MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp trong hệ thống hành chính
bốn cấp của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là nền tảng của
hệ thống chính trị, là đơn vị hành chính ở cơ sở. Cấp xã giữ một vai trò, vị trí
hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp tổ chức đưa đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Đây cũng là nơi gần dân nhất,
trực tiếp chăm lo đến đời sống của nhân dân, là cầu nối giữa Nhà nước với
nhân dân, tiếp thu những ý kiến của nhân dân để phản ánh cho Đảng và Nhà
nước hoàn thiện chính sách, pháp luật.
Trong những năm qua, đội ngũ nữ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện
U Minh tỉnh Cà Mau góp phần quan trọng vào thành tựu đổi mới của địa
phương. Đặc biệt là vai trò đóng góp rất to lớn của phụ nữ trong xây dựng
nông thôn mới. Thực tế cho thấy phụ nữ nói chung và nữ cán bộ, công chức
cấp xã nói riêng là lao động chính ở nông thôn hiện nay. Họ không chỉ là
người lao động chính mà còn là người góp phần sản xuất ra phần lớn nông
phẩm. Chính họ là lực lượng đông đảo góp phần quan trọng làm thay đổi diện
mạo bộ mặt nông thôn và xây dựng đời sống mới.
Với quan điểm con người vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động
lực của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một khi đã có đường lối
cách mạng đúng thì cán bộ là khâu quyết định “Muôn việc thành công hay
thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”.
Công tác cán bộ là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự
nghiệp cách mạng. Trong công tác cán bộ, Bác đặc biệt chú ý đến việc đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ. Theo Người, phụ nữ là lực lượng xã hội lớn, đóng
vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trình độ chính trị,
văn hóa, điều kiện sinh sống của phụ nữ phản ảnh trình độ văn minh của xã
3
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Xây dựng đội ngũ nữ cán
bộ, công chức cấp xã ở huyện U Minh, tỉnh Cà Mau hiện nay” làm đề tài
luận văn thạc sỹ chuyên ngành xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua đã có nhiều đề tài, luận văn, luận án nghiên cứu
về công tác cán bộ, dưới đây là một số công trình tiêu biểu (được chia theo 3
nhóm):
* Nhóm các công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt các cấp, gồm:
Nguyễn Văn Phích, “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp
xã ở tỉnh Bình Thuận giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Chính
trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000; Phạm Công Khâm,
“Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng nông thôn Đồng bằng sông
Cửu Long hiện nay”, Luận án Tiến sĩ, 2000; Nguyễn Hồng Tân, “Xây dựng
đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp quận ở Thành Phố Đà Nẵng trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch
sử, Hà Nội, 2000; Nguyễn Mậu Dựng (2000), “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo chủ chốt của Đảng bộ các cấp ở Tây Nguyên hiện nay”, Luận án Tiến sĩ
lịch sử; Đoàn Tất Hoài, “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện
Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc
sĩ, 2001; Nguyễn Văn Côi, “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc
sĩ Lịch sử, 2002; Nguyễn Thái Sơn, “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ
chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đâị hóa đất nước”, Luận án Tiến sĩ khoa học lịch sử, Hà
Nội, 2002; Nguyễn Huy Châu, “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ
thống chính trị cấp xã ở tỉnh Gia Lai trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn
5
6
dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở Tây Nguyên giai đoạn 2006 - 2010”,
Đề tài cấp bộ, Hà Nội, 2006; Th.S Nguyễn Thế Vịnh: Xây dựng đội ngũ cán
bộ cơ sở theo Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà
Nội, 2007; Mạc Minh Sản: Hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội, 2008; Đỗ Thanh Hiệp, “Ảnh
hưởng tư duy kinh nghiệm đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh
Cà Mau”, Luận văn Thạc sĩ khoa học chính trị, Hà Nội, 2010; Biện Thanh
Lâm, “Nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ chủ chốt các xã ở tỉnh Cà
Mau giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ khoa học chính trị, Hà Nội, 2010;
