NGÔ TẤN KHOA
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ TẤN KHOA
CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO DÂN TỘC THIỂU SỐ
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
KHÓA II
HÀ NỘI, 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ TẤN KHOA
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO DÂN TỘC THIỂU
SỐ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
hội, Cục Bảo trợ xã hội và Tổ chức Dịch vụ Gia đình và Cộng đồng Quốc tế
đã hỗ trợ và tạo mọi điều kiện cho tôi tham gia và hoàn thành khóa học một
cách tốt nhất.
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Hữu Nghị,
Khoa công tác xã hội, Học viện Khoa học xã hội đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ trong quá trình thực hiện Luận văn của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn ủy ban nhân dân huyện Đăk Hà và Phòng
Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đăk Hà đã trợ giúp tôi thu thập
thông tin để thực hiện Luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã
luôn quan tâm, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn
thành luận văn.
Do điều kiện thời gian có hạn, đề tài khó tránh khỏi thiếu sót, rất mong
nhận được sự góp ý của Quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp để đề tài được hoàn
thiện hơn và có ý nghĩa thực tiễn.
HỌC VIÊN
Ngô Tấn Khoa
MỤC LỤC
MỤC LỤC................................................................................................................. 5
1.5.3. Yếu tố thuộc về cán bộ làm công tác xã hội...........................................33
1.5.4. Yếu tố thuộc về cán bộ lãnh đạo chính quyền địa phương.....................33
THỰC TRẠNG NGƯỜI NGHÈO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ THỰC TRẠNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI
HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM....................................................................34
2.1. Thực trạng và nhu cầu của người nghèo dân tộc thiểu số tại huyện Đăk
Hà, tỉnh Kon Tum..............................................................................................34
Lao động- thương binh và xã hội
NVCTXH
Nhân viên công tác xã hội
NVXH
Nhân viên xã hội
TDTT
Thể dục thể thao
TGXH
Trợ giúp xã hội
TTCP
Thủ tướng Chính phủ
UBND
Ủy ban nhân dân
VHVN
Văn hóa – văn nghệ
32/2010/QĐ-TTg), còn gọi là Đề án 32. Chỉ từ khi Đề án được ban hành,
Công tác xã hội mới được chính thức coi như một ngành khoa học, một nghề
chuyên môn với việc ban hành mã ngành đào tạo và mã số ngạch viên chức.
Sau hơn 5 năm thực hiện quyết định của TTCP, công tác xã hội đã đạt nhiều
1
kết quả và phát triển ở những vùng thuận lợi, đô thị. Tuy nhiên, hiện nay các
nhóm đối tượng dễ bị tổn thương ở nước ta chủ yếu đang được sự bảo trợ của
ngành Lao động- Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH), trong đó có người
nghèo DTTS.
Có thể thấy, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã dành nhiều
chính sách và nguồn lực ưu tiên phát triển toàn diện kinh tế – xã hội, cơ sở hạ
tầng, giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực và đảm bảo an sinh xã hội đối
với người nghèo DTTS. Bên cạnh những thành tựu đạt được, chính sách an
sinh xã hội đối với người nghèo DTTS còn nhiều bất cập, tồn tại ảnh hưởng
đến hiệu quả của các chính sách, giảm mức độ tiếp cận và thụ hưởng các
chính sách, các dịch vụ xã hội của người nghèo DTTS.
Đăk Hà là huyện miền núi, vùng cao nằm ở phía bắc Kon Tum, được
thành lập lại vào ngày 24 tháng 3 năm 1994; là huyện giáp thành phố Kon
Tum có vị trí chiến lược quan trọng về giao thông và hợp tác phát triển kinh
tế với các huyện trong tỉnh. Tổng diện tích đất tự nhiên là 84.572 ha. Dân số
trung bình năm 2016 ước đạt 69.500 người, DTTS chiếm trên 49% với hơn 13
dân tộc sinh sống, trong đó có 03 tộc người tại chỗ, gồm: Xê Đăng, Ba Na, Sơ
Đrá và các dân tộc phía bắc: Thái, Nùng, Tày, Mường, Giao....
