Xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt qua việc lựa chọn những văn bản tương đương cho học sinh lớp 2 - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
------------******------------

ĐẶNG THỊ ÁNH HỒNG

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT
QUA VIỆC LỰA CHỌN NHỮNG VĂN BẢN TƯƠNG ĐƯƠNG

CHO HỌC SINH LỚP 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
------------******------------

ĐẶNG THỊ ÁNH HỒNG

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT
QUA VIỆC LỰA CHỌN NHỮNG VĂN BẢN TƯƠNG ĐƯƠNG
CHO HỌC SINH LỚP 2

Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc Tiểu học)
Mã số

: 60 14 01 01


sau đại học, Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình
học tập.
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Tiểu học Kim Đồng, quận Ba
Đình và trường Tiểu học Nguyễn Du, quận Hoàn Kiếm đã tạo mọi điều kiện
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã
luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài
nghiên cứu của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. Đối chứng

ĐC

2. Giáo viên

GV

3. Học sinh

HS

4. Luyện từ và câu

LTVC

5. Sách giáo khoa

2.1.1. Tính tương đồng về thể loại văn bản ............................................ 26
2.1.2. Tính tương đồng về nội dung của văn bản.................................... 26
2.2. Hệ thống bài tập cụ thể ........................................................................ 27
2.2.1. Hệ thống bài tập phân môn Tập đọc ............................................. 27
2.2.2. Hệ thống bài tập phân môn Luyện từ và câu ................................ 43
2.2.3. Hệ thống bài tập luyện tập tổng hợp ............................................. 58
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 78
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ........................................................ 79
3.1. Một số vấn đề chung ............................................................................ 79


3.1.1. Mục đích thực nghiệm .................................................................. 79
3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm .................................................................. 79
3.1.3. Nội dung thực nghiệm................................................................... 81
3.1.4. Thời gian và quy trình thực nghiệm.............................................. 82
3.2. Tiến trình triển khai thực nghiệm ........................................................ 82
3.3. Kết quả thực nghiệm ............................................................................ 83
3.3.1. Kết quả định lượng (qua các bài kiểm tra).................................... 83
3.3.2. Kết quả định tính (qua điều tra quan sát và phiếu hỏi) ................. 86
3.3.3 Nhận xét chung .............................................................................. 86
Tiểu kết chương 3........................................................................................... 88
KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHỊ ..................................................................... 89
Kết luận ....................................................................................................... 89
Khuyến nghị ................................................................................................ 90
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................... 91


1

MỞ ĐẦU

toàn diện nền giáo dục nước ta.
Do tầm quan trọng, quy mô, tính chất và nội dung rộng lớn đó, nên
công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục không phải là nhiệm vụ
riêng của ngành giáo dục. Đây là sự nghiệp lớn lao của cả Đảng, Nhà nước và
toàn xã hội. Với sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng, Chính phủ, với sự tham gia
của đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp và những người
am hiểu sâu sắc về giáo dục, thì công cuộc đổi mới một cách căn bản và toàn
diện nền giáo dục Việt Nam chắc chắn sẽ thành công như những kỳ vọng
dành cho nó. Nhằm quán triệt tình thần này, thì Bộ Chính trị đã yêu cầu “cấp
ủy chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp cần tiếp tục quán
triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 2 (khóa
VIII), phấn đấu đến năm 2020 nước ta có một nền giáo dục tiên tiến, mang
đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tiếp tục đổi mới chương
trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giáo dục. Rà soát lại toàn bộ
chương trình và sách giáo khoa phổ thông, sớm khắc phục tình trạng quá tải,
nặng về lí thuyết, nhẹ về thực hành, chưa khuyến khích đúng mức sang tạo
của người học, chuẩn bị kĩ việc xây dựng và triển khai thực hiện bộ chương
trình giáo dục phổ thông mới theo hiện đại, phù hợp và có hiệu quả” (theo Kết
luận số 242 về đổi mới Giáo dục và Đào tạo). Ngoài ra, theo Quyết định số
711 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo
dục của nước ta đến 2020, thì định hướng đến năm 2020 nền giáo dục nước ta
được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, chất lượng giáo dục được nâng cao một
cách toàn diện.