Trần Quang Kiểm: “Hải Phòng tạo nguồn cán bộ xã, phường, thị trấn”, Tạp
chí Xây dựng Đảng, số 7/2010; Cao Thanh Thương, “Đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực quản lý cấp xã trên địa bàn huyện Hoài Nhơn - Bình Định”,
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đà Nẵng, 2011; Trần Thị Kim Dung, “Cán bộ,
công chức cấp xã ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc
sĩ Lý luận và lịch sử Nhà nước pháp luật, Hà Nội, 2011; Trần Văn Thanh,
“Đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức hành chính cấp xã, (phường) thành phố
Quy Nhơn”, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đà Nẵng, 2012; Trương
Ngọc Hùng, “Giải pháp tạo động lực cho cán bộ, công chức xã, phường,
thành phố Đà Nẵng”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đà Nẵng, 2012; Nguyễn Văn
Hòa, “Đánh giá thực trạng cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở xã, phường, thị trấn
tỉnh Bạc Liêu giai đoạn hiện nay”, Bạc Liêu, 2012; Trương Minh Nguyệt:
“Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã ở Lạng Sơn”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số
4/2012; Phúc Sơn: “Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã”, Tạp chí Xây
dựng Đảng, số 5/2012; Lê Ngọc Xuyên: “Giải pháp nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ cơ sở ở Tây Nguyên”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 1 + 2/2014. . .
Các đề tài nghiên cứu đã chỉ rõ vai trò quan trọng của cán bộ, công
nữ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều
8
nơi, so với nam giới, nữ cán bộ, công chức vẫn phải chịu những thiệt thòi,
chưa được đánh giá đúng năng lực, sở trường, tìm năng phát triển. Trên cơ sở
đó, các công trình đã đưa ra nhiều giải pháp thiết thực để xây dựng đội ngũ nữ
cán bộ nói chung, cũng như đội ngũ nữ cán bộ, công chức cấp xã nói riêng;
các công trình có ý nghĩa rất quan trọng về mặt lý luận để góp phần xây dựng
đội ngũ nữ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa
- hiện đại hóa của chính quyền cơ sở hiện nay.
Những công trình ở nhiều góc độ tiếp cận khác nhau đã đề cập đến đổi
mới nâng cao chất lượng công tác cán bộ hoặc một số khâu của công tác cán
bộ; rút ra những kinh nghiệm và các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác cán bộ nói chung và công tác cán bộ nữ nói riêng. Đó là những tài
liệu có giá trị về lý luận và thực tiễn trong giải quyết các vấn đề nghiên cứu
của đề tài.
Song, do đối tượng, phương pháp tiếp cận, mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi,
nội dung nghiên cứu của mỗi công trình khác nhau, chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống xây dựng đội ngũ nữ cán bộ, công chức
cấp xã ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau hiện nay với tính chất là một công trình
khoa học độc lập. Tác giả luận văn trân trọng kế thừa những kết quả nghiên cứu
của các công trình đó để luận giải làm rõ quan niệm và những vấn đề cơ bản
trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau
giai đoạn hiện nay. Đồng thời, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các công trình
nghiên cứu nêu trên và căn cứ vào thực trạng đội ngũ nữ cán bộ, công chức cấp
xã trong huyện, từ đó đưa ra những giải pháp có tính khả thi nhằm xây dựng đội
ngũ nữ cán bộ, công chức ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau trong giai đoạn mới.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Cơ sở thực tiễn
10
Thực tiễn xây dựng đội ngũ nữ cán bộ, công chức cấp xã huyện U Minh
tỉnh Cà Mau; qua các báo cáo sơ kết, tổng kết về công tác xây dựng đội ngũ
nữ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện U Minh thời gian qua. Ngoài ra còn dựa
vào kết quả điều tra, khảo sát thực tế của tác giả đề tài. Bên cạnh đó, có tiếp thu
kế thừa và chọn lọc kết quả của các công trình, đề tài đã được nghiệm thu,
bảo vệ.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử
dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và
liên ngành. Trong đó chú trọng các phương pháp: logic - lịch sử; phân tích,
tổng hợp; tổng kết thực tiễn; điều tra xã hội học; phương pháp thống kê;
phương pháp so sánh; phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp thêm cơ sở khoa học để cấp
ủy các cấp, cán bộ chủ chốt của huyện U Minh tỉnh Cà Mau trong lãnh đạo,
chỉ đạo xây dựng đội ngũ nữ cán bộ, công chức cấp xã hiện nay.
