Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH VĂN DŨNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH VĂN DŨNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HÀ THỊ THƯ

2.2. Thực trạng hoạt động công tác xã hội đối với người cao tuổi tại hành phố Nha
Trang, tỉnh Khánh Hòa ......................................................................................... 36
2.3. Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với người cao tuổi...... 48
Chương 3 ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VÀ BIỆN PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA .............................................. 57

3.1. Ứng dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi .................... 57
3.2. Các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với người cao
tuổi ........................................................................................................................ 65
3.3. Nhóm giải pháp bảo đảm thực hiện các hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe,
tinh thần, kết nối nguồn lực cung cấp dịch vụ nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
, xây dựng môi trường thân thiện cho người cao tuổi ........................................... 70
3.4. Giải pháp thực hiện chính sách đối với người cao tuổi .................................. 72
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 76


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH

An sinh xã hội

CTXH

Công tác xã hội

CSSK


UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC BẢNG ĐỒ

Sơ đồ 1.1. Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow ................................................... 12
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ phả hệ gia đình bà B .................................................................. 59
Sơ đồ 3.2. Sơ đồ sinh thái ..................................................................................... 60
Bảng 2.1. Phân loại về sức khỏe người cao tuổi (tỷ lệ %) ..................................... 32
Bảng 2.2. Đánh giá mức độ hiểu biết về nội dung truyền thông (tỷ lệ %) ............ 37
Bảng 2.3. Các hoạt động hỗ trợ người cao tuổi chủ yếu tại cộng đồng ................. 42
Bảng 2.4. Đánh giá của người cao tuổi về hoạt động kết nối nguồn lực (tỷ lệ %) 46
Biểu 2.5. Môi trường thân thiện người cao tuổi tại thành phố Nha Trang............. 47
Bảng 2.6. Đánh giá của NCT về các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH với NCT ....... 48
Bảng 2.7. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của đặc điểm ........................................... 50
Bảng 2.8. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của chính quyền địa phương ................... 52


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1. Sự gia tăng số lượng người cao tuổi giai đoạn 2010-2016 ............... 30
Biểu đồ 2.2. Trình độ học vấn của NCT tại thành phố Nha Trang (tỷ lệ %) ......... 31
Biểu 2.3. Nghề nghiệp trước đây của NCT tại thành phố Nha Trang ................... 32
Biểu đồ 2.4. Tình trạng mắc các bệnh mãn tính của người cao tuổi (tỷ lệ %) ...... 33
Biểu đồ 2.5. Đặc điểm tâm lý của người cao tuổi (tỷ lệ %) .................................. 34
Biểu đồ 2.6. Mức độ quan tâm của gia đình đến người cao tuổi theo ................... 35
đánh giá của bản thân người cao tuổi. ................................................................. 35
Biểu đồ 2.7. Đánh giá của NCT về các hình thức truyền thông (tỷ lệ %) ............. 37

ở trong thời kỳ “bắt đầu già” [27].
Theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa,
toàn tỉnh có 119.968 người cao tuổi (chiếm 9,99% tổng dân số). Tại thành phố
Nha Trang có 40.407 người cao tuổi (chiếm 10,01% tổng dân số) Trong tổng số
người cao tuổi có: 1.437 người cao tuổi đang hưởng trợ cấp ưu đãi người có
công, 5.172 người cao tuổi đang hưởng trợ cấp xã hội, 7447 người cao tuổi đang
hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội. Như vậy, còn 24.551 người cao
tuổi (chiếm 60,75% tổng số người cao tuổi) trên địa bàn thành phố Nha Trang
đang sống bằng sự nỗ lực của bản thân, gia đình. [27]
Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách với người cao tuổi,
đặc biệt quan tâm chăm sóc NCT là người có công với nước, NCT không nơi
1


