BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TAM HOÀNG PHƯƠNG
CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TAM HOÀNG PHƯƠNG
CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LÊ TẤN PHƯỚC
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ............................................4
2.1.
Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại .4
2.1.1.
Tổng quan về ngân hàng thương mại ..................................................4
2.1.2.1.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời ....................................6
2.1.2.2.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh thu nhập và chi phí .................................8
2.1.2.3.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính ........................................9
2.1.2.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
thương mại ........................................................................................................11
2.1.2.1.
Nhóm nhân tố khách quan ...........................................................11
Sở hữu nhà nước và hiệu quả hoạt động của ngân hàng ...................19
2.3.2.
Sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động ngân hàng.......................22
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM .................................27
3.1.
Tổng quan ngành ngân hàng tại các nƣớc Đông Nam Á ....................27
3.2.
Thực trạng cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân
hàng Việt Nam .....................................................................................................31
3.2.1.
Tổng quan hoạt động hệ thống Ngân hàng Việt Nam .......................31
3.2.1.1.
Về quy mô ....................................................................................31
3.2.1.2.
Về hiệu quả hoạt động .................................................................33
3.2.2.
Phƣơng pháp nghiên cứu: .....................................................................44
4.1.1.
Xây dựng giả thuyết nghiên cứu .......................................................44
4.1.1.1.
Sở hữu nhà nước và hiệu quả hoạt động của ngân hàng..............44
4.1.1.2.
Sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động của ngân hàng ..........44
4.1.2.
Dữ liệu ...............................................................................................45
4.1.3.
Mô hình thực nghiệm ........................................................................45
4.2.
Kết quả nghiên cứu ................................................................................48
4.2.1.
Thống kê mô tả ..................................................................................48
Bảng 4.3 Thống kê mô tả ..........................................................................................49
Bảng 4.4 Ma trận hệ số tương quan ..........................................................................51
Bảng 4.5 Kiểm định phương sai thay đổi..................................................................52
Bảng 4.6 Kiểm định nhân tử Lagrange và Hausman ................................................53
Bảng 4.7 Kết quả hồi quy trên toàn mẫu ...................................................................54
Bảng 4.8 Kết quả hồi quy cho các ngân hàng Việt Nam ..........................................55
Bảng 4.9 Kết quả hồi quy cho Thái Lan ...................................................................57
Bảng 4.10 Kết quả hồi quy cho Indonesia ................................................................57
Bảng 4.11 Kết quả ước lượng cho Malaysia .............................................................58
Bảng 4.12 Kết quả ước lượng cho Philippines .........................................................59
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Chỉ số ngành ngân hàng Việt Nam và khu vực..........................................27
Hình 3. 2 Chỉ số ngành ngân hàng các quốc gia Đông Nam Á và khu vực..............28
Hình 3.3 Quy mô tổng tài sản hệ thống ngân hàng các nước ...................................29
Hình 3.4 Tỷ lệ nợ xấu hệ thống ngân hàng các nước................................................29
Hình 3.5 Khả năng sinh lợi hệ thống ngân hàng các nước .......................................30
Hình 3.6 Quy mô tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam từ tháng 1/2015 đến tháng
6/2016 ........................................................................................................................32
Hình 3.7 Quy mô vốn tự có của các tổ chức tín dụng từ tháng 7/2015 đến tháng
6/2016 ........................................................................................................................32
Hình 3.8 So sánh tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản và tỷ suất tính lợi trên vốn chủ sở
hữu .............................................................................................................................35
Hình 3.9 Các ngân hàng thương mại nhà nước sở hữu trên 51% tại Việt Nam .......35
1
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU
2
động của các ngân hàng trên thị trường Việt Nam và một số quốc gia Đông Nam Á
sẽ đóng góp thêm vào kho tàng học thuật bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này ở
các quốc gia mới nổi với những đặc thù riêng, từ đó giúp mở rộng thêm hiểu biết về
vai trò của cấu trúc sở hữu ở các thị trường mới nổi và đưa ra các hàm ý hữu dụng
về mặt chính sách.
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu
Xuất phát từ tính cấp thiết của mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả
hoạt động của hệ thống ngân hàng, luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu mối quan
hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam cũng
như một số quốc gia Đông Nam Á. Mục tiêu nghiên cứu sẽ được cụ thể hóa thành
các câu hỏi nghiên cứu sau:
1) Sở hữu nhà nước có tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động của các
ngân hàng?
2) Sở hữu nước ngoài có tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động của
các ngân hàng?