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,
giảng dạy và học tập ở các trường Chính trị tỉnh, huyện, thành phố.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Phần mở đầu; 2 chương (4 tiết); phần kết luận; danh mục
tài liệu tham khảo, phụ lục.
11
Chương 1
Dự án khu khí - điện - đạm Khánh An được đầu tư xây dựng tại xã
Khánh An, khu công nghiệp Khánh An của tỉnh đang thực hiện là cơ hội đặc
biệt để kinh tế huyện tăng trưởng nhanh một cách vượt trội, chuyển dịch
nhanh cơ cấu kinh tế, tạo điều kiện phát triển kinh tế dịch vụ, đô thị... , Khu
liên hợp Khí - Điện - Đạm, với hai nhà máy điện, công suất 1.500 MW đã hoà
mạng vào lưới điện quốc gia, hàng năm cung cấp từ 9 - 10 tỷ kwh điện và một
nhà máy đạm công suất 800 ngàn tấn/năm, đã đi vào hoạt động sản xuất ổn
định. Đối với lĩnh vực nông nghiệp, ngoài cây lúa với diện tích khoảng 28.700
ha, U Minh còn có khả năng phát triển một số loài cây trồng khác và chăn nuôi gia
súc, gia cầm ... tạo vùng nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, lương thực,
thực phẩm.
Bên cạnh tiềm năng phát triển kinh tế, U Minh còn có tiềm năng lớn để
phát triển du lịch sinh thái, du lịch biển đảo và du lịch lịch sử- nhân văn. Là
một huyện nằm trong khu vực có điều kiện tự nhiên mang đậm nét đặc thù
của vùng đồng bằng sông Cửu Long, có nhiều sông ngòi, đầm phá, có hệ sinh
thái rừng ngập nước. Trong đó, có nhiều điểm du lịch hấp dẫn như vườn dâu
Cái Tàu, khu du lịch sinh thái Sông Trẹm, rừng Tràm U Minh Hạ,. . .
Trong những năm gần đây, kinh tế - xã hội của huyện tiếp tục tăng
trưởng khá toàn diện, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Tỷ trọng nông ngư - lâm nghiệp giảm dần, từ 61% xuống còn 53%; công nghiệp - xây dựng
từ 15,5% tăng lên 20%; dịch vụ từ 23,5% tăng lên 27%; thu nhập bình quân
đầu người từ 750 USD tăng lên 1.300 USD năm 2015.
Tổng sản lượng thủy sản đến cuối năm 2015 đạt 52.492 tấn; sản lượng
lương thực năm 2015 đạt 113.578 tấn; tăng cường công tác bảo vệ và trồng
rừng, trồng mới và trồng sau khai thác thêm 11.800 ha rừng, tạo độ che phủ
rừng và cây phân tán đạt 41%; công nghiệp - xây dựng tăng trưởng bình quân
15%; dịch vụ tăng bình quân 16,5%/năm.
13
các khu vực đóng quân và các vị trí trọng yếu trên địa bàn. Làm tốt công tác
phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động phạm tội; thường xuyên tổ chức tuần
tra, kiểm soát đảm bảo trật tự an toàn giao thông, phát động phong trào toàn
dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội
trên địa bàn huyện.