Toàn huyện hiện có 10 xã, 01 thị trấn, 103 thôn, tổ dân phố; có 04 xã
đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu; 23 thôn đặc biệt khó khăn
vùng dân tộc và miền núi thuộc diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn
2011 - 2016. Công tác xã hội đã được qua tâm và đã phát triển bước đầu về tổ
chức và một số đối tượng yếu thế đã được thu hưởng như: người cao tuổi,
công tác xã hội ở Việt Nam như: Hoàn thiện thể chế, chính sách; xây dựng
các tiêu chuẩn cơ sở bảo trợ ở Việt Nam; đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên
công tác xã hội và phát triển, nâng cấp mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ
công tác xã hội.
- Đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế “Giải pháp xóa đói giảm nghèo trên địa
bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam” của Đỗ Thị Dung (2011): Đã nghiên
cứu một số vấn đề lý luận về xóa đói giảm nghèo; thực trạng xóa đói giảm
nghèo trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam; nghiên cứu kết quả đạt
được của từng chính sách, đánh giá những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trong
3
công tác xóa đói giảm nghèo; đưa ra được phương hướng và giải pháp xóa đói
giảm nghèo trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Trong sách chuyên khảo “Chính sách xóa đói giảm nghèo - Thực
trạng và giải pháp” của PGS.TS. Lê Quốc Lý chủ biên, xuất bản năm 2012:
Đã nêu một số lý luận về xóa đói, giảm nghèo; những chủ trương, đường lối
của Đảng và chính sách của Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo; Thực trạng
đói nghèo ở Việt Nam; chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn
2001-2010; một số chương trình xóa đói giảm nghèo điển hình của Việt Nam
thời gian qua; đánh giá tổng quát thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo
của Việt Nam giai đoạn 2001-2010; định hướng và mục tiêu xóa đói, giảm
nghèo ở Việt Nam trong thời gian tới; một số cơ chế nhằm thực hiện có hiệu
quả chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam; giải pháp xóa đói, giảm
nghèo ở Việt Nam thời gian tới. Đây là cuốn sách bổ sung luận cứ cho công
tác hoạch định chính sách xóa đói, giảm nghèo, bổ sung tư liệu cho công tác
đào tào, nghiên cứu về chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam.
Song, các công trình, đề tài nghiên cứu nêu trên chỉ dừng lại ở một khía
cạnh như: Chính sách giảm nghèo, hoặc là công tác xã hội, chưa thấy có công
trình nào nghiên cứu đầy đủ: Công tác xã hội đối với người nghèo DTTS.
lý luận và thực trạng công tác xã hội đối với người nghèo DTTS tại huyện
Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này.
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Khảo sát được tiến hành tại huyện
Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu liên quan đến thực tiễn: Từ năm
2011 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để thu thập, phân
tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên
cứu, bao gồm các văn kiện, giáo trình, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của
Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình
5
nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn
thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề công tác xã
hội đối với người nghèo nói chung và người nghèo DTTS nói riêng. Đồng
thời, thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả trong và ngoài nước liên
quan đến đề tài trong thời gian qua.
Đồng thời, Luận văn còn sử dụng một số thuyết để phục vụ cho việc
nghiên cứu. Các thuyết đó là: Thuyết nhu cầu của Maslow và một số lý thuyết
khác sử dụng trong nghiên cứu đề tài. Việc sử dụng các thuyết trên vào trong
nghiên cứu nhằm giúp chúng ta có cơ sở, hiểu sâu hơn về tâm, sinh lý, đặc
điểm, nhu cầu và quá trình phát triển của con người, nhất là người nghèo
DTTS, cũng như những yếu tố có thể ảnh hưởng, tác động tích cực, tiêu cực
tới quá trình phát triển của người nghèo DTTS.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân
tích tổng hợp; Phương pháp phỏng vấn sâu; Phương pháp điều tra bằng bảng
Thương binh và Xã hội cấp xã để tìm hiểu về:
- Tác động, hiệu quả của hoạt động quản lý tới công việc của họ;
- Những bất cập, thuận lợi ở khía cạnh quản lý ảnh hưởng tới công việc
của họ như thế nào;
- Những đề xuất khuyến nghị của họ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý từ
đó giúp cho công việc của họ được thực hiện tốt hơn.
