HÀNH VI GIAO TIẾP TRÊN MẠNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHÁNH HÒA - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------

HÀ DIỆU LINH

HÀNH VI GIAO TIẾP TRÊN MẠNG XÃ HỘI
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHÁNH HÒA
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60310401

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TÂM LÝ

Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Anh Phước

HÀ NỘI – 2017

0


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan thực hiện đề tài này hoàn toàn độc lập, theo đúng hướng
dẫn của Nhà trường và Giảng viên hướng dẫn.
Tôi cam đoan số liệu trong kết quả nghiên cứu là trung thực, chính xác và
được thực hiện tại địa điểm nghiên cứu.
Học viên

Hà Diệu Linh

1


CỦA SINH VIÊN ............................................................................................................. 10
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề .................................................................................... 10
1.1.1. Những nghiên cứu về giao tiếp .............................................................................. 10
1.1.2. Những nghiên cứu về hành vi giao tiếp trên mạng xã hội ...................................... 14
1.2. Các khái niệm cơ bản ................................................................................................. 17
1.2.1. Hành vi giao tiếp trên mạng xã hội ......................................................................... 17
1.2.2. Hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên ................................................... 34
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................... 48
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu ................................................................................ 48
2.2. Tổ chức nghiên cứu .................................................................................................... 50
2.2.1. Tổ chức nghiên cứu lí luận ...................................................................................... 50
2.2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng ............................................................................... 51
2.2.3. Đề xuất biện pháp và tổ chức thử nghiệm............................................................... 52
2.3. Các phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 53
2.3.1. Các nguyên tắc phương pháp luận .......................................................................... 53
2.3.2. Các phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 55
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HÀNH VI GIAO TIẾP TRÊN MẠNG XÃ HỘI CỦA
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHÁNH HÒA .......................................................... 66
3.1. Kết quả thực trạng ...................................................................................................... 66
3.1.1. Nội dung giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa .... 66

3


3.1.2. Cách sử dụng các phương tiện giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường
Đại học Khánh Hòa ........................................................................................................... 70
3.1.3. Cách thức thể hiện trong giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học
Khánh Hòa......................................................................................................................... 79
3.1.4. Ảnh hưởng của việc giao tiếp trên mạng xã hội đến bản thân và đối tượng giao
tiếp của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa .................................................................. 82

Bảng 3.10 Thái độ sẵn sàng thay đổi hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên .. 94
Bảng 3.11 Các dự định thay đổi hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên .......... 96
2. MỤC LỤC BIỂU ĐỒ

5


Biểu đồ 1: Nội dung giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh
Hòa .................................................................................................................................... 67
Biểu đồ 2: Các cách thức thể hiện trong giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường
Đại học Khánh Hòa ........................................................................................................... 80
Biểu đồ 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên
trường Đại học Khánh Hòa ............................................................................................... 88
Biểu đồ 4 Các giá trị sinh viên nhận được về hành vi giao tiếp trên mạng xã hội ........... 93
Biểu đồ 5 Thái độ sẵn sàng thay đổi hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên ... 95

6


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử hình thành và phát triển con người, giao tiếp là một nhu cầu cơ
bản, không thể thiếu. Giao tiếp, cùng với lao động và ngôn ngữ, giúp chuyển biến lối
sống bầy đàn của loài vượn cổ sang cuộc sống của con người, hình thành nên xã hội
loài người. Giao tiếp gắn liền với mỗi cá nhân từ khi lọt lòng đến khi kết thúc cuộc đời.
Giao tiếp giúp các cá nhân thiết lập nên mối quan hệ xã hội – yếu tố quan trọng giúp
củng cố và phát triển xã hội loài người nói chung và từng thành viên trong xã hội nói
riêng. Thông qua giao tiếp, cá nhân học hỏi được những hành vi xã hội thích hợp, hiểu
được vai trò và ý nghĩa của những hành vi đó trong điều kiện xã hội mà họ đang sống,
đảm bảo cho sự hợp tác, cùng chung sống của các cá nhân trong xã hội. Nhờ có giao

Tìm hiểu thực trạng hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại
học Khánh Hòa và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi giao tiếp này. Trên cơ sở đó, đề
xuất một số biện pháp tác động nhằm cải thiện hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của
sinh viên trường Đại học Khánh Hòa và thử nghiệm một biện pháp.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
-