* Cấp xã ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau
Quan niệm cấp xã ở huyện U Minh, tỉnh Cà Mau:
Theo Từ điển tiếng Việt: “Xã là cơ quan hành chính ở nông thôn” [82 tr.
1117]; Thị trấn là khu vực tập trung dân cư, sinh hoạt chủ yếu là sản xuất thủ
công nghiệp, quy mô nhỏ hơn thị xã” [82 tr. 922].
Trong hệ thống tổ chức hành chính 4 cấp ở nước ta, xã, phường, thị trấn (gọi
chung là cấp xã) là những đơn vị hành chính có vị trí tương đương ở cấp cơ
sở, được tổ chức ở nông thôn, nội thành, nội thị, theo khu vực dân cư, lãnh
thổ, bao gồm có các thôn, bản, tổ dân phố. Từ sự tương đồng về vị trí, địa vị
pháp lý, xã, phường, thị trấn có vai trò tương đương nhau trong hệ thống tổ
chức hành chính - vai trò là đơn vị hành chính cơ sở. Với tư cách là đơn vị cơ
sở, xã, phường, thị trấn là cấp chấp hành, thực hiện sự tác động quản lý từ các
cấp trên, nơi hiện thực hóa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước thành
hoạt động thực tiễn của dân; đồng thời cũng là nơi kiểm nghiệm tính đúng
đắn, hiệu quả của các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Là đơn vị hành chính cơ sở, cấp xã là nơi diễn ra mọi hoạt động sinh
hoạt, quan hệ của dân cư trên hai địa bàn cơ bản là nông thôn và đô thị. Ở cấp
xã, chính quyền trong dân, quan hệ trực tiếp với dân; là nơi chính quyền và
các đoàn thể tổ chức cuộc sống, hoạt động và các phong trào trong đời sống
dân cư, thể hiện rõ nhất, trực tiếp nhất ý thức và năng lực dân chủ của dân
bằng cả phương thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Cấp xã là nơi
15
dân sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, một số hộ
đánh bắt thủy sản, thương mại dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp.
17
Về cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của cấp xã ở huyện
U Minh.
Hệ thống tổ chức đảng gồm: Đảng ủy xã, chi bộ khóm, ấp. Toàn huyện
U Minh hiện có 28 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Huyện ủy, gồm có 14 đảng
bộ (trong đó có 08 đảng bộ xã, thị trấn) và 14 chi bộ (có 226 chi bộ trực thuộc
đảng bộ cơ sở), với 3.030 đảng viên.
Đảng bộ, chi bộ cơ sở là hạt nhân lãnh đạo toàn diện các mặt công tác
ở cơ sở, nắm vững nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng
là then chốt, chăm lo xây dựng chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể nhân dân, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống
chính trị hướng vào phục vụ nhân dân, đưa đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đến mọi người dân và tổ chức thực
hiện tốt ở cơ sở, phản ánh và giải đáp mọi tâm tư nguyện vọng của nhân dân,
khơi dậy trí tuệ và nguồn lực của dân, không ngừng nâng cao trình độ dân
sinh, dân trí, dân chủ ở cơ sở. Với vị trí là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính
ở cấp xã, trong những năm qua, tổ chức cơ sở Đảng ở huyện U Minh luôn
khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội ở địa phương.
Về bộ máy chính quyền cấp xã ở huyện U Minh gồm có: Một là, Hội
đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đồng thời
là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở địa phương. Hội
đồng nhân dân xã quyết định các biện pháp thực hiện kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, an toàn xã hội tại địa phương; quyết
định các biện pháp phát triển hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế; quyết định
vọng và quyền lợi chính đáng của cựu chiến binh ở địa phương. Hội có vai
trò tham mưu giúp cấp ủy Đảng và là lực lượng nòng cốt tập hợp, đoàn kết,
vận động cựu chiến binh thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội của cách
mạng, của Hội; tham gia giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu
dân cử và cán bộ viên chức nhà nước ở địa phương.
