hóa những yêu cầu về những chuẩn mực
hành vi đã được quy định thành hành vi và thói quen tương ứng. Muốn cho sự
chuyển hóa này diễn ra thì phải thông qua các hoạt động học tập, lao động,
sinh hoạt tập thể, xã hội, vui chơi giải trí và qua giao lưu với bạn bè, với các
thầy, cô giáo, với cha mẹ và mọi người xung quanh…
15
16
Khác với các môn học, nội dung HĐGDNGLL rất đa dạng và mang
tính tích hợp, tổng hợp cao của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực khoa học và
đời sống thực tiễn. Điều đó giúp cho các nội dung giáo dục gần gũi với cuộc
sống thực tế hơn, thiết thực hơn, đáp ứng được nhu cầu của học sinh, giúp các
em lĩnh hội, chiếm lĩnh và vận dụng các nội dung giáo dục vào trong thực tiễn
cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi hơn.
HĐGDNGLL tạo cơ hội cho học sinh được thực hành, trải nghiệm các
kiến thức đã học vào trong thực tiễn cuộc sống
HĐGDNGLL đem lại những cơ hội tốt để học sinh được thực hành,
được trải nghiệm những kiến thức đã học vào những lĩnh vực của cuộc sống
thực tiễn. Điều đó giúp cho các em hiểu biết sâu sắc hơn về những nội dung
đã được giáo dục; giúp các em phát triển các kĩ năng, thái độ và hành vi tích
cực; phát triển năng lực thích ứng, năng lực hành động - là những năng lực rất
cần thiết của con người trong xã hội hiện đại
HĐGDNGLL tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh được tham gia
một cách tích cực, trên cơ sở đó giúp các em phát triển các phẩm
chất và năng lực cần thiết.
Lứa tuổi Tiểu học là lứa tuổi hiếu động, thích khám phá, do vậy các em
rất quan tâm và mong muốn được tham gia vào những hoạt động nhẹ nhàng,
sinh động, vui tươi, phù hợp với sở thích. Các nghiên cứu về tâm lí - giáo dục
cũng cho thấy nhiều nét tính cách chính của con người được hình thành trước
và trong tuổi học đường. Do vậy, việc tham gia vào nhiều dạng HĐGDNGLL
phong phú sẽ tác động tích cực đến nhận thức, tình cảm, niềm tin và hành vi
của HS; tạo cơ hội cho các em được thể hiện, bộc lộ, tự khẳng định bản thân;
được giao lưu, học hỏi bạn bè. Từ đó, các em được phát triển những kĩ năng
sống, những phẩm chất tích cực như tinh thần đồng đội, khả năng hợp tác,
tính kỉ luật, tinh thần trách nhiệm, tình cảm nhân ái, sự cảm thông, tính mạnh
nhau, với nhiều cách tiếp cận khác nhau; làm tăng tính hấp dẫn, đa dạng và
hiệu quả giáo dục.
* Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp:
HĐGDNGLL phải đồng thời giải quyết cả ba nhiệm vụ, đó là giáo dục
18
ý thức, giáo dục thái độ, tình cảm và giáo dục kĩ năng, hành vi, thói quen.