1.3.
Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện trên mẫu các ngân hàng đã niêm yết tại Việt
Nam cũng như một số quốc gia Đông Nam Á giai đoạn từ năm 2007 đến 2015
nhằm củng cố tính vững của nghiên cứu. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ cơ sở
dữ liệu Datastream của Thomson Reuters.
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
2.1.
Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại
2.1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
Lịch sử đã chứng minh sự phát triển của hệ thống ngân hàng gắn liền với sự
phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế
thị trường trong thời buổi toàn cầu hóa, hệ thống ngân hàng thương mại đã biến đổi
mạnh mẽ từ những hệ thống ngân hàng giản đơn, sơ khai ban đầu nay đã trở thành
những ngân hàng hiện đại, những tập đoàn tài chính khổng lồ, đa quốc gia. Có
nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng thương mại, tuy nhiên về mặt tổng quan
thì ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa khu
vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế. Nói một cách cụ thể thì ngân hàng
thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, nhận tiền gửi từ các thực thể trong
nền kinh tế, sau đó thực hiện các nghiệp vụ cho vay và đầu tư vào các tài sản có khả
năng sinh lời khác, đồng thời thực hiện cung cấp đa dạng các danh mục dịch vụ tài
chính, tín dụng, thanh toán cho các thực thể trong nền kinh tế.
Từ định nghĩa trên, có thể thấy ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức
tài chính có vai trò quan trọng của nền kinh tế. Vai trò của các định chế này có thể
tóm lược trên các khía cạnh sau:
-
Trước hết, với vai trò là trung gian tài chính, ngân hàng thương mại thực
hiện việc chuyển các khoản tiết kiệm thành các khoản tín dụng cho các cá
nhân và tổ chức kinh doanh thực hiện các hoạt động đầu tư. Đồng thời, ngân
hàng thương mại là một trong những thành viên quan trọng nhất của thị
trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền trung ương và địa phương phát
Trong hoạt động của ngân hàng thương mại, hiệu quả có thể được hiểu ở hai
khía cạnh như sau:
i. Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc
giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính
khác.
ii. Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng.
Như vậy, hiệu quả là phạm trù phản ánh sự thay đổi công nghệ, sự kết hợp và
phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình độ quản lý...
Hiệu quả hoạt động phản ánh quan hệ so sánh được giữa kết quả kinh tế và chi phí
bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại có thể được chia
làm hai nhóm đó là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối:
-
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tuyệt đối (hiệu quả hoạt động = kết quả kinh
tế - chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó) cho phép đánh giá hiệu quả hoạt
động của ngân hàng thương mại theo cả chiều sâu và chiều rộng. Tuy nhiên
loại chỉ tiêu này trong một số trường hợp lại khó có thể thực hiện so sánh
được. Ví dụ, những ngân hàng có nguồn lực lớn thì tạo ra lợi nhuận lớn hơn
6
những ngân hàng có nguồn lực nhỏ, nhưng không có nghĩa là các ngân hàng
quy mô lớn lại có hiệu quả lớn hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ. Như vậy,
hiệu quả tuyệt đối không cho biết khả năng sử dụng tiết kiệm hay lãng phí
các đầu vào.
-
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tương đối có thể được thể hiện dưới dạng tĩnh
ròng, tỷ lệ thu ngoài lãi biên ròng, tỷ lệ thu nhập hoạt động biên, hệ số thu nhập trên
mỗi cổ phiếu, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lợi trên tổng vốn chủ
sở hữu. Cách tính toán các chỉ tiêu này được trình bày cụ thể dưới đây.
Tỷ lệ thu lãi biên ròng =
Tổng thu nhập – tổng chi phí
Tổng tài sản có sinh lời (hoặc tổng tài sản có)
Tỷ lệ thu lãi ngoài biên
ròng =
Tổng thu nhập ngoài lãi – tổng chi phí ngoài lãi
Tỷ lệ thu nhập hoạt động
biên =
Tổng thu hoạt động – tổng chi phí hoạt động
Tổng tài sản có
Tổng tài sản có
Lợi nhuận sau thuế
EPS =
Tổng số cổ phiếu thường hiện hành
Tỷ suất sinh lợi trên tổng
quả quản lý. Nó chỉ ra khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình
chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Chỉ tiêu này được sử dụng rộng
rãi trong phân tích hiệu quả hoạt động và đánh giá tình hình tài chính của ngân
hàng, nếu mức tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản thấp có thể là kết quả của một chính
sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân
hàng cao quá mức. Ngược lại, mức tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản cao thường phản
ánh kết quả của hoạt động hữu hiệu, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều
tiết linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế.
Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ
đông của ngân hàng. Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư
vào ngân hàng (tức là chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập ở mức hợp lý).
Chỉ tiêu này cũng được sử khá phổ biến trong phân tích hiệu quả hoạt động nhằm
phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu. Ngoài ra, trong đánh giá hiệu quả hoạt
động của ngân hàng, các nhà quản trị ngân hàng còn xem xét mối quan hệ giữa chỉ
tiêu tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần vì trên thực
tế hai chỉ tiêu này phản ánh sự đánh đổi cơ bản giữa rủi ro và thu nhập. Một ngân
hàng có thể có tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản thấp nhưng vẫn có thể đạt được tỷ
suất sinh lợi trên vốn cổ phần khá cao do việc sử dụng đòn bẩy tài chính lớn.
2.1.2.2.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh thu nhập và chi phí
Với chiến lược tối đa hóa lợi nhuận, các ngân hàng thương mại thường nâng
cao hiệu quả hoạt động của mình bằng cách giảm chi phí hoạt động, tăng năng suất
lao động trên cơ sở tự động hóa và nâng cao trình độ nhân viên. Bởi vậy, các thước
đo phản ánh tính hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng và năng suất lao động của
nhân viên gồm các chỉ tiêu sau:
9
này.
-
Tỷ lệ nợ xấu (nợ xấu/tổng cho vay và cho thuê): chỉ tiêu phản ánh chất lượng
của tín dụng, chỉ số này càng nhỏ thể hiện chất lượng tín dụng càng cao.
-
Tỷ lệ cho vay (cho vay ròng/tổng tài sản): phản ánh phần tài sản có được
phân bổ vào những loại tài sản có tính thanh khoản kém. Như vậy tỷ lệ này
cho thấy, việc tăng cường sử dụng nguồn vốn vay rất có thể gây ra rủi ro
thanh khoản nếu như nhu cầu rút tiền của công chúng tăng và chất lượng của
các khoản cho vay giảm.
-
Tỷ lệ giữa tài sản nhạy cảm với lãi suất và nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất:
khi quy mô tài sản nhạy cảm với lãi suất vượt quá nguồn vốn nhạy cảm với
lãi suất trong một thời kỳ nhất định, một ngân hàng có thể sẽ rơi vào tình
trạng bất lợi và thua lỗ có thể xảy ra nếu lãi suất giảm. Ngược lại, khi quy
10
mô vốn nhạy cảm với lãi suất vượt quá tài sản nhạy cảm với lãi suất, thua lỗ
chắc chắn xảy ra nếu lãi suất tăng.
-
Tỷ lệ đòn bẩy tài chính (tổng tài sản/tổng vốn chủ sở hữu): chỉ tiêu này phản
ánh bao nhiêu đồng giá trị tài sản được tạo ra trên cơ sở một đồng vốn chủ sở
cần phải xem xét một loạt các chỉ số để đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động của
các ngân hàng.
2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương
mại
Hiệu quả hoạt động là điều kiện quyết định sự sống còn và phát triển của một
ngân hàng. Nâng cao hiệu quả hoạt động cũng chính là tăng cường năng lực tài
chính, năng lực điều hành để tạo ra tích lũy và có điều kiện mở rộng các hoạt động
kinh doanh góp phần củng cố và nâng cao thương hiệu của các ngân hàng thương
mại. Tuy nhiên, để ngân hàng thương mại hoạt động có hiệu quả hơn, đòi hỏi phải
xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
thương mại nhằm hạn chế được các hoạt động mang tính chất rủi ro, bảo toàn vốn,
nâng cao thu nhập và lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương
mại. Theo Nguyễn Việt Hùng (2008), các nhân tố này có thể được chia làm hai
nhóm: nhóm nhân tố khách quan và nhóm nhân tố chủ quan, tùy theo điều kiện cụ
thể của từng ngân hàng mà hai nhóm nhân tố này có những ảnh hưởng khác nhau
đến hiệu quả hoạt động của chính các ngân hàng thương mại.
2.1.2.1.
