bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên năm 2017 - Pdf 42

PHÒNG GD&ĐT ……………
TRƯỜNG .……….

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN CỦA GIÁO VIÊN
Năm học: 2016 - 2017
- Họ và tên: …………………

Giới tính: ……………

- Ngày tháng năm sinh: ………………….
- Chức vụ: ………………………
- Trình độ chuyên môn: ……………………..
Bản thân tôi xin báo cáo về thực hiện kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của bản
thân năm học 2016-2017 cụ thể như sau:
I. NỘI DUNG 1:
1. Nội dung bồi dưỡng:
- Chỉ thị 3031/CT-BGD&ĐT ngày 26/8/2016 của BGD&ĐT về nhiệm vụ chủ yếu
năm học 2016-2017 của ngành giáo dục;
- Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh việc học tập
và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”;
- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ; Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày
28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông,
2. Kết quả đạt được:
- Chỉ thị 3031/CT-BGD&ĐT chỉ rỏ năm học 2016 - 2017, ngành Giáo dục đứng
trước những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đòi hỏi toàn ngành phải
quyết tâm, nỗ lực, phấn đấu hơn nữa để thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động
của Chính phủ triển khai Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội

4. Tự đánh giá:
Nhận thức sâu sắc trách nhiệm của bản thân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
được giao, đặc biệt là ý thức dạy học tích cực, chủ động và sáng tạo.
- Tự đánh giá: Đạt yêu cầu,
II. NỘI DUNG 2:
1. Nội dung bồi dưỡng:
- Quyết định số 1684/QĐ-UBND của UBND tỉnh Sóc Trăng về ban hành khung kế
hoạch thời gian năm học 2016-2017;
- Hướng dẫn số 1780 của SGD&ĐT Sóc Trăng về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ
giáo dục trung học năm 2016-2017;
- Công văn 977 của UBND huyện Cù Lao Dung về triển khai thực hiện nhiệm vụ
năm học 2016-2017;
- Hướng dẫn số 374/HD-PGD về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học
năm 2016-2017;
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nhằm phát triển năng lực tự học và
sáng tạo cho học sinh.
2. Kết quả đạt được:
- Quyết định số 1684/QĐ-UBND của UBND tỉnh Sóc Trăng về ban hành khung kế
hoạch thời gian năm học 2016-2017, nắm được khung kế hoạch thời gian năm học, phổ
biến rộng rãi cho giao viên áp dụng; vạch ra các kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học
phù hợp với khung kế hoạch thời gian năm học;
- Hướng dẫn số 1780 của SGD&ĐT Sóc Trăng về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ
giáo dục trung học năm 2016-2017; Công văn 977 của UBND huyện Cù Lao Dung về
2


triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học 2016-2017; Hướng dẫn số 374/HD-PGD về hướng
dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm 2016-2017. Tập trung thực hiện nhiệm
vụ năm học 2016-2017 tiêu biểu là:
+ Tăng cường nền nếp, kỷ cương và chất lượng, hiệu quả công tác trong các cơ sở

HS THCS cỏ tuổi đừi tù 11 đến 15 tuổi, tuổi cỏ biến động lớn và cỏ ý nghĩa đặc
biệt cửa đời người với một sổ đặc điểm sau:
- Cơ thể phát triển tuy chưa thật hoàn thiện nhưng các em đã cỏ sức lực khá manh mẽ
(tù xa xưa đã có câu: “gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu").
- Tuổi dậy thì (biểu hiện nam tính và nữ tính).
- Hoạt động giao tiếp là hoạt động chú đạo, trước hết là với HS cùng lứa. Qua đó hình
3