nương tựa, NCT khuyết tật. Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ chủ yếu là trợ giúp
xã hội trực tiếp bằng nguồn lực tài chính đối với NCT có hoàn cảnh khó khăn và
không tự lo được cuộc sống, trong khi hiện nay nhu cầu, đối tượng NCT cần trợ
giúp đa dạng. Với hình thức trợ giúp truyền thống không mang tính bền vững,
chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của NCT.
Nghề công tác xã hội (CTXH) tại tỉnh Khánh Hòa nói chung và thành
phố Nha Trang nói riêng đang trong giai đoạn hình thành, kinh nghiệm
CTXH với NCT chưa có, và những hạn chế về ý thức, nhận thức của xã
hội… Từ những khó khăn chung nêu trên, công tác xã hội đối với NCT trên
địa bàn thành phố Nha Trang đã được quan tâm chưa? Thực trạng CTXH đối
với NCT thành phố Nha Trang như thế nào? Để trả lời câu hỏi này cần phải
làm rõ đặc điểm, nhu cầu của NCT, nghiên cứu đánh giá thực trạng CTXH
đối với NCT trên địa bàn thành phố Nha Trang.
Các công trình nghiên cứu về CTXH đối với NCT ở một số địa phương đã có,
tuy nhiên nghiên cứu về CTXH đối với NCT trên một địa bàn cụ thể là thành phố
Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa là một vấn đề mới

thống hoá tình hình chung về người cao tuổi trong và ngoài nước, đánh giá thực
trạng về người cao tuổi ở Việt Nam; tổng kết, đánh giá kinh nghiệm từ một số
mô hình chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi đang áp dụng. Trên cơ sở đó đề xuất
một số giải pháp về chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại cộng đồng.[27]
- Nghiên cứu “Khảo sát thu thập xử lý thông tin về người cao tuổi” năm
2007 do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp Ủy ban Quốc gia về
người cao tuổi Việt Nam thực hiện. Nghiên cứu được tiến hành tại 8 tỉnh thuộc
8 vùng địa lý. Nghiên cứu tập trung vào chủ đề: Đánh giá thực trạng vị thế và
đời sống người cao tuổi ở Việt Nam; đánh giá thực trạng việc thực hiện các
chương trình/chính sách về người cao tuổi. Trên cơ đó đề xuất một số giải pháp
về chính sách nhằm phát huy vai trò và nâng cao chất lượng cuộc sống của
người cao tuổi. [3]
- Các nghiên cứu điều tra về thực trạng người cao tuổi Việt Nam (2004),
người cao tuổi từ 80 tuổi (2009) do Viện nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam
thực hiện. Các nghiên cứu, điều tra cơ bản nhằm phân tích kết quả thực trạng
người cao tuổi Việt Nam đưa ra các kiến nghị nhằm phát huy tài năng, trí tuệ
trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Gần đây nhất là
nghiên cứu “Nghiên cứu, điều tra cơ bản thực trạng sức khỏe, bệnh tật của
người cao tuổi Việt Nam” năm 2009 do Viện nghiên cứu người cao tuổi Việt
Nam thực hiện. Nghiên cứu được tiến hành 2 huyện thị tại mỗi tỉnh: Sơn La,

3


Quảng Nam, Đồng Nai, Cần Thơ, Đắk Nông và Ninh Bình. Nghiên cứu tập
trung vào mục tiêu tổng quan sức khỏe và bệnh tật của người cao tuổi, thực
trạng sức khỏe của người cao tuổi. Trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị về
chính sách. [25]
- Công trình nghiên cứu “Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam,
thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách” do Quỹ Dân số Liên hợp