+ Nghiên cứu cũng sẽ phỏng vấn 100 hộ nghèo DTTS để tìm hiểu về:
- Thực trạng tình hình quản lý CTXH đối với người nghèo DTTS tại địa
phương
- Những mong muốn, nhu cầu và kiến nghị của người nghèo DTTS tại
địa phương.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Tiến hành điều tra
bằng bảng hỏi đối với 100 hộ nghèo DTTS ở các xã, thị trấn trên địa bàn
huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum và 28 cán bộ công chức cấp huyện, xã gồm
lãnh đạo huyện, xã và cán bộ làm công tác Lao động – Thương binh và xã hội
huyện và các xã, thị trấn.
Kết hợp cùng với các phương pháp thống kê, khái quát thực tiễn, phương
7
pháp phân tích định tính, suy luận logic, diễn giải trong quá trình phân tích,
đánh giá công tác xã hội đối với người nghèo DTTS.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn xác định khung lý thuyết nghiên cứu công tác xã hội đối với
người nghèo DTTS trong việc tiếp cận các chính sách, các dịch vụ cho người
nghèo như: các khái niệm, nhu cầu, quan niệm, nguyên tắc, nội dung, phương
pháp, kỹ năng cơ bản của công tác xã hội đối với người nghèo DTTS trong
việc tiếp cận các chính sách, các dịch vụ dành cho người nghèo, các yếu tố
ảnh hưởng tới công tác xã hội đối với người nghèo DTTS trong việc tiếp cận
tỉnh Kon Tum
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường công tác xã hội đối
với người nghèo dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Người nghèo dân tộc thiểu số: khái niệm, đặc điểm, nhu cầu
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của người nghèo dân tộc thiểu số
- Khái niệm nghèo, người nghèo, người nghèo dân tộc thiểu số.
Hiện nay có nhiều quan niệm về nghèo đói đang được sử dụng trên thế
giới:
Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham
gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ
mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để
trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp
cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị
loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị
bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không
được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn”.
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế - Xã hội Khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm
1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình
trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản
của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế
- xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được
xã hội thừa nhận".
hụt đa chiều về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm những hộ gia
đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách
nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu, và thiếu hụt từ 1/3 tổng số điểm
thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Người nghèo DTTS là người có tên trong sổ chứng nhận hộ nghèo/sổ
theo dõi quản lý hộ nghèo ở cấp xã, theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều của
Chính phủ, nghĩa là: người nghèo DTTS có thu nhập bình quân từ
700.000đ/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000đ/tháng ở khu vực thành thị.
Hoặc có thu nhập bình quân cao hơn 700.000đ/tháng ở khu vực nông thôn và
11
cao hơn 900.000đ/tháng ở khu vực đô thị nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối
thiểu và thiếu từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ cơ bản: y tế,
giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, thông tin liên lạc.
- Đặc điểm của người nghèo DTTS.
