Công tác xã hội đối với người nhiễm chất độc da camdioxin từ thực tiễn Trung tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị nạn nhân bị nhiễm chất độc da camdioxin thành phố Hà Nội - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN ĐĂNG KHOA

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NHIỄM CHẤT ĐỘC
DA CAM/DIOXIN TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM
CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ ĐIỀU TRỊ NẠN NHÂN
BỊ NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM/DIOXIN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN TRUNG HẢI

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ Công tác xã hội với đề tài “Công tác
xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam/dioxin từ thực tiễn Trung tâm
chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị nạn nhân bị nhiễm chất độc da
cam/dioxin thành phố Hà Nội” là đề tài nghiên cứu của riêng cá nhân tôi.
Các kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn này là trung thực không
trùng lặp với các đề tài khác.

tác xã hội đối với nạn nhân .......................................................................................70
3.5. Nhóm biện pháp về cơ chế, chính sách, đầu tư trong chăm sóc, điều trị cho
nạn nhân .....................................................................................................................71
KẾT LUẬN ..............................................................................................................74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 76


DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1. Trình độ, chuyên môn của cán bộ ....................................................................... 39
Biểu đồ 2.2. Các nội dung lao động trị liệu cho nạn nhân. .............................................. 40
Biểu đồ 2.3. Ý nghĩa của hoạt động lao động trị liệu. ...................................................... 41
Biểu đồ 2.4. Các hoạt động tâm lý trị liệu cho nạn nhân tại Trung tâm. ..................... 44
Biểu đồ 2.5. Hình thức tổ chức hoạt động tâm lý trị liệu ................................................. 46
Biểu đồ 2.6. Mức độ hiệu quả hoạt động tâm lý trị liệu ................................................... 47
Biểu đồ 2.7. Các nội dung giáo dục nhóm cho nạn nhân................................................. 48
Biểu đồ 2.9. Mức độ hiệu quả của hoạt động giáo dục nhóm......................................... 50
Biểu đồ 2.10. Nội dung hoạt động phát triển kỹ năng giao tiếp ..................................... 51
Bảng 2.11. Tần suất tổ chức hoạt động phát triển kỹ năng giao tiếp ............................ 53
Biểu đồ 2.13. Các yếu tố thuộc về đặc điểm Nhân viên CTXH ..................................... 55
Biểu đồ 2.14. Các yếu tố thuộc về đặc điểm của nạn nhân làm ảnh hưởng đến hoạt
động CTXH tại Trung tâm. ...................................................................................................... 57
Biểu đồ 2.15. Các yếu tố thuộc về nhận thức của lãnh đạo đơn vị................................ 59


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CTXH

: Công tác xã hội

đến 1971, quân đội Mỹ đã phun rải gần 80 triệu lít chất độc hóa học, 61% trong đó
là chất da cam, chứa 366 kg dioxin xuống miền Nam Việt Nam làm cho môi trường,
sinh thái bị hủy hoại nặng nề. Hậu quả của cuộc chiến tranh hoá học đó là khoảng
4,8 triệu người bị phơi nhiễm, gần 3 triệu người là nạn nhân chất độc da
cam/dioxin, hàng trăm nghìn người đã chết, những nạn nhân còn sống đang phải vật
lộn với các căn bệnh hiểm nghèo, di chứng chất độc da cam đã truyền qua thế hệ
con, cháu, chắt. Hàng vạn người bị tước đi quyền làm cha, làm mẹ. Hàng triệu trẻ
em sinh ra, nhưng không được làm người hoàn thiện. Không chỉ người Việt Nam,
mà cả binh lính Mỹ và đồng minh của Mỹ tham chiến ở Việt Nam cũng là nạn nhân
của cuộc chiến tranh hóa học này. Chất độc da cam đã tác động mạnh mẽ, lâu dài
tới môi trường, các hệ sinh thái. Theo điều tra của Ủy ban Quốc gia nghiên cứu về
chất độc da cam (Ủy ban 10-80) và một số nghiên cứu của nước ngoài, môi trường
trên toàn miền Nam bị ô nhiễm nặng. Các hệ sinh thái bị tàn phá, đảo lộn; hệ thống
rừng ngập mặn và rừng đầu nguồn của 28 sông chính bị phá hủy nặng nề, làm suy
giảm nghiêm trọng khả năng giữ nước, chống lụt; một số loài động vật, thực vật quý
hiếm bị tuyệt chủng; các loài gậm nhấm và cỏ dại phát triển [24].
Việc chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị cho người nhiễm chất độc da
cam/dioxin (sau đây gọi tắt là nạn nhân) là một thách thức và là một trách nhiệm lớn
đối với cộng đồng, xã hội. Để triển khai thực hiện hiệu quả chủ trương này, chúng ta
cần có sự cộng tác của toàn xã hội, nhưng chủ công là ngành Công tác xã hội và
ngành Y tế, trong đó vai trò của Công tác xã hội là rất cần thiết. Từ đó, việc xây
dựng các kế hoạch, chương trình hành động, chính sách khả thi chăm sóc sức khỏe
cho nạn nhân; đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm về công tác chăm
sóc sức khỏe cho nạn nhân; đổi mới lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho nạn nhân theo