vai trò của nhân viên CTXH trong trợ giúp người cao tuổi... [14,22]
Đề tài: “Dịch vụ Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn
Trung tâm bảo trợ xã hội Chánh Phú Hoà - Thành phố Hồ Chí Minh” của tác
giả Nguyễn Văn Dũng, học viên lớp thạc sỹ ngành công tác xã hội khóa 1,
thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội tại
trung tâm Chánh Phú Hoà - Thành phố Hồ Chí Minh. Các nguồn hỗ trợ về tài
chính cho hoạt động công tác xã hội đối với người cao tuổi. Các dịch vụ xã hội
hỗ trợ người cao tuổi. Cuộc sống của người cao tuổi tại trung tâm. Kết quả công
tác xã hội đối với người cao tuổi tại trung tâm. Những khó khăn, hạn chế trong
quản lý đối với người cao tuổi tại trung tâm. [12]
Đề tài:“Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm
Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”của tác giả Trịnh Thị
Cánh, học viên lớp thạc sỹ ngành công tác xã hội khóa 1, thành phố Hồ Chí
Minh. Nghiên cứu các hoạt động truyền thông tại Trung tâm Nuôi dưỡng người
già neo đơn, vấn đề bệnh tật và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi đang
nuôi dưỡng tại Trung tâm, chủ yếu về cung cấp dịch vụ cho người cao tuổi cô
đơn không nơi nương tựa. [2]
Với các thông tin đã trình bày cho thấy các đề tài nghiên cứu về CTXH
với NCT nói chung và dịch vụ CTXH với NCT nói riêng ở nước ta đến nay còn
chưa nhiều. Đặc biệt cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về CTXH đối
với NCT trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Vì thế, đề tài
“Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh
Khánh Hòa” là đề tài còn khá mới mẻ.
Có thể thấy, rất nhiều các nghiên cứu về NCT thời gian trước và gần đây
mới chỉ thu thập thông tin về NCT, các nghiên cứu tập trung vào một số đặc thù
về NCT hoặc nghiên cứu NCT ở một số địa bàn đặc thù nhằm đưa ra thực trạng
về NCT, chất lượng chăm sóc NCT và khuyến nghị về chăm sóc NCT, nâng cao
chất lượng chăm sóc NCT theo phương pháp tiếp cận từ nghề công tác xã hội.
Vì vậy, việc nghiên cứu CTXH đối với NCT từ thực tiễn thành phố Nha
Trang, tỉnh Khánh Hòa có giá trị tham khảo đối với cơ quan, tổ chức hữu quan

động truyền thông nhằm tăng cường phổ biến thông tin, tuyên truyền về NCT;
(2) Hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe đối với NCT; (3) Hoạt động hỗ trợ tiếp
cận các dịch vụ và hỗ trợ về tâm lý cho NCT; (4) Hoạt động kết nối nguồn lực hỗ
trợ chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và môi trường an toàn cho NCT.
- Phạm vi về khách thể
Nghiên cứu trên 100 người cao tuổi đang sống tại cộng đồng trên địa bàn
thành phố Nha Trang và 22 cán bộ lãnh đạo/cán bộ đang làm công tác NCT tại
Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, Hội người cao tuổi, Mặt trận tổ quốc
6


và Hội Cựu chiến binh thành phố Nha Trang và cộng tác viên công tác xã hội
xã/phường.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ những đánh giá thực
trạng về đời sống của NCT, thực trạng của CTXH đối với NCT trên địa bàn
rút ra những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp nâng cao
hiệu quả CTXH đối với NCT trên địa bàn thành phố Nha Trang và tỉnh
Khánh Hòa.
- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống
những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên
quan như dịch vụ hỗ trợ của CTXH đối với NCT hệ thống chính sách trợ
giúp xã hội đối với NCT,...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như sau:
* Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Thông tin được thu thập từ các nguồn như: Số liệu thống kê; số liệu của
các cuộc điều tra và các nghiên cứu về người cao tuổi; Số liệu trong các báo cáo
của Ủy ban quốc gia về ngưới cao tuổi Việt Nam, Hội người cao tuổi Việt Nam,

khả năng giao tiếp. Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu thêm về chính
sách của Nhà nước và địa phương ưu đãi cho NCT; cơ cấu tổ chức, nhân lực và
hoạt động CTXH, các dịch vụ chăm sóc đối với NCT; tâm tư, tình cảm và
nguyện vọng của NCT sống tại cộng đồng.
* Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng chương trình SPSS để xử lý, phân tích bảng hỏi; trích dẫn nội
dung phỏng vấn sâu qua băng ghi âm, biên bản ghi chép theo chủ đề phân tích.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Những thông tin thu thập được từ luận văn sẽ góp phần làm phong phú
thêm hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về CTXH đối với NCT
nói riêng và lý luận về CTXH nói chung. Đồng thời luận văn là nguồn tài liệu
tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực CTXH đối với NCT.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, nhóm NCT đang phải đối mặt
với nhiều thử thách và khó khăn, khả năng thích nghi nhanh với những quy luật,
8