Khách thể nghiên cứu: 100 sinh viên năm nhất và 100 sinh viên năm hai trường

Đại học Khánh Hòa.
-

Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện hành vi giao tiếp của sinh viên trường Đại học

Khánh Hòa.
4. Giả thuyết khoa học
Đa số sinh viên trường Đại học Khánh Hòa có hành vi giao tiếp tích cực trên
mạng xã hội. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận sinh viên có biểu hiện hành vi giao tiếp
chưa đúng mực trên mạng xã hội do bị chi phối bởi một số yếu tố khách quan và chủ
quan. Nếu có các biện pháp tác động phù hợp trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng và
nguyên nhân của các hành vi giao tiếp chưa đúng mực của sinh viên sẽ cải thiện hành
vi giao tiếp trên mạng xã hội của các em.

8


5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên
5.2. Khảo sát thực trạng hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường
Đại học Khánh Hòa và các yếu tố ảnh hưởng

1.1.1. Những nghiên cứu về giao tiếp
*Nghiên cứu về giao tiếp ở nước ngoài
Vấn đề về giao tiếp đã được nghiên cứu từ rất sớm trên thế giới. Thời cổ đại, các
nhà triết học như Socrate (470 – 339 TCN), Platon (428 – 347 TCN) đã đề cập đến vấn
đề giao tiếp, coi sự đối thoại là sự giao tiếp trí tuệ của những con người biết suy nghĩ,
là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người (14).
Bước vào thời kỳ Phục Hưng, giao tiếp được coi như là một phương thức ứng
xử có văn hóa của con người và được các nhà nghệ thuật coi là đối tượng nghiên cứu.
Trong đó, tiêu biểu là họa sĩ thiên tài người Ý Leonardo do Vinci (1452 - 1512) đã
miêu tả sự giao tiếp mẹ - con thông qua các bức tranh nổi tiếng của mình (45).
Thế kỷ XIX, K. Mark (1818 - 1833) đã có những nghiên cứu sâu sắc về giao
tiếp trong “Bản thảo Kinh tế - Triết học”, thể hiện ở những quan điểm “Giao tiếp với
những người khác đã trở thanh khí quan biểu hiện sinh hoạt của tôi và một trong những
phương thức chiếm hữu sinh hoạt của con người” hay “Thông qua giao tiếp với người
khác mà có thái độ với chính bản thân mình, mỗi người tự soi mình” hoặc “Con người
chỉ trở thành con người khi có những quan hệ hiện thực với người khác, có quan hệ
trực tiếp với những người khác” (24).

10


Bước sang thế kỷ XX, giao tiếp đã được các nhà khoa học quan tâm với tư cách
là một khoa học và được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực: triết học, xã hội học, đặc biệt
là tâm lý học với các nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống.
Nhà phân tâm học S.Freud (1856 - 1939) đã nghiên cứu về mối liên hệ giữa giao
tiếp và giấc mơ và khẳng định cơ chế đồng nhất hóa đảm bảo mối liên hệ qua lại giữa
các chủ thể trong nhóm xã hội, từ đó tạo ra sự đồng nhất cảm xúc, thấu cảm, tiếp thu
tình cảm của người khác (31).
Tâm lý học Gestalt quan tâm đến hiện tượng giao tiếp như một cấu trúc trọn
vẹn. Họ phân tích giao tiếp thành các yếu tố và đặt chúng trong hệ thống các yếu tố

Leonchiev với “Giao tiếp sư phạm” (1979), A.V.Petropxki với “Tâm lý học lứa tuổi và
tâm lý học sư phạm”... và một số tác giả khác tập trung nghiên cứu về mối quan hệ
giữa giáo viên và học sinh trong giao tiếp trường học.
Những quan điểm trên mặc dù có cách tiếp cận khác nhau nhưng đều khẳng
định vai trò quyết định của giao tiếp trong sự phát triển của loài người nói chung và
trong sự phát triển nhân cách của từng cá nhân nói riêng.
*Nghiên cứu về giao tiếp ở trong nước
Các công trình nghiên cứu về giao tiếp ở nước ta khá đa dạng, phong phú và
chia làm nhiều hướng khác nhau.
Hướng đầu tiên nghiên cứu vấn đề giao tiếp với các khía cạnh khác nhau về bản
chất của giao tiếp, vai trò, vị trí của giao tiếp trong sự hình thành nhân cách.Có thể đề
cập đến một số tác giả như Bùi Văn Huệ “Bàn về phạm trù giao tiếp” (1981); Nguyễn
Sinh Huy, Trần trọng Thủy với “Nhập môn khoa học giao tiếp” (2006).