Về nhiệm vụ giáo dục ý thức (tri thức, niềm tin):
Tri thức là kết quả của nhận thức hiện thực được kiểm tra bằng thực
tiễn và được phản ánh ở tư duy con người. Tri thức cũng giúp người học hiểu
được thế giới xung quanh, biết cách cư xử đúng đắn với mọi người, biết cách
tiến hành công việc trong lao động, trong học tập, trong hoạt động nghệ thuật,
trong rèn luyện sức khỏe v.v… Vì thế, làm bất cứ một việc gì, dù đơn giản
đến đâu chăng nữa thì tri thức vẫn là cơ sở đầu tiên để xác định mục đích,
nắm bắt một cách chính xác, cụ thể, rõ ràng, trình tự hành động, và thao tác
của công việc… Tri thức mà học sinh tiếp thu được trong giờ lên lớp là những
tri thức cơ bản nhất, phổ thông nhất, hiện đại nhất. Tuy nhiên, nếu không
được củng cố, bổ sung thường xuyên thì tri thức đó có thể không được duy trì
lâu bền. Vì vậy, để những tri thức đã tiếp thu được thực sự trở thành “vốn”
nhân cách của học sinh, nhiệm vụ này yêu cầu HĐGDNGLL phải:
- Giúp học sinh củng cố, khắc sâu những tri thức đã học;
- Tổ chức những hình thức hoạt động cụ thể để học sinh vận dụng
những tri thức đã học vào thực tiễn cuộc sống, kiểm nghiệp những tri thức đó,
làm cho nó đi vào tiềm thức của học sinh một cách chắc chắn;
- Tạo cơ hội cho HS tiếp vận với những hoạt động khoa học - kỹ
thuật, lao động, sản xuất, văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao, những
hoạt động mang tính xã hội để các em hiểu thêm về tự nhiên, xã hội, về con
người mà trong bài học trên lớp chưa có điều kiện mở rộng. Từ đó trẻ em
có điều kiện tìm hiểu các phát minh mới nhất của khoa học kĩ thuật công
- Rèn luyện và đào tạo điều kiện để học sinh tập luyện những kĩ năng
thực hiện các công việc lao động đơn giản, các kĩ năng sáng tạo nghệ thuật,
thực hiện các bài thể dục, các môn thể dục, các trò chơi,… Những kĩ năng
tham gia hoạt động tập thể, kĩ năng tổ chức những hoạt động chung cùng
nhau, biết phối hợp với mọi người cùng thực hiện hoạt động chung, nâng cao
20
ý thức tự chủ, tự tin, chủ động và kĩ năng giao tiếp với mọi người cùng thực
hiện hoạt động chung, nâng cao ý thức tự chủ, tự tin, chủ động và kĩ năng
giao tiếp với mọi người. Dựa vào những kĩ năng, hành vi này để rèn luyện
những kĩ xảo, thói quen đạo đức bền vững và những kĩ năng tự quản trong
sinh hoạt tập thể. Làm được như vậy chúng ta đã góp phần tích cực vào công
cuộc xây dựng chiến lược con người cho tương lai của đất nước.
Ba nhiệm vụ trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho
nhau. Nhiệm vụ 1 là cơ sở để thực hiện nhiệm vụ 2 và nhiệm vụ 3. Nhiệm vụ
2 là nhiệm vụ khó khăn nhưng quan trọng đối với giáo dục tiểu học bởi mọi
thái độ cần giáo dục cho HS ngay từ nhỏ khi mà những xúc cảm của chúng
còn chưa ổn định. Nhiệm vụ 3 thực hiện trên cơ sở làm tốt hai nhiệm vụ một
và hai đồng thời việc thực hiện tốt nhiệm vụ này cũng có tác dụng củng cố
niềm tin và tăng cường thái độ tích cực ở học sinh.
* Nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp:
HĐGDNGLL bao gồm nhiều nội dung rất phong phú, đa dạng, phù
hợp với đặc điểm lứa tuổi và nhu cầu hoạt động của học sinh ở Tiểu học, phù
hợp với đặc điểm, điều kiện các trường tiểu học Việt Nam hiện nay. Có thể
khái quát những loại hình cơ bản sau:
Hoạt động chính trị - xã hội:
Đây là những hoạt động có ý nghĩa định hướng về mặt xã hội nên các
nội dung giáo dục trong hoạt động chứa đựng ý nghĩa xã hội rất lớn. Đó là
Vui chơi - giải trí là một loại hình hoạt động có ý nghĩa giáo dục to lớn
trong trường tiểu học. Trước hết, hoạt động này phải thỏa mãn về tinh thần
cho trẻ em sau những giờ học căng thẳng. Thứ hai, hoạt động vui chơi - giải
trí sẽ góp phần không nhỏ vào việc rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật, tinh
thần trách nhiệm, lòng nhân ái, tình yêu thương bạn bè, khả năng tự quản,…
Mặt khác, đó cũng là dịp để các em rèn luyện tăng cường khả năng phản xạ
của cơ thể đối với môi trường xung quanh.