những đòi hỏi khắc nghiệt của cơ chế thị trường hạn chế. NCT là nhóm người
khó khăn nhất, dễ bị tổn thương nhất trong xã hội, bởi Chính phủ chưa chuẩn bị
cho sự già hóa dân số nhanh, các chương trình dự án về NCT mới bắt đầu được
triển khai thực hiện.
CTXH đối với NCT là hoạt động cần thiết nhằm trợ giúp NCT vượt qua
khó khăn, giúp họ đánh giá, xác định vấn đề, tìm kiếm tiềm năng, điểm mạnh từ
đó nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề. Từ đó tạo điều kiện để NCT có thể tự
nâng cao năng lực, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống của chính bản
thân NCT góp phần giúp NCT sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc. Tuy nhiên,
trong quá trình tổ chức, thực hiện, công tác này gặp rất nhiều khó khăn. Với luận
văn này tôi mong muốn sẽ cung cấp những thông tin cụ thể về thực trạng CTXH

Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn
liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể [06, tr.08 .
Một số nước phát triển quy định NCT là những người từ 65 tuổi trở lên.
Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu
hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau. Những nước có hệ thống y
tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng
cao. Các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn. Vì vậy, quy định về tuổi
của các nước đó cũng khác nhau [06, tr8].
Khái niệm NCT được sử dụng thay cho người già vì thực tế nhiều người
từ 60 tuổi trở lên, vẫn còn hoạt động, vì vậy cụm từ "người cao tuổi" bao hàm sự
kính trọng, so với cụm từ "người già". Nên gần đây khái niệm NCT được sử
dụng phổ biến ở Việt Nam.
Như vậy chúng ta có thể hiểu khái niệm về NCT theo quan điểm của
CTXH như sau: “Người cao tuổi là người từ 0 tuổi trở lên do có sự thay đổi về
tuổi tác làm NCT thay đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan hệ xã hội
khiến NCT dễ gặp phải những khó khăn trong cuộc sống và c n sự trợ giúp từ
các hoạt động của công tác xã hội”.
10


1.1.2. Đặc điểm tâm sinh lý - xã hội và nhu cầu của người cao tuổi
1.1.2.1. Đặc điểm tâm lý- xã hội của người cao tuổi
* Đặc điểm về sinh lý
Giai đoạn tuổi già là lúc con người đã ở vào giai đoạn xế bóng, đặc điểm
đầu tiên cần quan tâm với NCT là những thay đổi về sinh lý biểu hiện ra ngoài.
Tuổi già thường bộc lộ đặc điểm về sinh lý chung như sau [06, tr.9]:
Diện mạo thay đổi: tóc bạc, da mồi, bộ răng yếu; xương yếu, chân yếu.
Các cơ quan cảm giác: Cảm giác - nghe nhìn, nếm và khứu giác cùng với tuổi tác
ngày càng cao thường bắt đầu hoạt động kém hiệu quả; do quá trình lão hóa của
cơ thể nên sẽ gây giảm độ nhạy cảm của khứu giác và vị giác giảm; chức năng