12


Hướng thứ hai đề cập đến giao tiếp trong nhà trường với khái niệm giao tiếp,
chức năng, vai trò của giao tiếp, phong cách giao tiếp, hệ thống phân loại giao tiếp,….
Và các nguyên tắc, quy trình ứng xử trong giao tiếp sư phạm, cung cấp cái nhìn hệ
thống về các vấn đề lý luận và thực tiễn trong giao tiếp sư phạm như “Giao tiếp và ứng
xử sư phạm” (1992) của tác giả Ngô Công Hoàn, “Giao tiếp sư phạm” (1997) của tác
giả Hoàng Anh, “Đặc điểm giao tiếp sư phạm” (1985) của tác giả Trần Trọng Thủy.
Hướng thứ ba tập trung vào nghiên cứu các kỹ năng giao tiếp trong nhiều lĩnh
vực khác nhau như Trần Trọng Thủy với bài “Tình người, giao tiếp và văn hóa giao
tiếp” (1998) đã đề cập đến một số kỹ năng giao tiếp như kỹ năng chỉnh sửa các ấn
tượng ban đầu của mình về người khác khi mới quen họ, kỹ năng bước vào giao tiếp
với người khác một cách không có định kiến. Tác giả Nguyễn Văn Đính đề cập đến
một số kỹ năng giao tiếp mà người hướng dẫn viên cần có khi tiếp xúc với khách du
lịch trong “Giáo trình tâm lý và nghệ thuật giao tiếp ứng xử trong kinh doanh du lịch”

hành vi có chủ định; hành vi giao tiếp nhằm mục đích hướng đến sự lĩnh hội; các thành
viên của nhóm trong tâm trạng liên kết với nhau (22).
Tác giả Erhard Thiel trong cuốn “Hành vi giao tiếp” đã cho rằng: con người có
nhiều cách thể hiện mình. Dù muốn hay không, những suy nghĩ, tình cảm hay khát
vọng, ý muốn của chúng ta đều thể hiện qua từng động tác của đôi bàn tay, đôi chân,
của đôi mắt, cái nhìn. Những hành động đó cho chúng ta biết về những con người mà
chúng ta tiếp xúc nhiều hơn ngàn lần những câu nói (8).
Trong cuốn “Hành vi giao tiếp của người Nga”, hai tác giả J.Prokhorov và
I.Cternin đưa ra các dạng thức biểu hiện hành vi giao tiếp của người Nga như: giao tiếp

14


nội ngôn ngữ, giao tiếp giao ngôn ngữ, giao tiếp phi ngôn ngữ và các loại trắc nghiệm
khảo cứu hành vi lời nói của người Nga trong giao tiếp (36).
Edward T. Hall, nhà nhân văn học đã nhấn mạnh khái niệm hành vi không gian
giao tiếp. Đó là cách thức sử dụng không gian trong giao tiếp giữa các cá nhân. Nghiên
cứu này được tác giả kỳ vọng ứng dụng không chỉ vào trong giao tiếp giữa các cá nhân
mà còn ứng dụng trong việc thiết kế, xây dựng, quy hoạch các tòa nhà (46).
Vào năm 1955 Adam Kendon, Albert Scheflen và Ray Birdwhistell đã nghiên
cứu về hành vi giao tiếp phi ngôn ngữ thông qua phương pháp phân tích bối cảnh. Từ
đó, mở đường cho những nghiên cứu về giao tiếp phi ngôn ngữ như nghiên cứu về mối
quan hệ giữa giao tiếp bằng mắt và khoảng cách khi đối thoại của Argyle và Dean,
nghiên cứu về những hành vi phi ngôn ngữ trong các tình huống đàm phán của
Nierenberg và Calero, nghiên cứu về phương thức sử dụng giao tiếp phi ngôn ngữ thu
hút những người khác của Fast… (46)
Bên cạnh đó, cũng có những nghiên cứu về mô hình hành vi giao tiếp như mô
hình của Weiner, mô hình chức năng của Jacobson, mô hình của Bird Whistell,
Perdonici, Shanon, Weaver,… Những nghiên cứu này chỉ ra cách thức hoạt động và
các thành tố của hành vi giao tiếp. Mặc dù các tác giả xây dựng các mô hình khác

sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội và tiến hành xây dựng các bài tập thử
nghiệm tác động cho sinh viên (45).
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn với bài viết “Quan niệm về hành vi giao tiếp có văn
hóa của tuổi trẻ” đã phân tích khái niệm về văn hóa, hành vi văn hóa và văn hóa giao
tiếp, từ đó, xây dựng khái niệm hành vi giao tiếp có văn hóa, cấu trúc của hành vi giao
tiếp có văn hóa và các biểu hiện hành vi giao tiếp có văn hóa của tuổi trẻ (43).