thành tình bạn của tuổi thiếu nìên (tình bạn của HS các lớp đầu cấp thường là tình bạn
cùng giới đến các lớp cuối cáp xuất hiện tình bạn khác giới; còn hoạt động học (họchành) là hoạt động cơ bản.
- Tuổi vị thành niên: HS THCS có độ tuổi từ 11 đến 16, các em không còn là trẻ con
nhưng cũng chưa phải là người lớn, là tuổi thiếu nìên và thanh nìên đã cỏ sự phát triển về
sinh lí và tâm lí, các em thích làm người lớn nhưng chưa ý thúc được đầy đủ, vì thế xã
hội coi các em là vị thành nìên. Trong nền vân hoá của dân ta, từ xa xưa đã cỏ quan niệm
“Con dại cái mang" và người dân thường cư xử với nhau như thế. Thời nay, trong giáo
dục, GV THCS cũng nên cỏ quan niệm và cách úng xử “HS mắc khuyết điểm thì GV
cũng cỏ phần trách nhiệm".
* Về hoạt động tập thể cửa HS THCS:
- Các hoạt động đoàn thể: HS THCS thuộc lứa tuổi thiếu niên, ngoài hoạt động học hành là hoạt động co bản các em còn có các hoạt động khác như sinh hoat Đội Thiếu niên
Tiền phong Hồ chí Minh theo các hình thức: nghi thức Đội, hoạt động văn thể, giao luu
tâm tình chia sẻ giúp đỡ lần nhau trong học tập, sinh hoạt, kể cả những vấn đề tế nhị ờ
tuổi dậy thì, tuổi vị thành nìên, gia cảnh.
Nếu như ờ lứa tuổi HS tiểu học, các em thần tượng thầy giáo, cô giáo của mình, thì lên
cấp THCS do trình độ hiểu biết cao hơn, đặc điểm tâm sinh lí phát triển hơn nên các em
không còn giữ thần tượng như trước mà đã cỏ sự định hướng giá trị sống, những giá trị
mà các em hướng tới, như tình bạn, khả năng cá nhân (muốn thể hiện mình, không còn
“ngoan ngoãn" kiểu trẻ thơ).
- Các hoạt động công ích xã hội: giúp đỡ người khỏ khăn, làm từ thiện, tham gia gìn
giữ, tôn tạo các khu di tích, công viên, nơi sinh hoat công cộng.

2. Sắm vai trò chuyện với học sinh cá biệt ngoài giờ học
Bước 1: Chia lớp thành các nhóm từ 5 đến 8 người. Mỗi nhóm đọc những thông tin cơ
bản và phân công hai người sắm vai: một là HS cá biệt và một là GV.
Bước 2: Thực hành trò chuyện với HS cá biệt
3. Các phương pháp thu thập thông tin khác về học sinh cá biệt
a) Quan sát trong quả trình cùng tham gia vào các hoạt động với HS
- Trước khi quan sát, GV cần xác định mục tiêu và các tiêu chí quan sát.
- Trong quá trình quan sát, cần phát hiện và ghi nhận khách quan những thái độ,
hành vi của HS cá biệt đối với công việc, đối với những người xung quanh.
- Sau khi quan sát cần phân tích những hiện tượng thu thập được trong quá trình
quan sát
b) Tìm hiểu về HS thông qua nhóm bạn thân
c) Tìm hiểu về HS thông qua gia đình
d) Tìm hiểu về HS thông qua cán bộ lớp, tổ
e) Tìm hiểu về HS thông qua các bạn ngồi xung quanh trong lớp học
g) Tìm hiểu về HS thông qua GV khác và cán bộ Đoàn
h) Tìm hiểu về HS thông qua hàng xóm
Khi trò chuyện, phỏng vấn gia đình, bạn thân, cán bộ lớp, tổ, ngồi xung quanh trong lớp
học... GV cần:
- Đặt câu hỏi đơn giản, cụ thể, có thể dùng các câu hỏi trục tiếp, hoặc gián tiếp sao
cho phù hợp, nhưng phải liên quan đến mục đích tìm hiểu. Hạn chế dùng những câu hỏi
mà người được hỏi chỉ cần trả lời có hay không.
- Sử dụng nguyên tắc lắng nghe tích cực không chỉ để thu thập đầy đủ thông tin
chính xác, thể hiện thái độ tôn trọng người nói, mà còn để kịp thời phát hiện ra ý cần
6


phải tiếp tục hỏi sâu hơn nhằm khai thác thông tin toàn diện hơn.
- Kết hợp các hình thức giao tiếp: Giao tiếp không chỉ bằng IM mà còn thông qua
ngôn ngữ không lời, đặc biệt là ánh mắt thân thiện, chân thành, khích lệ; tóm tắt và phản