1


hướng phát triển các dịch vụ Công tác xã hội, trợ giúp xã hội kết hợp với điều trị y
tế để phục hồi chức năng cho nạn nhân dựa vào cộng đồng; xây dựng và triển khai


2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, tháng 10-1980, Chính phủ đã thành lập
Ủy ban đặc biệt điều tra hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh
ở Việt Nam (UB10-80), do Giáo sư, bác sĩ Hoàng Ðình Cầu làm chủ tịch. Sau gần
20 năm hoạt động, kết quả điều tra của UB10-80 đã khẳng định tác hại của chất độc
da cam/dioxin là vô cùng trầm trọng, để lại hậu quả nặng nề và lâu dài đối với con
người, thiên nhiên và môi trường Việt Nam. Ngày 1-3-1999, Thủ tướng Chính phủ
đã ký Quyết định số 33/1999/QÐ-TTg thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia khắc phục
hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam. Trong đó,
công tác nghiên cứu khoa học được đặc biệt chú trọng. Từ năm 2000 đến 2010 đã
có 30 đề tài cấp nhà nước được triển khai thực hiện trên ba lĩnh vực chủ yếu, nhóm
đề tài về y tế: mười đề tài; nhóm đề tài về môi trường: 13 đề tài; nhóm đề tài về
chính sách xã hội: bảy đề tài. Ngoài các đề tài nghiên cứu, các dự án khảo sát điều
tra đánh giá mức độ ô nhiễm chất độc da cam/dioxin tại các vùng bị phun rải nhiều
trong chiến tranh, tại các căn cứ quân sự cũ, nơi tập kết, lưu giữ, pha chế, đổ thải
chất diệt cỏ cũng được triển khai đồng bộ ở các bộ, ngành, địa phương đạt được kết
quả rất cơ bản. Tuy nhiên, so với yêu cầu và tính đặc thù trong lĩnh vực, hoạt động
nghiên cứu khoa học khắc phục hậu quả chất độc da cam/dioxin trong thời gian qua
chưa tương xứng nhiệm vụ đặt ra. Trước mắt, việc tăng cường hoạt động nghiên
cứu khoa học theo Quyết định số 651/2012/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt "Kế hoạch hành động khắc phục cơ bản hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử
dụng trong chiến tranh ở Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020" là
đóng góp quan trọng vào sự thành công trong khắc phục hậu quả của chất độc da
cam/dioxin để lại sau chiến tranh. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả
lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết tạp chí tiêu biểu.
Các công trình nghiên cứu về khung pháp lý nhằm đảm bảo quyền của nạn nhân
Năm 2007, nhóm Đối thoại Việt - Mỹ về chất độc da cam/dioxin được thành
lập. Đây là một nhóm gồm các thành viên là các công dân, những nhà khoa học và
các nhà hoạch định chính sách của 2 nước Việt Nam và Mỹ. Nhiệm vụ của nhóm là

Công trình nghiên cứu của Tác giả Hà Thị Thư đã trình bày một cách tổng
quát nhất về CTXH với người khuyết tật, các mô hình hỗ trợ, các phương pháp tiếp
cận, các chương trình chính sách của nhà nước đối với người khuyết tật. Vai trò của