3

Cụ thể, bộ môn Tiếng Việt được dạy ở trường phổ thông, được biết đến

còn bài tập đọc hiểu chỉ được giới hạn trong phần tìm hiểu bài của 2 bài Tập
đọc. Mặc dù hiện nay số lượng đầu sách tham khảo là rất lớn song các bậc
phụ huynh muốn tự rèn luyện thêm cho con ở nhà lại không biết lựa chọn đầu
sách nào sao cho phù hợp với con em mình. Vậy phải làm thế nào để học sinh
được thực hành, luyện tập nâng cao nhận thức trong các phân môn Tiếng Việt?
Là giáo viên, tôi nhận thấy rằng : Các em học sinh Tiểu học tuy còn ít
tuổi nhưng có thể rèn luyện, trau dồi để từng bước nâng cao trình độ về văn
học giúp cho việc học tập môn Tiếng Việt ngày càng tốt hơn. Để học sinh có
những khả năng trên, ngoài việc các em tự giác phấn đấu thì việc “Xây dựng
hệ thống bài tập Tiếng Việt qua việc lựa chọn những văn bản tương
đương cho học sinh lớp 2” sẽ giúp giáo viên có thêm tư liệu giảng dạy phong
phú và học sinh được thực hành nhiều hơn, vừa tránh được sự lệ thuộc máy
móc vào sách giáo khoa vừa giúp học sinh có khả năng linh hoạt và tự tin,
góp phần nâng cao chất lượng dạy – học Tiếng Việt cho học sinh lớp 2.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu “Xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt cho
học sinh lớp 2”
Tiếng Việt có vai trò rất qua trọng trong cuộc sống cũng như trong học
tập. Điều này lại càng quan trọng hơn đối với học sinh tiểu học bởi học tốt
Tiếng Việt các em sẽ học các môn học khác dễ dàng hơn. Vì vậy, để giúp học
sinh học tốt môn Tiếng Việt, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và cho ra đời
nhiều cuốn sách để bổ trợ và nâng cao kiến thức cho học sinh như :
- Nguyễn Trí Dũng, Hoàng Minh Hương, Phan Phương Dung, Nguyễn
Thanh Thủy (2013), Cùng em học Tiếng Việt lớp 2, Nhà xuất bản Hà Nội.
- Nguyễn Thị Hạnh (2007), Bài tập thực hành Tiếng Việt 2, Nhà xuất
bản Đại học Sư phạm.


5



- Nguyễn Trí Dũng, Hoàng Minh Hương, Phan Phương Dung, Nguyễn
Thanh Thủy (2013), Cùng em học Tiếng Việt lớp 2, NXB Hà Nội.
- Đặng Thị Trà, Trần Thị Hằng (2009), Bài tập Tiếng Việt nâng cao lớp
2, Nhà xuất bản Sư phạm, Hà Nội.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào sử dụng toàn bộ ngữ liệu khác với
văn bản trong SGK khi xây dựng bài tập Tiếng Việt cho HS lớp 2, nhưng các
công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã là gợi ý quan trọng cho tôi thực
hiện công việc “Xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt qua việc lựa chọn
những văn bản tương đương cho học sinh lớp 2”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt
cho học sinh lớp 2.
- Làm rõ hiệu quả của hệ thống bài tập Tiếng Việt được xây dựng
qua những văn bản tương đương trong việc dạy - học Tiếng Việt lớp 2.
- Xây dựng được hệ thống bài tập Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 trên
ngữ liệu có tính tương đồng với văn bản trong sách giáo khoa.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định những vấn đề lí luận làm cơ sở cho đề tài.
- Điều tra thực trạng việc dạy - học Tiếng Việt lớp 2.
- Tìm các văn bản tương đương và xây dựng hệ thống bài tập Tiếng
Việt cho học sinh lớp 2.
- Thực nghiệm sư phạm
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống bài tập Tiếng Việt cho
học sinh lớp 2 trên những văn bản Tiếng Việt tương đương với văn bản trong
sách giáo khoa.