Muốn thay đổi hành vi của HS một cách hiệu quả, GV cần có sự hợp tác của HS,
do đó GV cần chủ động tiếp xúc với HS để nắm bắt về điều kiện và hoàn cảnh, tâm tư,
sức khỏe... của HS; động viên, an ủi giúp cho các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn
hoặc ốm đau, bệnh tật cố gắng yên tâm học tập và biết vượt khó, vươn lên.
2.Giúp học sinh biẽt nhận thức đúng về điểm mạnh và điểm yếu của bản thân
- Nhận thức được những giá trị đối với bản thân
- Tự tin về gía trị và những điểm mạnh của mình để làm điểm tựa cho những hành
vi và ứng xử một cách tích cực
3.Giúp học sinh nhận thức được hậu qủa của những hành vi tiêu cực và tất
yếu phải thay đổi thói quen, hành vi cũ
- GV kết hợp với tập thể lớp giúp HS dần nhận thức được những hành động, cản trở sụ
phát triển chung.
- GV và tập thể HS cần hỗ trợ các em trong quá trình thay đổi hành vi. Đây là quá trình
khó khăn đòi hỏi sự kiên trì của HS cá biệt và sự khuyến khích, hỗ trợ của GV, gia đình,
bạn bè.
4. Giáo viên cần phải quan tâm hổ trợ các em vượt qua những khó khăn và đáp ứng
nhu cầu chính đáng của học sinh cá biệt
Tổ chức cho lớp quan tâm, giúp đỡ HS cá biệt khi gặp khó khăn; phụ đạo bồi
dưỡng thêm để các em có được những kiến thức, kĩ năng cơ bản, vận dụng phưong pháp
tự học bộ môn.
Để đáp úng nhu cầu cho HS, GV cần lưu ý:
- Thái độ hành vi của GV để HS thấy được an toàn
- Thái độ hành vi của GV để HS thấy được yêu thương
- Thái độ, hành vi của GV để HS thấy được hiểu, thông cảm
- Thái độ hành vi của GV để HS thấy được tôn trọng
-Thái độ hành vi của GV để HS thấy có giá trị
4. Động viên, khích lệ, tạo động lực cho học sinh cá biệt tạo động lực học tập
và hoàn thiện nhân cách cho học sinh
- Trong từng giờ học người GV cần chú ý khai thác những trải nghiệm của HS trong
quá trình kiến tạo tri thức mới, tạo nên sự hấp dẫn của nội dung tri thúc, quá trình học lập

dựng bản kế hoạch giáo dục cá nhân là việc làm mới và không ít khó khăn. Để tiến hành
giáo dục HS có hiệu quả cần phải xây dựng và thực hiện một cách nghiêm túc, theo các
mục tiêu và kế hoạch đã định.
8. Áp dụng biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực đối với cả tập thể lớp và học sinh cá
biệt
- Tước bỏ hoạt động yêu thích cho đến khi khắc phục được lỗi
- Tạm dừng việc học tập để HS tự kiểm điểm bản thân với mục đích để giúp H s thoát
ra khỏi trạng thái căng thẳng không thể kiềm chế bản thân và tạo điều kiện cho HS bình
tĩnh trở lại.
- Yêu cầu viết báo cáo hàng ngày với mục đích là để HS nhận biết được những lỗi
thường xuyên mắc phải và tạo cho các em cơ hội điều chỉnh.
9. Thiết lập mối quan hệ thân thiện, gần gũi, chặt chẽ giữa GV với cha mẹ HS
thường xuyên
Làm tốt công tác tư vấn kịp thời về PPGD HS cho cha mẹ HS, vận động cha mẹ HS
cùng tham gia các hoạt động chung của lớp, của trường để cha mẹ HS hiểu thêm về các
hoạt động học tập của con em khi ở trường từ đó phối hợp quản lí giáo dục HS hiệu quả.
Hoạt động 6: Phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh cá biệt
a. Đánh giá hành vi không đồng nhất với đánh giá nhân cách
-Nếu HS cá biệt thực hiện hành vi không mong đợi nào đó thì GV chỉ đánh giá
hành vi đó, mà không quy kết hành vi đó thành nét nhân cách của HS.
-Đánh giá đứng không chỉ giúp các em nhìn nhận đứng bản thân với những điểm
mạnh cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục, mà còn tạo động lực cho HS nổ lực
9


rèn luyện tu dưỡng
b. Đánh giá sự tiến bộ của chính học sinh cá biệt theo quá trình
-Đánh giá sự tiến bộ của HS so với chính bản thân trong mối quan hệ với khả
năng, sự nổ lực của các em. Đồng thời, cần xác nhận mức độ cụ thể đạt được kết quả giáo
dục của từng em và điều chỉnh quá trình giáo dục để nâng cao hiệu quả.