con cháu (nhất là về kinh tế), song họ đều muốn gần gũi cháu con, để tránh sự cô
đơn, để được sự chăm nom, săn sóc lúc “trái gió, trở trời”.
- Những tác động của đời sống kinh tế xã hội tạo ra những thay đổi quan
trọng với NCT, họ tự cảm thấy mình đang mất dần các uy thế và quyền lực. NCT
thường là từ chối, ngại tham gia các hoạt động xã hội. Hạnh phúc nhất của họ
chính là sự thanh thản với những sở thích cá nhân. Quan hệ giao tiếp xã hội bị
giới hạn ở những nhóm nhỏ, như Hội NCT, hội dưỡng sinh, các câu lạc bộ, hoặc
tham gia các sinh hoạt lễ hội, chùa chiền. Quan hệ xã hội ở NCT đã bị thu hẹp
lại, họ mãn nguyện trong sự hoà thuận, xum vầy với con cháu, hoặc tự ái, sống
cô đơn trong sự bất lực, giận dỗi với người thân [12, tr .58].
1.1.2.2. Nhu c u của người cao tuổi
Nhu cầu là một trong những nguồn gốc nội tại nảy sinh tính tích cực hoạt
động của con người, là trạng thái tâm lý khi cá nhân cảm thấy cần phải có những
điều kiện nhất định để bảo đảm sự tồn tại và phát triển của mình, trạng thái tâm
lý đó kích thích tính tích cực hoạt động của con người nhằm đạt được những điều
mình muốn [24, tr.32].
Theo nhà tâm lý học Abraham Maslow, nhu cầu của con người được chia làm hai
nhóm chính là nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao.

(Nguồn: Abraham Maslow, Abraham Maslow's hierarchy of needsMotivational Model)

Sơ đồ 1.1. Tháp bậc thang nhu c u của Maslow

12


Trên cơ sở nghiên cứu khoa học ta thấy NCT có 5 nhu cầu cơ bản đó là:
- Nhu cầu được chăm sóc đời sống vật chất: NCT có nhu cầu căn bản nhất
thuộc thể chất và sinh lý đó là nhu cầu được chăm sóc đời sống vật chất như thức
ăn, nước uống, bài tiết, thở, nơi ở, tình dục, nghỉ ngơi. Đây là nhu cầu không thể


vật chất không phải là quan trọng nhất mà là sống dưới mái ấm gia đình, quây
quần bên con cháu, được con cháu yêu thương, chăm sóc, quan tâm.
Thông qua lý thuyết và tháp nhu cầu của Maslow, nhân viên CTXH trong
các hoạt động CTXH đối với NCT có vai trò vận động và kết nối nguồn lực
hướng tới đáp ứng nhu cầu của NCT được ngày một tốt hơn. Nội dung hoạt động
hỗ trợ chăm sóc NCT được khái quát hóa và tổng hợp tương tự như các bậc
thang trên, đó là chăm sóc về sức khỏe, vật chất, tinh thần. Khi điều kiện kinh tế
còn yếu kém thì việc chăm sóc, đáp ứng các nhu cầu của NCT chỉ dừng lại ở
cơm ăn, áo mặc, quan hệ chan hòa, vui vẻ với bạn bè và cộng đồng. Khi điều
kiện kinh tế khá lên, đòi hỏi việc chăm sóc NCT đáp ứng các nhu cầu lớn hơn về
giao tiếp, giải trí, tham quan du lịch và đời sống tâm linh.
1.2. Lý luận về công tác xã hội đối với người cao tuổi
1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm công tác xã hội
Có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội như :
Theo Zastrow (1996): CTXH là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá
nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để
giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với
các mục tiêu của họ [12, tr.03] .
Hội đồng đào tạo CTXH Mỹ định nghĩa: CTXH là một nghề nhằm tăng
cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng những hoạt động
tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa con
người và môi trường có hiệu quả. Hoạt động này bao gồm 3 nhóm: Phục hồi
năng lực đã bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân và xã hội và phòng ngừa sự
suy giảm chức năng xã hội. Như vậy, sự có mặt của CTXH nhằm giúp đỡ cá
nhân, gia đình, cộng đồng điều chỉnh mối quan hệ của họ với môi trường xã hội,
qua đó giúp họ bảo đảm chức năng xã hội đúng với vai trò vị trí đảm nhiệm trong
xã hội [15, tr.2].
CTXH ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh

nghe; Kỹ năng thấu cảm; Kỹ năng xử lý sự im lặng; Kỹ năng vận động và kết nối
nguồn lực; Kỹ năng điều phối…
Như vậy chúng ta có thể hiểu một cách ngắn gọn nhất CTXH đối với NCT
như sau: CTXH đối với NCT là một hoạt động chuyên nghiệp của CTXH nhằm
giúp đỡ, hỗ trợ NCT vượt qua khó khăn, giúp họ đánh giá, xác định vấn đề, tìm
kiếm tiềm năng, điểm mạnh từ đó nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề thông
qua các hoạt động như hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ và
15