4


nhân viên CTXH đối với người khuyết tật, các kỹ năng làm việc với người khuyết
tật. Đây là giáo trình đào tạo CTXH ở hệ trung cấp nghề [27].
Giáo trình đại cương chăm sóc sức khỏe tâm thần của tác giả Nguyễn Sinh
Phúc đã trình bày tổng quát về chăm sóc sức khỏe tâm thần giáo trình phục vụ cho
cán bộ làm CTXH trong chăm sóc sức khỏe tâm thần [23].
Các đề tài luận văn thạc sỹ ngành CTXH trong những năm gần đây có xu
hướng chuyên sâu nghiên cứu về thực trạng của CTXH đối với nạn nhân tại các cơ
sở xã hội, tại cộng đồng. Từ đó, vận dụng các phương pháp CTXH với cá nhân,
phương pháp công tác xã hội nhóm để thúc đẩy trợ giúp cho nạn nhân mang tính
chuyên nghiệp hơn như:
Tài liệu “Tập huấn chăm sóc người tàn tật” do TS. Nguyễn Hải Hữu và các
cộng sự thực hiện năm 2007 đây là kết quả hợp tác giữa Bộ LĐTBXH và tổ chức
Caritas Cộng hòa liên bang Đức. Tài liệu chủ yếu hướng dẫn về nghiệp vụ, kỹ năng
chăm sóc người khuyết tật cho cán bộ, nhân viên tại các cơ sở bảo trợ xã hội. Trong
nghiên cứu quy trình chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần tại các
Trung tâm bảo trợ xã hội của tác giả Nguyễn Văn Siêm viết rất là cơ bản các
nguyên tắc khi làm việc và thực hành CTXH đối với bệnh nhân tâm thần tại các cơ
sở bảo trợ xã hội [22].
Các báo cáo khoa học, Hội thảo khoa học về nạn nhân và các hoạt động trợ
giúp đối với nạn nhân
Nghiên cứu về nạn nhân là mối quan tâm của cộng đồng quốc tế nói chung
và Việt Nam nói riêng, vì thế trong những năm qua có nhiều báo cáo khoa học, hội
thảo khoa học nghiên cứu về nạn nhân và các hoạt động trợ giúp họ trong đời sống

văn cao học.
Qua quá trình tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề
tài, có thể thấy rằng nạn nhân luôn là mối quan tâm của cộng đồng quốc tế và của
Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đây là một trong những lý do chính để tôi thực hiện
nghiên cứu về vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị nạn
nhân và thực tế công tác này tại Trung tâm trong thời gian qua, từ đó đề xuất giải

6


pháp nâng cao hiệu quả, từng bước chuyên nghiệp hóa công tác chăm sóc, nuôi
dưỡng và can thiệp hỗ trợ nạn nhân thông qua các hoạt động Công tác xã hội tại
Trung tâm nói riêng và ở Việt Nam nói chung trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị đối
với người nhiễm chất độc da cam/dioxin, nhu cầu nạn nhân.
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng về nạn nhân chất độc da cam/dioxin và thực
trạng các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng nạn nhân, chỉ ra những nguyên nhân,
những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động này.
Phân tích các hoạt động công tác xã hội trong việc hỗ trợ nạn nhân, đề xuất
giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động Công tác xã hội trong
việc chăm sóc, nuôi dưỡng và hỗ trợ nạn nhân.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội đối với nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam/dioxin tại Trung
tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam/dioxin
thành phố Hà Nội.

5.2. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu
Nghiên cứu, phân tích tài liệu là phương pháp thu thập thông tin gián tiếp
thông qua các nguồn tài liệu sẵn có về hồ sơ, quy định của cơ quan đối với nạn nhân
chất độc da cam. Bao gồm cả việc nghiên cứu các chế độ, chính sách luật pháp đối
với nạn nhân chất độc da cam. Để luận văn có đủ thông tin cần thiết, tác giả đã thu
thập các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như sách, báo, mạng internet, tạp chí
các sách của nhà xuất bản y học liên quan đến công tác chăm sóc và điều trị cho nạn
nhân. Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu
đề tài. Mục đích áp dụng phương pháp này nhằm thu thập các thông tin liên quan
đến sức khỏe, bệnh tật, cũng như những chủ trương của Đảng; chính sách pháp luật
của nhà nước về nạn nhân; các chương trình, mô hình và phương pháp tiếp cận để
giúp đỡ nạn nhân về mọi mặt. Những thông tin tác giả thu thập được xử lý một các
khoa học, mang tính chất định tính và định lượng để đảm bảo tính khách quan cho
thông tin nhưng vẫn chứa đựng được nội hàm của luận văn.