19
- Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội có
vai trò đoàn kết, tập hợp thanh niên, phát huy vai trò xung kích của thanh niên
trong sự nghiệp cách mạng. Bằng nhiều hình thức và biện pháp sáng tạo, Đoàn
đã thường xuyên tổ chức việc học tập quán triệt các chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đồng thời chú trọng cung cấp thông
tin về tình hình thời sự, chính trị trong nước và quốc tế, nâng cao ý thức cảnh
giác cách mạng cho cán bộ Đoàn viên thanh niên. Các hoạt động giáo dục của
Đoàn đã góp phần tích cực vào việc nâng cao nhận thức chính trị cho Đoàn
viên thanh niên, tạo bầu không khí chính trị - xã hội ổn định, thúc đẩy việc
hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở địa phương.
* Quan niệm đội ngũ cán bộ, công chức và đội ngũ nữ cán bộ, công
chức cấp xã ở huyện U Minh:
Từ khi Đảng ra đời lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, từ “Cán bộ” mới được
sử dụng để chỉ những người có trọng trách trong tuyên truyền, tổ chức, tập hợp
quần chúng, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh; một lòng, một dạ đấu tranh vì
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cùng với sự phát triển của cách mạng, đội
ngũ cán bộ ngày càng đông đảo. Ngày nay, trong hệ thống tổ chức đảng và các
đoàn thể chính trị, cán bộ là những người được bầu vào cơ quan lãnh đạo các cấp
và những người được bổ nhiệm làm công tác chuyên môn; trong hệ thống chính
quyền, cán bộ là những người làm việc trong các cơ quan nhà nước có chức vụ
lãnh đạo, quản lý thuộc các ngành, các lĩnh vực khác nhau.
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
5. Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
6. Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
7. Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam;
8. Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam.
21
Công chức: Theo Điều 4, Luật Cán bộ, công chức quy định, Công chức
là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức
danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính
trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công
nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý
của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong
biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ
máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm
từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy
trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi
trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và
môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã
hội. Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý.
Từ những vấn đề trên có thể quan niệm: Đội ngũ nữ cán bộ, công chức
cấp xã ở huyện U Minh, tỉnh Cà Mau là một bộ phận cán bộ, công chức của
Đảng và Nhà nước, đó là những nữ công dân Việt Nam được đào tạo, bồi
dưỡng, có đủ phẩm chất, năng lực và tiêu chuẩn cần thiết khác, được bầu cử, bổ
nhiệm, tuyển dụng vào những chức vụ, chức danh theo biên chế trong các cơ
Ba là, cơ cấu đội ngũ nữ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện U Minh đa
dạng và thường xuyên biến động. Về cơ cấu đội ngũ, mặc dù Huyện ủy rất quan
tâm đến quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ, nữ. Nhưng tỷ lệ cơ cấu nữ cán
bộ, công chức cấp xã trong toàn huyện đạt rất thấp (nữ 36/174, chiếm
20,68%). .Tỷ lệ nữ tham gia làm công tác đảng, quản lý nhà nước còn thấp (toàn
huyện có 01 đồng chí nữ là Bí thư xã (chiếm 12.5%); 02 đồng chí nữ là Phó Chủ
tịch UBND xã (chiếm 13.3%). Về cơ cấu độ tuổi được các cấp uỷ đảng quan
tâm, qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng và bầu cử Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân, các đoàn thể quần chúng đều có định hướng về cơ cấu độ tuổi mang
23
tính kế thừa liên tục. Tuy nhiên, lực lượng cán bộ trẻ đến nay vẫn còn thấp, dưới
30 tuổi chỉ chiếm khoảng 15% (chủ yếu là lực lượng Đoàn thanh niên và Hội
Liên hiệp phụ nữ).
Bốn là, đại bộ phận đội ngũ nữ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện U
Minh chưa được đào tạo, bồi dưỡng một cách cơ bản, toàn diện.