16


Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hành vi giao tiếp có văn hóa, văn
hóa giao tiếp. Tuy nhiên, vẫn chưa có đề tài nghiên cứu về hành vi giao tiếp trên mạng
xã hội. Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Hành vi giao tiếp trên mạng xã
hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa”.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Hành vi giao tiếp trên mạng xã hội
1.2.1.1. Hành vi
Khái niệm hành vi được J. Watson (1878 – 1958) xây dựng trên nền móng
thực chứng luận và chỉ dựa trên những biểu hiện có thể quan sát được từ bên ngoài.
Theo J. Watson, mỗi người được xác định bởi một tập hợp những hành vi của người
đó. Hành vi được xem như là tổng hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích
của môi trường bên ngoài theo công thức S – R (Kích thích – Phản ứng). Điều này có
nghĩa là bất kỳ hành vi nào của con người và động vật đều diễn ra theo cơ chế: có kích
thích thì có phản ứng chứ không liên quan gì đến ý thức, đến những yêu cầu và chuẩn
mực xã hội. Như vậy, theo J. Watson, hành vi của con người không khác gì hành vi của
con vật và chỉ có khả năng phản ứng thụ động, hoàn toàn lệ thuộc vào kích thích tác
động lên con người, mọi yếu tố tâm lý, ý thức đều bị triệt tiêu và hoàn toàn không có
vai trò gì giữa kích thích và phản ứng (27).
Theo Từ điển Tâm lý học do J. Corsini chủ biên, hành vi là “những hành động
phản ứng, những tương tác đáp lại kích thích bên trong và bên ngoài, bao gồm những

phần rất quan trọng trong hành vi của con người – thành phần xã hội của hành vi con
người. Kinh nghiệm kép là kinh nghiêm được hình thành trong hoạt động lao động
thực tiễn của con người. Có nghĩa là khi con người tham gia vào hoạt động lao động
thực tiễn, lặp lại lao động ở chân tay và biến đổi vật liệu theo một biểu tượng đã hình
thành trong đầu từ trước. Các kinh nghiệm này có điểm chung là nội dung của chúng

18


đều xuất phát từ quá trình lao động, từ quá trình truyền đạt kinh nghiệm từ thế hệ này
sang thế hệ khác, từ người này tới người khác và từ việc mỗi người tự lĩnh hội các kinh
nghiệm. Quá trình này không thể thực hiện được nếu không có tâm lý và ý thức giữ
chức năng định hướng và tích cực hóa.Vì vậy L.X. Vugotxki đã khẳng định “ý thức
hóa ra là một cấu trúc rất phức tạp của hành vi, nếu nói riêng thì là cấu trúc rất phức tạp
của quá trình phân đôi của hành vi. Hành vi được hiểu ngầm là hoạt động của con
người. Và cả ý thức với tư cách là một bộ phận cấu thành của hành vi, ý thức được coi
là một thực tại khách quan có chức năng điều chỉnh đối với hành vi, và cùng hành vi, ý
thức là một thành phần của hoạt động” (17).
A.N. Leonchiev (1903 - 1979) khẳng định hành vi không phải là những phản
ứng máy móc của một cơ thể sinh vật, mà hành vi phải được hiểu là hoạt động (28).
Theo Từ điển Tâm lý học do A.V. Petropxki và M.G. Iarosepxki chủ biên,
hành vi là “sự tác động qua lại giữa cơ thể sống, thông qua hoạt tính bên ngoài (vận
động) và bên trong (tâm lý). Thuật ngữ hành vi được sử dụng để chỉ hành vi của các cá
thể riêng lẻ, các cá nhân cũng như của nhóm loài (hành vi của một loài sinh vật hay của
nhóm xã hội)” (27).
Theo tác giả Phạm Minh Hạc, hành vi là “những biểu hiện ra bên ngoài của
hoạt động gắn liền với động cơ và mục đích” (16).
Trong cuốn Từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng, hành vi là “sự tương tác
với môi trường trên cơ sở tính tích cực bên ngoài (vận động) và bên trong (tâm lý), tính
tích cực có định hướng của cơ thể sống đảm bảo thực hiện các tiếp xúc với thế giới bên

những mối liên hệ có ý thức của con người trong cộng đồng loài người”.