8


* Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp thu thập thông tin thực nghiệm mà thông qua các giác
quan nghe, nhìn để thu thập thông tin về các quá trình, các hiện tượng xã hội trên cơ
sở nghiên cứu của đề tài và mục đích của nghiên cứu. Trong quá trình thực hiện đề
tài tôi chú trọng quan sát cách ứng xử, những hành động của nạn nhân, đồng thời
quan sát thái độ và cách thức can thiệp của đội ngũ cán bộ hàng ngày để có cái nhìn
khách quan, sinh động về vấn đề nghiên cứu.
* Phương pháp xử lý số liệu (thống kê toán học)
Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu chính xác nhất cho nghiên cứu.
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Với mục đích sử dụng phương pháp này để xem xét nghiên cứu một cách

6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu cung cấp tương đối đầy đủ về hoạt động công tác xã hội đối với
nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam/dioxin ở Trung tâm nói riêng và nạn nhân bị
nhiễm chất độc da cam/dioxin trên cả nước nói chung. Trên cơ sở đó, gợi mở một
số biện pháp hỗ trợ nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho nạn nhân bị nhiễm chất độc da
cam/dioxin và gia đình của họ tiếp cận các chính sách, dịch vụ dành cho nạn nhân
bị nhiễm chất độc da cam/dioxin khắc phục những khó khăn vươn lên hòa nhập với
cộng đồng.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho người làm Công tác xã hội,
sinh viên Công tác xã hội, đồng thời đưa ra các giải pháp và hoàn thiện các dịch vụ
Công tác xã hội tại các Trung tâm có chức năng và nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng
và điều trị nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam/dioxin.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu các phụ lục luận văn còn
có 03 chương sau đây.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với người nhiễm
chất độc da cam/dioxin.
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với nạn nhân tại Trung tâm
chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam/dioxin
thành phố Hà Nội.
Chương 3. Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội đối
với nạn nhân từ thực tiễn tại Trung tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị nạn nhân
bị nhiễm chất độc da cam/dioxin thành phố Hà Nội.

10


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM/DIOXIN

triển một cách tích cực. Nếu như một cá nhân gặp phải khó khăn về tâm lý, có
những hành vi không phù hợp là do họ sống trong môi trường không lành mạnh,
không có điều kiện để họ phát huy tiềm năng của họ. Vì vậy, con người cần được
giúp đỡ để phát triển tiềm năng tâm lý một cách phù hợp. Từ đó, cho thấy nhiệm vụ
của nhân viên xã hội là giúp cá nhân tháo bỏ những rào cản trong môi trường xã
hội, giúp họ hiểu được chính mình, chấp nhận hoàn cảnh và tự điều chỉnh bản thân
để đạt được trạng thái cân bằng.
Như vậy, mục đích của người nhân viên xã hội khi thực hành theo thuyết
thân chủ trọng tâm không phải là chữa trị cho thân chủ hoặc tìm kiếm những
nguyên nhân từ quá khứ. Thay vào đó họ cần khuyến khích thân chủ tự hiện thực
hóa những tiềm năng của bản thân mình. Thân chủ được xem như là một chủ thể có
hiểu biết, họ phải được hiểu, được chấp nhận để nhân viên xã hội có thể cung cấp
những loại hình giúp đỡ được tốt hơn. Nhân viên xã hội cần phải khuyến khích thân
chủ khẳng định năng lực cá nhân của họ trong tiến trình giải quyết vấn đề của chính
mình [17, tr. 30-31].
1.2. Các khái niệm công cụ
* Khái niệm chất độc da cam/dioxin - Chất độc da cam (Agent Orange)
Chất độc màu da cam là một trong những loại chất diệt cỏ có màu mà không
lực Hoa Kỳ đã rải trên vùng đất nông thôn Việt Nam từ năm 1961 đến 1971 nhằm
diệt các loài cây gỗ, cây bụi và mùa màng lương thực là nguồn cung cấp sự che trở
và thực phẩm cho bên đối địch. Chất độc màu da cam là một hợp chất gồm 2 loại
thuốc diệt cỏ 2,4 - D và 2,4,5 – T được pha với tỷ lệ 50/50. Chất này duy trì chỉ
trong một vài ngày hoặc vài tuần và sau đó tự tiêu hủy. Nhưng nó có chứa độc chất,
dioxin, không phân hủy dễ dàng và hiện vẫn đang gây ra các vấn đề về sức khỏe
cho người dân ở Việt Nam.
Chất Dioxin: Tên hóa học của nó là dioxin 2,3,7,8-tetrachloro-dibenzo-para
hay còn gọi là TCDD. Nó là tên gọi chung của một nhóm hàng trăm các hợp chất
hóa học tồn tại bền vững trong môi trường cũng như trong cơ thể con người và