8

5.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Sau khi đã thống kê, phân loại các tư liệu thay thế, tôi đã vận dụng
phương pháp so sánh, đối chiếu để chọn lọc ra những tư liệu tốt nhất để sử
dụng.
5.4. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã được dự giờ của một số đồng nghiệp
trong và ngoài trường. Tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn để
quan sát, tìm hiểu về chất lượng dạy - học, hoạt động dạy - học, xu thế dạy học môn Tiếng Việt (các phân môn TĐ, LTVC) ở Tiểu học, từ đó rút ra
những nhận định về thực trạng dạy học môn Tiếng Việt để có phương hướng
trong việc xây dựng hệ thống bài tập phù hợp với HS lớp 2.
5.5. Phương pháp thực nghiệm
Cuối cùng, phương pháp thực nghiệm đã được vận dụng trong quá trình
thiết kế, xây dựng hệ thống bài tập các phân môn TĐ, LTVC cho HS lớp 2 ở
trường 2 Tiểu học là trường Tiểu Học Kim Đồng (Quận Ba Đình) và trường
Tiểu học Nguyễn Du (Quận Hoàn Kiếm, HN). Chúng tôi đã tiến hành kiểm
tra, đánh giá kết quả học tập của HS (bằng phiếu điều tra, bài kiểm tra) có so
sánh ở cả 2 trường.
6. Đóng góp mới
- Về lý luận: Nghiên cứu lý luận về bài tập cho học sinh Tiểu học nói
chung và bài tập cho học sinh lớp 2 nói riêng.
- Về thực tiễn:
+ Cụ thể hóa các dạng bài tập Tiếng Việt cho học sinh lớp 2.
+ Góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy và học các phân môn thuộc
môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 2.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được triển khai trong 3 chương:

con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Những mục tiêu trên được cụ thể hóa thành mục tiêu của môn Tiếng
Việt lớp 2 (phân môn TĐ, LTVC) như sau:
1.1.1.1. Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ của phân môn Tập đọc
- môn Tiếng Việt lớp 2
Phân môn Tập đọc rèn cho học sinh các kĩ năng đọc (đọc thành tiếng,
đọc thầm, đọc hiểu, đọc diễn cảm), nghe và nói. Bên cạnh đó, thông qua hệ
thống bài đọc theo chủ điểm và những câu hỏi, những bài tập khai thác nội
dung bài đọc, phân môn Tập đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết về


11

thiên nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu
biết về tác phẩm văn học và góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh.
Yêu cầu về kĩ năng:
Phát triển các kĩ năng đọc, nghe và nói cho HS
a. Đọc thành tiếng:
- Phát âm đúng.
- Ngắt nghỉ hợp lí.
- Cường độ đọc vừa phải (không đọc to quá hay đọc lí nhí).
- Tốc độ đọc vừa phải (không ê a, ngắc ngứ hay liến thoắng), đạt yêu cầu
khoảng 50 tiếng/phút.
b. Đọc thầm và hiểu nội dung:
- Biết đọc không thành tiếng, không mấp máy môi.
- Hiểu được nghĩa của các từ ngữ trong văn cảnh (bài đọc); nắm được nội
dung của câu, đoạn hoặc bài đã đọc.
c. Nghe:
- Nghe và nắm được cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn, bài.
- Nghe – hiểu các câu hỏi và yêu cầu của thầy, cô.

a. Mở rộng vốn từ và cung cấp cho HS một số hiểu biết sơ giản về từ
loại (từ chỉ người, con vật, đồ vật, cây cối; từ chỉ hoạt động, trạng thái; từ chỉ
đặc điểm, tính chất).
b. Rèn luyện cho HS các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu
câu. Cụ thể :
- Đặt câu :
+ Các kiểu câu Ai là gì?, Ai làm gì?, Ai thế nào? và những bộ phận
chính của các kiểu câu ấy.
+ Những bộ phận câu trả lời cho các câu hỏi Khi nào?, Ở đâu?, Như
thế nào?, Vì sao?, Để làm gì?
- Dấu câu : dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy.