Việt Nam là một quốc gia đa thành phần dân tộc. Trong 54 dân tộc, có
tới 53 DTTS. Các thành phần DTTS có số dân gần 11 triệu người, chiếm
hơn 13% dân số cả nước. Các dân tộc sống đoàn kết, thân ái, tương trợ
với nhau, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết, có bản sắc văn hóa đa dạng và
phong phú trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Các thành phần DTTS cư trú phân tán, ở tất cả các tỉnh, thành phố
trong cả nước; cư trú xen kẽ. Trong 1 đơn vị hành chính, có nhiều thành phần
dân tộc cùng sinh sống. Địa bàn có đông DTTS cư trú là vùng miền núi, biên
giới, với diện tích tự nhiên chiếm 2/3 diện tích cả nước; đây là vùng có vị trí
địa lý, kinh tế và quốc phòng quan trọng. Vùng Tây Nguyên: Tỷ lệ dân số
DTTS chiếm trên 33% dân số của vùng và khoảng 13% dân số DTTS của cả
nước.
Người nghèo DTTS chiếm số đa trong các DTTS, họ có trình độ dân trí
thấp, sinh sống trong vùng có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều
phần có từ 5 đến 6 con; lao động chính của hộ gia đình có học vấn rất thấp, rất
khó có cơ hội tìm được việc làm có thu nhập khá và ổn định. Việc sản xuất và
canh tác phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên. Công tác giảm nghèo
trong người DTTS diễn ra với tốc độ chậm. Nghèo, tuổi thọ, tình trạng dinh
dưỡng và những chỉ số đo mức sống khác của họ vẫn còn ở mức thấp.
Cho đến nay vẫn chưa có một kết quả nghiên cứu hay tài liệu cụ thể
nào nói rõ về đặc điểm đời sống tâm lý - xã hội của người nghèo DTTS, thông
thường người ta dựa trên tâm lý của người yếu thế nói chung và những nét
biểu hiện thực tế của người nghèo DTTS để phác họa một số nét tâm lý - xã
hội cơ bản của người nghèo DTTS.
Về đời sống tâm lý: Nhìn chung người nghèo DTTS thường mặt cảm,
tự ti do hoàn cảnh, số phận của mình, sống thụ động trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ
trợ từ các chính sách giảm nghèo, trong đó có chính sách cho không của nhà
nước, điều kiện sống của người nghèo DTTS luôn thấp hơn mặt bằng chung
của cộng đồng nơi mình sinh sống. Đối với người nghèo DTTS họ luôn trong
13
tình trạng thiếu hụt các nhu cầu xã hội cơ bản từ những nhu cầu thiết yếu
nhất, do đó họ gặp rất nhiều nguy cơ trong cuộc sống, phải đối mặt với nhiều
khó khăn và thách thức trong cuộc sống do phải bảo đảm chi phí đắt đỏ cho
các dịch vụ y tế, nhà ở, giáo dục, đi lại và sinh hoạt tối thiểu. Do mặt cảm với
cuộc sống nên một số người nghèo DTTS ngại giao tiếp và tham gia vào các
hoạt động tập thể của cộng đồng, không mạnh dạn tham gia đề xuất ý kiến,
cho rằng lời nói của mình không có trọng lượng, không được cộng đồng chấp
nhận không dám đấu tranh, không dám bộc lộ bản thân. Bên cạnh đó có một
bộ phận không nhỏ người nghèo DTTS vẫn còn tư tưởng trông chờ ỷ lại,
buông xuôi, ngại thay đổi, phó mặc cho số phận và chưa thực sự quyết tâm
vươn lên để thoát nghèo bền vững.
Về đặc điểm kinh tế: Đa số người nghèo DTTS có những đặc điểm như
không muốn tìm việc làm, không muốn đi học, không muốn giao tiếp, không
muốn hợp tác...
Tóm lại, người nghèo DTTS có rất nhiều nhu cầu cần đáp ứng, đặc
biệt là các nhu cầu cơ bản như: giáo dục, y tế, nhà ở, vệ sinh môi trường,
thông tin liên lạc và điều kiện sống.