12

mắc bệnh, đó là điều mà khoa học chưa giải thích được. Theo số liệu của nữ khoa

13


học gia người Mỹ Sten-man, ở Việt Nam có khoảng 4,8 triệu người bị phơi nhiễm,
trong đó có 1,3 triệu người là nạn nhân.
Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT của Bộ Y tế, ngày 20/02/2008, quy định
danh mục 17 bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm dioxin, bao gồm:
1. Ung thư phần mềm (Soft tissue sarcoma)
2. U lympho không Hodgkin (Non-Hodgkin’s lymphoma)
3. U lympho Hodgkin (Hodgkin’s disease)
4. Ung thư phế quản - phổi (Lung and Bronchus cancer)
5. Ung thư khí quản (Trachea cancer)
6. Ung thư thanh quản (Larynx cancer)
7. Ung thư tuyến tiền liệt (Prostate cancer)
8. Ung thư gan nguyên phát (Primary liver cancer)
9. Bệnh đa u tuỷ xương ác tính (Kahler’s disease)
10. Bệnh thần kinh ngoại biên cấp tính và bán cấp tính (Acute and

sub-

acute peripheral neuropathy)
11. Tật gai đốt sống chẻ đôi (Spina Bifida)
12. Bệnh trứng cá do clo (Chloracne)
13. Bệnh đái tháo đường type 2 (Type 2 Diabetes)
14. Bệnh Porphyrin xuất hiện chậm (Porphyria cutanea tarda)
15. Các bất thường sinh sản (Unusual births)
16. Các dị dạng, dị tật bẩm sinh (đối với con của người bị nhiễm độc hoá
học/dioxin)

nhóm nạn nhân nhiễm chất độc da cam thông qua những hình thức giáo dục đơn giản
và phù hợp với năng lực nhận thức của nhóm nạn nhân [13, tr. 1-4].
* Khái niệm kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng giao tiếp là một tập hợp những quy tắc, nghệ thuật , cách ứng xử ,
đối đáp được đúc rút qua kinh nghiệm thực tế hằng ngày giúp mọi người giao tiếp
hiệu quả thuyết phục hơn khi áp dụng thuần thục kỹ năng giao tiếp. Trong phạm vi
của luận văn, kỹ năng giao tiếp được hiểu là những cách ứng xử chuyên nghiệp của
nhân viên CTXH trong các hoạt động can thiệp với đối tượng là nạn nhân chất độc
da cam [19].

15


* Khái niệm Công tác xã hội
Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011) thống
nhất một định nghĩa về CTXH như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia
vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay
đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất
lượng sống của con người. CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và
lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi
trường sống. CTXH có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm
trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và
tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách,
nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và
phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [17, tr. 4].
* Khái niệm Nhân viên CTXH
Nhân viên công tác xã hội (tiếng Anh là social worker) là những người hoạt
động trong nhiều lĩnh vực, được đào tạo chính quy và cả bán chuyên nghiệp,
được trang bị các kiến thức và kỹ năng trong CTXH để trợ giúp các đối tượng nâng
cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các