Một trong những hình thức hoạt động của loại hình vui chơi - giải trí là
trò chơi. Trò chơi có nhiều loại khác nhau: trò chơi vận động, trò chơi vui
22
khỏe, trò chơi tĩnh ở trong lớp, trò chơi dân gian, trò chơi học tập,… Các hình
thức giải trí có thể bao gồm những hình thức như trả lời câu hỏi, đố vui, thi
giải toán nhanh, hái hoa dân chủ phục vụ cho học tập hoặc chủ đề nào đó,…
Hoạt động thể dục, thể thao
Hoạt động này chiếm một vị trí đáng kể trong nhà trường, là bộ phận
quan trọng của giáo dục nói chung. Tham gia các hoạt động thể dục thể thao,
các em sẽ có điều kiện để rèn luyện thể lực, tăng cường sức khỏe, hình thành
nhiều phẩm chất tốt như ý chí vượt khó, tinh thần đồng đội, tính đoàn kết,…
Hoạt động thể dục thể thao diễn ra dưới hình thức như thể dục giữa giờ, các
hình thức nghỉ ngơi tích cực (thể dục nhịp điệu, khiêu vũ, cầu lông,…), các
đội bóng đá mini, cờ vua, hội khỏe phù đổng,…
Hoạt động tiếp cận khoa học, kĩ thuật
Trên cơ sở những kiến thức đã được tiếp thu trên lớp, các em vận dụng
và đưa vào cuộc sống hằng ngày ở gia đình, địa phương, cộng đồng. Nhờ đó,
học sinh sẽ được củng cố kiến thức đã học, đồng thời mở rộng tầm hiểu biết
đối với thế giới xung quanh, không bị lạc lõng đối với những thay đổi hằng
ngày.
Hình thức của loại hình hoạt động này là những hoạt động về tìm hiểu tự
ghi nhận những cái mới được hình thành ở các em để có thể kịp thời đề xuất
và điều chỉnh các nội dung hoạt động cho phù hợp.
Đảm bảo tính tích cực, độc lập, sáng tạo của trẻ
Tính tích cực, độc lập và sáng tạo được coi là những tiêu chí đánh giá
khả năng tham gia hoạt động của HS, trình độ tự quản các hoạt động tập thể
của các em. Đối với HS tiểu học, nguyên tắc này phải được quán triệt trong
quá trình tổ chức hoạt động cho HS, phải được thể hiện từ chuẩn bị hoạt động
đến tiến hành hoạt động và sau cùng là đánh giá kết quả hoạt động.
* Hình thức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp:
Hình thức HĐGDNGLL ở Tiểu học bao gồm các hoạt động phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, phù hợp với cơ sở vật chất,
các điều kiện tổ chức hoạt động của nhà trường và công tác kiểm tra, đánh giá
24
kết quả hoạt động. Hình thức tổ chức HĐGDNGLL có thể thông qua:
- Các hoạt động theo chủ đề của Bộ GD&ĐT
- Các hoạt động tự chọn.
Chủ đề HĐGDNGLL bao gồm 9 chủ đề lớn theo từng tháng, từ tháng 9
của năm học trước đến tháng 5 của năm sau, dựa trên Văn bản hướng dẫn của
Vụ Giáo dục Tiểu học, Bộ GD&ĐT. Đây cũng là 9 chủ đề được thực hiện
đồng tâm từ lớp 1 đến lớp 5. Mỗi chủ đề sẽ bao gồm 3 - 4 hoạt động gợi ý để
giáo viên có thể tham khảo, lựa chọn và vận dụng sáng tạo trong quá trình tổ
chức HĐGDNGLL [Bảng 1.1].
Theo Chương trình giáo dục phổ thông, cấp Tiểu học, ban hành kèm
theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào
tạo, việc tổ chức HĐGDNGLL với quỹ thời gian là 4 tiết/ tháng.
Tại công văn 4919/BGDĐT-GDTH ngày 17/8/2010 về hướng dẫn thực
hiện nhiệm vụ năm học 2010 - 2011, đối với các trường, lớp dạy học 1
buổi/ngày, nội dung HĐGDNGLL (4 tiết/ tháng) được thực hiện tích hợp vào
Mary Parker Follet đưa ra định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý và
được trích dẫn khá nhiều là “nghệ thuật hoàn thành công việc qua người
khác”. Một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi khác là “ quá trình lập kế
hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ
chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt những mục tiêu
của tổ chức (Stoner, 1995). Một số tác giả khác cho rằng quản lý là “ tập
hợp các hoạt động (bao gồm cả lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh
đạo và kiểm tra) nhằm sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ chức (con
người, tài chính, vật chất và thông tin) để đạt được những mục tiêu của tổ
chức một cách có hiệu quả (Gruffin, 1998).
Như vậy, quản lý là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối
hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn.
Khi xem xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể rút ra khái
niệm: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý
tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra [11].
26