1.2. Khái niệm, mục tiêu, vai trò, các nguyên tắc của công tác xã hội
đối với người nghèo dân tộc thiểu số
1.2.1. Khái niệm công tác xã hội đối với người nghèo dân tộc thiểu số
Công tác xã hội đối với người nghèo DTTS là một hoạt động chuyên
nghiệp nhằm trợ giúp người nghèo DTTS nâng cao năng lực, đáp ứng những
nhu cầu thiết yếu về sức khỏe, tinh thần, vật chất và những nhu cầu xã hội cơ
bản khác. Đồng thời, công tác xã hội cũng có vai trò thúc đẩy môi trường xã
hội, kết nối nguồn lực nhằm giúp người nghèo DTTS có khả năng tiếp cận các
chính sách giảm nghèo và các dịch vụ xã hội cần thiết, từ đó vươn lên, chủ
động thoát nghèo bền vững, góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
1.2.2. Mục tiêu, vai trò của công tác xã hội đối với người nghèo dân
tộc thiểu số
1.2.2.1. Mục tiêu công tác xã hội đối với người nghèo dân tộc thiểu số
Mục tiêu cuối cùng của CTXH đối với nghèo DTTS là giúp họ học
cách thực hiện chức năng của mình để đáp ứng các nhu cầu phát triển cả về
mặt tâm lý, tình cảm và xã hội cho tất cả các thành viên trong gia đình. Đó là:
15
Tăng cường sức mạnh của cá nhân và gia đình để mọi người sẵn sàng cho
những thay đổi tốt hơn; Cung cấp thêm những dịch vụ can thiệp cá nhân, gia
đình và cộng đồng để duy trì thực hiện chức năng một cách hiệu quả; Tạo ra
những thay đổi cụ thể trong việc thực hiện chức năng của gia đình nhằm duy
trì hoạt động để đảm bảo cuộc sống của mọi thành viên trong gia đình được
tốt hơn.
giảm nghèo đã áp dụng... giúp họ phân tích tình hình của cộng đồng người
nghèo DTTS và xây dựng chương trình hành động, xây dựng dự án giảm
nghèo hiệu quả, bền vững cho cộng đồng người nghèo DTTS.
- Vai trò là người huấn luyện: Nhân viên công tác xã hội tham gia huấn
luyện cho các nhóm, cộng đồng người nghèo DTTS, chuyển giao cho họ kiến
thức, kỹ năng để thoát nghèo thông qua các chương trình hành động, dự án
giảm nghèo bền vững.
- Vai trò là người lập kế hoạch: Nhân viên công tác xã hội hỗ trợ người
nghèo DTTS về phương pháp và yêu cầu của một kế hoạch, đồng thời tạo
điều kiện để người nghèo DTTS tham gia đóng góp quyết định những nội
dung của kế hoạch, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn và vai trò tự quyết
của họ trong cộng đồng về kế hoạch theo tinh thần: “làm với cộng đồng chứ
không phải làm cho cộng đồng”.
- Vai trò kết nối: Công tác xã hội huy động, liên kết và phát huy nguồn
lực trong và ngoài cộng đồng để trợ giúp cho người nghèo DTTS, nhằm thỏa
mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho người nghèo DTTS.
- Thông qua các phương pháp tác nghiệp chuyên nghiệp, nhân viên
CTXH sẽ trực tiếp giải quyết các vấn đề của người nghèo DTTS, hỗ trợ giải
quyết các vấn đề về việc làm, thu nhập, lao động, các vấn đề xã hội nảy sinh
khác cho người nghèo DTTS. Sự trợ giúp này mang tính lâu dài, bền vững.
Như vậy, vai trò trợ giúp chuyên nghiệp của người làm CTXH sẽ tạo ra
sự tương tác giữa người trợ giúp, nguồn lực trợ giúp với đối tượng trợ giúp.
Vì vậy, người nghèo DTTS sẽ tự nhận ra được vấn đề của mình, xác định
nguyên nhân, đề xuất giải pháp và nỗ lực thực thi trên cơ sở phát huy điểm
mạnh, tiềm năng, nội lực của mình với các nguồn lực bên ngoài để giải quyết
vấn đề, cải thiện hoàn cảnh, vươn lên thoát nghèo bền vững.
17
18