Nhóm nhân tố khách quan
Môi trường về kinh tế, chính trị và xã hội trong và ngoài nước
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa
khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế, do vậy những biến động của
môi trường kinh tế, chính trị và xã hội có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt
động của các ngân hàng. Nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các ngân hang thương mại, vì đây cũng là
điều kiện để quá trình sản xuất của nền kinh tế được diễn ra bình thường, đảm bảo
khả năng hấp thụ vốn và hoàn trả vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Khi
nền kinh tế có tăng trưởng cao và ổn định, các khu vực trong nền kinh tế đều có nhu
cầu mở rộng hoạt động sản xuất và kinh doanh, do đó nhu cầu vay vốn tăng làm cho
trường. Nếu hệ thống luật pháp được xây dựng không phù hợp với yêu cầu phát
triển của nền kinh tế thì sẽ là một rào cản lớn cho quá trình phát triển kinh tế. Khác
13
với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, nơi đã có một hệ thống luật khá
đầy đủ và được sửa đổi cũng như bổ sung nhiều lần trong quá trình phát triển của
mình thì ở Việt Nam do mới chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa sang
vận hành theo nền kinh tế thị trường trong 30 năm, do đó hệ thống luật còn thiếu và
chưa đầy đủ. Đây cũng thực sự là một trở ngại đối với hoạt động của các ngân hàng
thương mại. Đồng thời, quá trình tiền tệ hóa diễn ra nhanh trong thời gian gần đây
đòi hỏi Việt Nam phải sớm thông qua các bộ luật mới và sửa đổi các điều luật
không còn phù hợp với tình hình kinh tế, có như vậy hệ thống luật pháp mới thực sự
tạo lập được một môi trường pháp lý hoàn chỉnh làm cơ sở để giải quyết các tranh
chấp, khiếu nại nảy sinh trong hoạt động kinh tế, xã hội. Như vậy, rõ ràng môi
trường luật pháp có vai trò hết sức quan trọng đối với các hoạt động kinh tế nói
chung và đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại nói riêng, là cơ sở tiền đề
cho ngành ngân hàng phát triển nhanh và bền vững.
2.1.2.2.
Nhóm nhân tố chủ quan
Nhóm nhân tố chủ quan được bàn đến chính là các nhân tố bên trong nội bộ
của chính các ngân hàng thương mại như các nhân tố về năng lực tài chính, cấu trúc
sở hữu, khả năng quản trị điều hành, ứng dụng tiến bộ công nghệ, trình độ và chất
lượng của lao động...
Năng lực tài chính
Năng lực tài chính của một ngân hàng thương mại thường được biểu hiện
trước hết là qua khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, vì vốn chủ sở hữu thể
thông tin của một ngân hàng. Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ
và ứng dụng sâu rộng của nó vào cuộc sống xã hội như ngày nay, thì ngành ngân
hàng khó có thể duy trì khả năng cạnh tranh của mình nếu vẫn cung ứng các dịch vụ
truyền thống. Năng lực công nghệ của ngân hàng thể hiện khả năng trang bị công
nghệ mới gồm thiết bị và con người, tính liên kết công nghệ giữa các ngân hàng và
tính độc đáo về công nghệ của mỗi ngân hàng
Trình độ, chất lượng của người lao động
15
Nhân tố con người là yếu tố quyết định quan trọng đến sự thành bại trong bất
kỳ hoạt động nào của các ngân hàng thương mại. Xã hội càng phát triển thì càng đòi
hỏi các ngân hang càng phải cung cấp nhiều dịch vụ mới và có chất lượng. Chính
điều này đòi hỏi chất lượng của nguồn nhân lực cũng phải được nâng cao để đáp
ứng kịp thời đối với những thay đổi của thị trường và xã hội. Việc sử dụng nhân lực
có đạo đức nghề nghiệp, giỏi về chuyên môn sẽ giúp cho ngân hàng tạo lập được
những khách hàng trung thành, ngăn ngừa được những rủi ro có thể xảy ra trong các
hoạt động kinh doanh, đầu tư và đây cũng là nhân tố giúp các ngân hàng giảm thiểu
được các chi phí hoạt động. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nguồn nhân lực
luôn phải chú trọng việc gắn phát triển nhân lực với công nghệ mới.
2.2.
Lý thuyết về cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của ngân hàng
thƣơng mại
Phần này sẽ trình bày khái niệm về cấu trúc sở hữu và các lý thuyết liên quan
đến tác động của hai loại hình sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài lên hiệu quả
của các ngân hàng. Các lý thuyết này sẽ là cơ sở để tác giả xây dựng các giả thuyết
chính của luận văn.
liên quan nhằm mục đích chính trị thay vì kinh tế. Shleifer và Vishny (1997) chỉ ra
rằng các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước nhìn bên ngoài có vẻ là thuộc sở hữu
của toàn dân, song trong thực tế lại được vận hành bởi những người có quyền kiểm
soát tập trung cao độ nhưng không có quyền đối với dòng tiền và chính điều này đã
khiến cho các ngân hàng có sở hữu nhà nước hoạt động không có tính hiệu quả cao.