20


Xem xét giao tiếp là sự thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người hay
giữa nhân cách này với cách khác trong mối quan hệ liên nhân cách, B.Ph.Lomov cho
rằng: “Giao tiếp là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tư cách chủ thể”.
Dưới góc độ nhân cách, V.N.Miaxixev cho rằng: “Giao tiếp là một quá trình
quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân cách cụ thể”. Theo Ia.L.Kolôminxki
thì “giao tiếp là sự tác động qua lại có đối tượng và thông tin giữa con người với con
người, trong đó những quan hệ nhân cách được thực hiện, bộc lộ và hình thành”.
Ở góc độ tiếp cận về chức năng giao tiếp, theo B.Parưgin thì: “Giao tiếp là quá
trình quan hệ tác động giữa các cá thể, là quá trình thông tin quan hệ giữa con người
với con người, là quá trình hiểu biết lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và trao đổi xúc cảm
lẫn nhau”.
Ở góc độ xem xét giao tiếp là một dạng hoạt động, định nghĩa của
A.N.Leonchiev đã chỉ ra: “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và
động cơ trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan
hệ tâm lý và sử dụng những phương tiện đặc thù, mà trước hết là ngôn ngữ”.
Tiếp cận ở khía cạnh hệ thống, Georgen Thiner cho rằng: “Giao tiếp là sự truyền
đạt thông tin, qua đó các trạng thái của hệ thống phát thông tin phát huy ảnh hưởng tới
trạng thái của hệ nhận thông tin”.
Định nghĩa về giao tiếp, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Giao tiếp là hoạt
động xác lập và vận hành các quan hệ người - người để hiện thực hóa các quan hệ xã
hội giữa người ta với nhau” (16).
Tác giả Trần Trọng Thủy thì quan niệm: “Giao tiếp của con người là một quá
trình chủ đích hay không có chủ đích, có ý thức hay không có ý thức trong đó các cảm

21

tiếp của các cá nhân, là hành vi có chủ định, nhằm mục đích hướng đến sự lĩnh hội
(20).
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Lâm trong cuốn “Khoa học giao tiếp”, hành vi giao
tiếp là một chuỗi hành động được thúc đẩy bởi mục đích muốn thỏa mãn một nhu cầu
nào đó liên quan đến khả năng của chủ thể giao tiếp. Nếu việc thỏa mãn nhu cầu bị cản
trở, chủ thể giao tiếp có thể lập lại hành vi, hoặc thay đổi mục đích, hoặc vỡ mộng,
hoặc lãnh đạm với cuộc sống nếu hành vi duy trì lâu dài (23).
Tác giả Huỳnh Văn Sơn trong cuốn “Nhập môn tâm lý học giao tiếp” đã nhìn
nhận về hành vi giao tiếp như một quá trình truyền thông mang tính chất tâm lý phong
phú và phức tạp (33).
Tác giả Trịnh Thị Xinh trong đề tài “Biểu hiện về hành vi giao tiếp có văn hóa
của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội” cho rằng hành vi giao tiếp là những
biểu hiện cụ thể bên ngoài của hoạt động những được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lí
bên trong của chủ thể, của nhân cách. Các hành vi giao tiếp được cá nhân thể hiện
trong giao tiếp thông qua ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ, nói, viết… của mình với người
khác và xã hội (45).
Tác giả Hoàng Thị Phương trong luận án tiến sĩ giáo dục học “Biện pháp giáo
dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 – 6 tuổi” (31) đã xác định nội hàm của khái
niệm “hành vi giao tiếp” như sau:
- Hành vi giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa các chủ thể, biểu hiện ở ba mặt:
thông tin, bày tỏ thái độ, cảm xúc và tác động lẫn nhau.
- Mối liên hệ giữa các chủ thể trong hành vi giao tiếp là mối liên hệ có ý thức
giữa con người với con người trong cộng đồng xã hội loài người.

23


- Các chủ thể thực hiện hành vi giao tiếp có mục đích phối hợp hành động đảm
bảo sự thống nhất cho hoạt động chung, tạo ra sự biến đổi của họ.
Dựa vào những quan điểm của các tác giả này và các khái niệm về hành vi và về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status