gồm: dịch vụ việc làm, dịch vụ tham vấn, tư vấn, dịch vụ y tế chăm sóc sức khoẻ,
dịch vụ tập huấn, đào tạo nghề, dịch vụ vay vốn, dịch vụ tín dụng [17, tr.14].
* Khái niệm công tác xã hội đối với nạn nhân chất độc da cam
Từ việc phân tích các khái niệm công cụ nghiên cứu trong đề tài của mình
đã trình bày ở trên, tác giả xin đưa ra khái niệm công cụ CTXH đối với nạn nhân
như sau: CTXH đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin là một phương
pháp can thiệp của CTXH. Đây là một tiến trình trợ giúp nạn nhân nhằm tạo cho họ
có cơ hội và môi trường để tham gia vào các hoạt động tương tác lẫn nhau, từ đó họ
có được các hành vi ứng xử cơ bản, có thêm kiến thức làm quen với môi trường,
trong đó, có thể có những cá nhân trở lại cộng đồng sinh hoạt, lao động bình thường
như những người khác.
* Khái niệm về hoạt động Công tác xã hội
Hoạt động CTXH là việc hành động và tạo ra những thay đổi tích cực hướng
tới các nhóm đối tượng của CTXH thông qua các hình thức khác nhau. Các hoạt
động CTXH được thực hiện bởi nhân viên CTXH có năng lực chuyên môn và theo

17


những quy trình, nguyên tắc và kỹ năng đặc thù trong CTXH. Trong phạm vi của
luận văn này, hoạt động CTXH là cách thức nhằm giúp các nạn nhân, gia đình nạn
nhân và cộng đồng giải quyết những vấn đề khó khăn nảy sinh trong cuộc sống,
trong quá trình tương tác giữa nạn nhân và môi trường xung quanh, trong tiến trình
phát triển xã hội. Từ đó, giúp nạn nhân vượt qua khó khăn hiện tại để phục hồi hay
tăng cường chức năng xã hội nhằm đem lại sự an sinh cao nhất cho nạn nhân và sự
tiến bộ, công bằng xã hội.
1.3. Nhu cầu của nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam/dioxin
Nạn nhân cũng có nhu cầu giống với người bình thường như: ăn, mặc, ở,
chăm sóc, bảo vệ, xã hội, tự thể hiện mình… Nhu cầu của họ cũng thể hiện theo 5
nhu cầu của Maslow.

kinh. Qua thực tế cuộc sống, chúng ta nhận thấy: sự cô đơn có thể dễ dàng giết chết con
người, nhiều nạn nhân đã lựa chọn con đường từ bỏ thế giới này bởi lý do: “không có
ai hiểu mình”. Để đáp ứng nhu cầu này của nạn nhân, các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng
nạn nhân đã tổ chức cho nạn nhân tham gia các buổi sinh hoạt chung, cùng chơi các trò
chơi tập thể, áp dụng các phương pháp hoạt động theo nhóm, từ đó giúp cho nạn nhân
có sự kết nối với những người xung quanh, tự tin trong suy nghĩ và hành động, cảm
nhận rằng mình còn có ích cho xã hội, cho gia đình.
- Nhu cầu được tôn trọng, hay còn gọi là nhu cầu tự trọng vì nó thể hiện
hai cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả
của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, tôn trọng chính bản thân, danh tiếng, sự tự tin
vào khả năng của bản thân. Hầu hết các nạn nhân thường bị hạn chế những thế
mạnh của bản thân. Vì vậy, nếu chúng ta chỉ nhìn vào những hạn chế đó mà có
những hành động, lời nói mang tính chỉ trích, chê bai sẽ làm cho tâm lý của nạn
nhân bị suy sụp, họ sẽ càng tự ti, sống khép mình, ngại giao tiếp với người khác. Để
khắc phục tình trạng đó, mọi người tiếp xúc với nạn nhan đều phải có sự tác động
tích cực, đưa ra lời khen hoặc tán thưởng khi nạn nhân đạt được bất cứ thành quả gì,
dù là lớn hay nhỏ. Nếu nhu cầu này được đáp ứng, có thể khiến cho nạn nhân cảm
thấy mình được tôn trọng, làm thay đổi cách nghĩ và hành động của nạn nhân, giúp
họ hợp tác hơn, tích cực trong học tập và rèn luyện.
Nhu cầu được thể hiện mình, bao gồm nhu cầu được học hành, được phát
triển những tiềm năng cá nhân. Maslow mô tả nhu cầu này là: “nhu cầu của một cá

19


nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để
làm”. Nói một cách đơn giản, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng,
tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã
hội. Nhu cầu này cũng chính là mục tiêu cao nhất mà giáo dục hiện đại nhắm đến.
Đối với nạn nhân, tuy sự khẳng định mình thể hiện qua vị trí không cao như người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status