hỗ trợ về tâm lý, truyền thông, kết nối nguồn lực chăm sóc đời sống vật chất, tinh
th n và môi trường an toàn cho NCT.
1.2.2. Nguyên tắc công tác xã hội trong làm việc với người cao tuổi
Trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp của ngành
CTXH có nhiều nguyên tắc khác nhau, tuy nhiên trong quá trình làm việc của
CTXH đối với NCT cần bảo đảm một số nguyên tắc cơ bản sau [03, tr.58]:
* Nguyên tắc chấp nhận người cao tuổi
Chấp nhận được xem là một nguyên tắc cơ bản của CTXH. Chấp nhận tạo
cơ hội cho NV CTXH xóa đi khoảng cách giữa một nhà chuyên môn và thân chủ
là người được giúp đỡ. Mỗi con người dù là bình thường hay bất bình thường, dù
nhiều tuổi hay ít tuổi đều có nhân phẩm, có giá trị riêng và có quyền được tôn
trọng. Vì vậy trong hoạt động trợ giúp, NV CTXH cần phải có thái độ tôn trọng
phẩm giá con người và chấp nhận họ. Việc chấp nhận những hành vi, quan điểm
hay giá trị của NCT không có nghĩa là đồng tình với hành vi, suy nghĩ của họ. Sự
tôn trọng hay chấp nhận ở đây ám chỉ sự ghi nhận sự tồn tại và không phán xét
những hành vi hay suy nghĩ của họ. Khi làm việc với NCT, NV CTXH cần nắm
vững những đặc điểm tâm sinh lý của họ để hiểu, cảm thông và sẵn sàng chia sẻ,
giúp đỡ. Sự chấp nhận của NVXH sẽ tạo lòng tin ở NCT thúc đẩy sự hợp tác,
chia sẻ, trên cơ sở đó hình thành mối quan hệ tương tác trong quá trình hỗ trợ.
* Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của người cao tuổi

1.2.3. Nội dung công tác xã hội đối với người cao tuổi
1.2.3.1. Hoạt động truyền thông nhằm tăng cường phổ biến thông tin,
tuyên truyền về người cao tuổi
Hoạt động truyền thông với mục đích tăng cường phổ biến thông tin,
tuyên truyền về NCT, về chính sách chăm sóc NCT tới các cấp chính quyền và
cộng đồng, các nhà quản lý, làm chính sách để từ đó nâng cao nhận thức của
người dân, các cơ quan, đoàn thể và cộng đồng về việc chăm sóc, tạo điều kiện
cho NCT sống vui, sống khỏe, sống có ích cho xã hội là nhiệm vụ, trách nhiệm
của toàn đảng, toàn dân và của chính bản thân NCT.
* Các hình thức truyền thông
- Truyền thông trực tiếp: Tổ chức các buổi hội thảo, sinh hoạt hội NCT,
họp dân, các cuộc thi tìm hiểu về NCT, hoạt động văn hóa, văn nghệ về chủ đề
NCT…
- Truyền thông gián tiếp: Thông qua phương tiện đài phát thanh truyền
hình, sách, báo, tạp trí, tờ rơi, Internet, mạng xã hội…
* Các nội dung truyền thông
- Truyền thông các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về NCT;
17


- Truyền thông về vai trò, trách nhiệm của NCT đối với gia đình, cộng
đồng và xã hội;
- Tuyên tuyền về nhận thức và sự chuẩn bị cho tuổi già, các yếu tố ảnh
hưởng khi về già.
1.2.3.2. Hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi
Chăm sóc sức khoẻ là một hoạt động nhằm duy trì, điều chỉnh vào những
lúc cần thiết để phục hồi khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo được
trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải
là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế. CSSK cho NCT không chỉ đơn thuần là
những chăm sóc trong khám chữa bệnh, mà còn bao gồm cả những chăm sóc về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status