Cùng quan điểm này, Boycko cùng cộng sự (1996) cho rằng các doanh nghiệp này
hoạt động thiếu hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp khác do chúng có thể phải
phục vụ cho các mục tiêu chính trị. Thực tế là các mục tiêu chính trị có thể sẽ không
đồng nhất với việc tối đa hóa lợi nhuận hay giá trị doanh nghiệp. Thêm vào đó,
quan điểm quản lý liên quan đến các doanh nghiệp thuộc sở nhà nước lại cho rằng
các doanh nghiệp này thiếu hiệu quả vì không có cơ chế giám sát các nhà quản lý
một cách chặt chẽ. Cụ thể là quan điểm này cho rằng các nhà quản lý của các công
ty có sở hữu nhà nước chỉ điều hành chứ không sở hữu tài sản. Do đó, họ ít nỗ lực
hơn trong hoạt động quản lý và có xu hướng phân bổ nguồn lực cho các mục đích
cá nhân. Kết hợp cùng với việc thiếu cơ chế giám sát các nhà quản lý, các nguyên
nhân này dẫn đến việc các quản lý có xu hướng mạo hiểm hơn và hiệu quả doanh
17
nghiệp cũng thấp hơn.
Một quan điểm khác về vai trò của sở hữu nhà nước được hình thành trên
quan điểm về bất cân xứng thông tin, theo đó bất cân xứng thông tin có thể làm gia
tăng chi phí đại diện, dẫn đến làm giảm hiệu quả của doanh nghiệp nói chung
(Jensen & Meckling, 1976). Dựa trên lý thuyết về chi phí đại diện bắt nguồn từ bất
cân xứng thông tin, các lập luận về vai trò của sở hữu nhà nước đối với hiệu quả của
doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng nói riêng đưa đến những dự đoán theo hai
chiều hướng trái ngược nhau.
Trước hết, chiều hướng lập luận đầu tiên ủng hộ vai trò tích cực của sở hữu
nhà nước lên hiệu quả hoạt động của các ngân hàng dựa trên dự báo sở hữu nhà
ủng hộ hơn.
Ngoài ra, lập luận về việc sở hữu nhà nước có thể giảm tính bất ổn của thông
tin và do đó làm giảm bất cân xứng thông tin có thể không hoàn toàn đúng với các
quốc gia, đặc biệt là các quốc gia mới nổi. Sử dụng chênh lệch hỏi mua-chào bán để
đo lường chi phí đại diện, Choi và cộng sự (2010) nghiên cứu trên một thị trường
mới nổi có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam là Trung Quốc đã tìm thấy tỷ lệ sở
hữu nhà nước có tương quan dương với chênh lệch hỏi mua-chào bán, hàm ý rằng
sở hữu nhà nước làm tăng bất cân xứng thông tin và làm tăng chi phí đại diện. Lập
luận này được dựa trên các nghiên cứu cho thấy yếu tố chính trị chi phối trong các
quyết định cổ phần hóa, dẫn đến gia tăng bất cân xứng thông tin trong các doanh
nghiệp có tỷ lệ sở hữu nhà nước (Wei và cộng sự, 2005; Chen và cộng sự, 2008).
Do đó, dựa trên lập luận này, phần lớn các nghiên cứu đều xây dựng giả thuyết về
mối quan hệ ngược chiều giữa sở hữu nhà nước và hiệu quả hoạt động của ngân
hàng. Bằng chứng thực nghiệm về mối tương quan này sẽ được trình bày ở phần
sau.
2.2.3. Sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Lý thuyết về tác động của sở hữu nước ngoài lên hiệu quả hoạt động của
ngân hàng khá trái ngược. Một mặt, giả thuyết lợi thế sân nhà (home field
advantage) của Berger cùng cộng sự (2000) dự đoán rằng các ngân hàng nước ngoài
sẽ gặp bất lợi hơn khi cung cấp các dịch vụ giống với các ngân hàng nội địa, dẫn
đến chi phí cao hơn và lợi nhuận thấp hơn. Các bất lợi này đến từ khoảng cách về
mặt địa lý giữa người chủ và người đại diện, khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ hoặc