Đại bộ phận cán bộ xã trên địa bàn huyện U Minh được rèn luyện,
trưởng thành từ thực tiễn địa phương; về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý
luận chính trị, quản lý nhà nước,. . . còn có một bộ phận chưa được đào tạo,
bồi dưỡng một cách cơ bản, toàn diện; về trình độ chuyên môn của cán bộ cấp
xã trong toàn huyện chưa qua đào tạo 10 người, chiếm 11,49%. Về trình độ
chuyên môn của công chức cấp xã trong toàn huyện chưa qua đào tạo 03 người,
chiếm 4,44% [Phụ lục 3].
Xét về điều kiện kinh tế - xã hội, huyện U Minh và một huyện nghèo,
kinh tế - xã hội phát triển khá chậm, kết cấu hạ tầng thiếu thốn, đời sống của
nhân dân khó khăn về nhiều mặt. Do đó, trình độ dân trí còn thấp nên vẫn còn
một bộ phận người dân có tư tưởng “trọng nam kinh nữ”; không ủng hộ việc
phụ nữ tham gia học tập và hoạt động xã hội, chính trị. Có những nơi định
theo pháp luật và bảo toàn tính thống nhất của thực thi quyền lực nhà nước ở
cơ sở thông qua việc giải quyết các công việc hằng ngày có tính chất quản lý,
tự quản mọi mặt ở địa phương.
Hai là, là những người trực tiếp, gắn bó với nhân dân, triển khai,
hướng dẫn và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và pháp luật Nhà nước.
Thực tế cho thấy, đội ngũ cán bộ nói chung cũng như đội ngũ nữ cán
bộ, công chức cấp xã nói riêng ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc
thực hiện chức năng làm cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giữa công dân với
Nhà nước. Sở dĩ như vậy vì họ là những cán bộ trực tiếp tuyên truyền, phổ
25
biến, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn dân cư, giải quyết mọi
nhu cầu chính đáng của người dân, bảo đảm sự phát triển kinh tế của địa
phương, duy trì trật tự, an ninh, an toàn xã hội trên địa bàn cấp xã. Do tính
chất công việc của cấp xã, họ vừa giải quyết những công việc hàng ngày, vừa
phải quán triệt các Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên, lại phải nắm tình hình
thực tiễn ở địa phương để từ đó đề ra kế hoạch, chủ trương, biện pháp đúng
đắn, thiết thực, phù hợp. Nhiệm vụ của họ rất nặng nề, vai trò của họ có tính
then chốt xét cả trong quan hệ giữa Đảng với dân, giữa công dân với Nhà
nước. Thực tế đã chứng minh, đội ngũ cán bộ cơ sở có vai trò quan trọng
trong việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị, tạo dựng các phong trào
cách mạng của quần chúng, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Sức mạnh của hệ thống chính trị,
sự ổn định của xã hội, sự phát triển sâu rộng và hiệu quả của phong trào cách
mạng của quần chúng luôn gắn liền với năng lực, phẩm chất đạo đức của đội
ngũ cán bộ này.
Mặt khác, nữ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quan trọng ảnh hưởng
đến năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng; năng lực quản lý, điều
hành của bộ máy chính quyền và mọi hoạt động của đoàn thể quần chúng của
cơ sở. Xây dựng đội ngũ nữ cán bộ, công chức cấp xã có đầy đủ phẩm chất,
năng lực ngang tầm với nhiệm vụ mới là nhằm xây dựng, củng cố, tăng cường
vai trò lãnh đạo của Đảng; điều hành, hoạt động của Nhà nước, đoàn thể quần
chúng ở cơ sở và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ xã hội của quần chúng
nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của huyện U Minh.
Đội ngũ nữ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện U Minh tỉnh Cà Mau
thực sự là hạt nhân xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trên cơ sở vì nhiệm vụ
của địa phương. Trong mọi hoạt động, đội ngũ này luôn là người gương mẫu
trong việc chấp hành các Nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là
27