13

c. Bồi dưỡng cho HS thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu và
thích học tiếng Việt.
1.1.1.3. Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ của phân môn Tập làm
văn - môn Tiếng Việt lớp 2
Phân môn Tập làm văn rèn cả 4 kĩ năng nghe, nói, viết và đọc. Trong
giờ Tập làm văn, học sinh được cung cấp kiến thức về cách làm bài và các bài
tập (nói, viết) xây dựng các loại văn bản và các bộ phận cấu thành của văn bản.
a. Rèn luyện cho HS các kĩ năng nói, viết, nghe, đọc, phục vụ cho việc
học tập và giao tiếp, cụ thể :
- Nắm được các nghi thức lời nói tối thiểu, như : chào hỏi, tự giới
thiệu, cảm ơn, xin lỗi, nhờ cậy, yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành, từ
chối, chia vui, chia buồn, …; biết sử dụng chúng trong một số tình huống
giao tiếp ở gia đình, trong trường học và nơi công cộng.
- Nắm được một số kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày,
như : khai bản tự thuật ngắn, viết những bức thư ngắn để nhắn tin, chia vui

trong chương trình mà còn tạo cơ hội cho HS được rèn luyện sâu hơn bốn kĩ
năng cơ bản là nghe, nói, đọc, viết.
Ví dụ: Phân môn TĐ trong chương trình lớp 2 hiện nay chủ yếu chỉ rèn
luyện cho HS kĩ năng đọc thành tiếng, đọc thầm mà xem nhẹ việc rèn kĩ năng
đọc hiểu. Bởi lẽ hệ thống câu hỏi sau các bài tập đọc trong chương trình đa
phần là câu hỏi tự luận. Một giờ học chỉ có vài HS được tham gia trả lời nên
hầu hết các em có kĩ năng đọc hiểu kém. Trong khi đó, hệ thống các bài tập
của phân môn TĐ mà chúng tôi xây dựng có nhiều câu hỏi dưới hình thức trắc
nghiệm khách quan nên tạo cơ hội cho tất cả HS đều được trả lời câu hỏi tìm
hiểu về nội dung bài đọc. Nhờ đó mà kĩ năng đọc hiểu được nâng cao hơn.
Như vậy, hệ thống bài tập Tiếng Việt đã bổ sung, rèn luyện thêm những
kĩ năng mà HS còn yếu hoặc thiếu hụt qua chương trình học. Do đó nó có vai
trò rất quan trọng trong việc đảm bảo mục tiêu về kĩ năng cho HS lớp 2.


15

1.1.2.3. Tầm quan trọng của hệ thống bài tập Tiếng Việt trong việc đạt
mục tiêu về thái độ cho học sinh lớp 2
Trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt, chúng tôi đã cân
nhắc và lựa chọn các ngữ liệu không những tương đồng với văn bản trong
SGK về thể loại và chủ đề mà các ngữ liệu này còn có nội dung hấp dẫn,
mang tính giáo dục, tính nghệ thuật cao. Vì thế hệ thống bài tập này không chỉ
có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo mục tiêu về kiến thức, kĩ năng cho
HS lớp 2 mà đây còn là nguồn tư liệu phong phú, bổ sung thêm những tri thức
về đời sống, văn học, nghệ thuật,… cho HS. Tính mới mẻ của ngữ liệu kích
thích trí tò mò và khơi gợi hứng thú học tập cho HS. Đồng thời, thông qua
những ngữ liệu này, HS được bồi dưỡng thêm tình yêu quê hương, đất nước,
yêu ngôn ngữ của tổ quốc mình, hình thành ý thức giữ gìn và phát huy sự
trong sáng của tiếng mẹ đẻ.

đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ bằng nguồn tư liệu phong phú
hơn. Đồng thời, thay đổi các hình thức luyện tập cho trẻ đỡ nhàm chán.
Những việc làm này góp phần làm phong phú vốn ngôn ngữ, nâng cao khả
năng tư duy, trí tưởng tượng cho trẻ.
1.1.3.2. Đặc điểm tư duy ngôn ngữ của học sinh lớp 2
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của
loài người, phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ là phương
tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội, và là công cụ tư duy của con người.
Ngôn ngữ thường được chia làm hai loại đó là ngôn ngữ nói và ngôn
ngữ viết. Đối với học sinh những lớp đầu cấp Tiểu học, ngôn ngữ của các em
còn bị hạn chế do vốn sống còn ít ỏi. Ngôn ngữ viết lại càng hạn chế hơn.
Nhiều khi các em hiểu song không biết phải diễn đạt ra như thế nào. Do đó,
học sinh lớp 1 thường gặp khó khăn trong việc nói hoặc viết thành câu hoàn
chỉnh. Còn HS lớp 2 lại gặp khó khăn khi diễn đạt ở phân môn Tập làm văn.
Do vậy, muốn HS lớp 2 học tốt phân môn này, người giáo viên phải cung cấp


17

cho các em một vốn từ nhất định. Đồng thời giúp các em hiểu rõ nghĩa của từ
cũng như cách sử dụng các từ đó trong từng ngữ cảnh nhất định. Bên cạnh đó
thì việc hiểu nghĩa của từ phát triển rất mạnh ở HS tiểu học. Nếu trước tuổi đi
học, các em chỉ có thể hiểu được khoảng 3500 từ đến 4000 từ thì những năm
sau đó, các em có thể hiểu được khoảng 8000 từ. Mặt khác, HS tiểu học cũng
dần hình thành những suy diễn ngôn ngữ cho phép hiểu nhiều hơn những gì
được nói ra và đây cũng là một trong những đặc trưng phát triển ngôn ngữ của
lứa tuổi này. HS tiểu học không chỉ hoàn thiện ngữ pháp và ngữ nghĩa của
ngôn ngữ mà phải hình thành cho HS năng lực đọc, viết thành thạo. [19,tr.
158-159]. Muốn vậy, người giáo viên cần cung cấp cho học sinh các dạng bài
tập đọc và luyện từ và câu phong phú, phù hợp với từng chủ điểm.

hoàn chỉnh về mặt cấu trúc của văn bản còn chịu sự chi phối gián tiếp của
phong cách ngôn ngữ văn bản. Tuỳ vào phong cách ngôn ngữ, cấu trúc của
các văn bản thuộc phong cách hành chánh phải tuân thủ khuôn mẫu rất
nghiêm ngặt. Các văn bản thuộc phong cách khoa học cũng ít nhiều mang tính
khuôn mẫu, thể hiện qua bố cục của các phần. Riêng văn bản thuộc phong
cách nghệ thuật như thơ, truyện, ký thì thường có cấu trúc linh hoạt.
- Tính liên kết
Tính liên kết của văn bản là tính chất kết hợp, gắn bó, ràng buộc qua lại
giữa các cấp độ đơn vị dưới văn bản. Ðó là sự kết hợp, gắn bó giữa các câu
trong đoạn, giữa các đoạn, các phần, các chương với nhau, xét về mặt nội
dung cũng như hình thức biểu đạt. Trên cơ sở đó,tính liên kết của văn bản thể
hiện ở hai mặt: liên kết nội dung và liên kết hình thức.
a) Tính liên kết nội dung:
Nội dung văn bản bao gồm hai nhân tố cơ bản: đề tài và chủ đề. Do đó,
tính liên kết về mặt nội dung thể hiện tập trung qua việc tổ chức, triển khai hai
nhân tố này, trên cơ sở đó hình thành 2 nhân tố liên kết: liên kết đề tài và liên
kết chủ đề.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status