- Xử lý học sinh trong lớp không công bằng, không đến nơi, đến chốn.
- Không xây dựng được quy định riêng cho lớp.
- Chỉ nhắc nhỡ mà không có biện pháp cưỡng chế.
- Học sinh vi phạm lỗi nhẹ cũng mời phụ huynh. Chưa kết hợp với phụ huynh,
chưa thông báo kịp thời với phụ huynh.
- Có thái độ kỳ thị đối với học sinh yếu, kém (cá biệt). Phạt học sinh vi phạm quá
nặng.
- Không thường xuyên theo dõi lớp mà chỉ giao cho lớp trưởng quản lý.
- Bầu Ban cán sự lớp không đủ năng lực. Chỉ nói mà không thực hiện…
*Đối với học sinh cá biệt thường có các biểu hiện sau:
- Bỏ học, cúp tiết, thường đi học trễ. Đi học về nhà không đúng giờ.
10


- Không đồng phục, phù hiệu. Thường nói dối. Đầu tóc, tác phong. Mê chơi game,
lôi kéo, rủ rê bè bạn
- Mất trật tự trong giờ học. Không chú ý nghe thầy cô giảng dạy.
- Thiếu văn hóa (nói tục, chửi thề), đùa giỡn, chọc ghẹo người khác quá mức.
- Sách vỡ không đầy đủ, thường xuyên không chép bài. Không giữ vệ sinh trường
lớp
Câu 2: Hãy nêu vai trò của GVCN đối với công tác tổ chức lớp và những giải pháp
cụ thể để giáo dục HS cá biệt?
Trong công tác chủ nhiệm, nếu làm đúng vai trò trách nhiệm thì người thầy phải bỏ ra
nhiều thời gian, rất vất cả trong việc theo dõi, quản lý lớp. Do đó người giáo viên muốn
làm tốt công tác của mình trước hết phải làm tốt công tác tổ chức lớp, thực hiện một số
công việc sau:
1. Tổ chức
*Xếp chỗ ngồi: GVCN phải xem trước học bạ của từng học sinh trong năm học trước để
nắm được học lực, hạnh kiểm của từng học sinh. Khi sắp chỗ ngồi nên chia đều những
học sinh có học lực khá, giỏi ngồi xen lẫn với những học sinh có học lực trung bình.

quản, giáo viên bộ môn để có hướng bồi dưỡng, rèn luyện thêm cho các em về kiến thức.
11


6. Giao nhiệm vụ cho học sinh:
GVCN nên tạo cho các em một cơ hội để các em thấy được vai trò của mình trong tập
thể, đồng thời phát huy tính làm chủ của các em và nhận thấy rằng mình không bị lạc
lỏng, không bị bỏ rơi. Như tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ, tham gia các trò
chơi dân gian, các hoạt động thể thao, tham gia làm báo tường, cắm trại nhân các ngày lễ
hội của trường tổ chức…Khi hoàn thành nhiệm vụ GVCN phải đánh giá kết quả bằng
cách nêu gương trước tập thể lớp
7. Rèn luyện học sinh tính trung thực
Phải rèn luyện cho học sinh tính trung thực, tự lập, vượt qua mọi khó khăn thử thách,
không nên ỷ lại.
8. Sinh hoạt chủ nhiệm
Trong buổi sinh hoạt cuối tuần, GVCN đóng vai trò cố vấn, hướng dẫn các em từng
bước tiến hành. Sau đó GVCN sẽ là người kết luận cuối cùng. Đối với những trường hợp
vi phạm cho các em tự báo cáo về mình dựa theo nội quy của lớp. Sau đó lớp trưởng nhận
xét xem còn ai chưa báo cáo, hoặc báo cáo không chính xác để GVCN xử lý. Ngoài việc
xử lý học sinh vi phạm, GVCN cần phải có hình thức biểu dương, khen thưởng. Đây là
hình thức rất có ý nghĩa, học sinh cá biệt thông thường vốn khó tính, khó dạy nếu GVCN
thiên vị lập tức sẽ có sự phản ứng ngược lại. Mỗi khi học sinh cá biệt làm được một việc
tốt, đạt điểm tốt thì phải động viên khuyến khích các em nên tiếp tục phát huy. Nếu các
em sai phạm thì cứ nhẹ nhàng xử lý như những học sinh khác, tránh nóng vội, kỳ thị để
các em tự nhận lỗi và sửa chữa.
Câu 3: Bằng kinh nghiệm thực tiễn trong công tác giáo dục, hãy đề xuất một số
biện pháp giáo dục học sinh cá biệt?
Trường học đạt được các danh hiệu thi đua "Tiên tiến", "Xuất sắc" là nhờ vào sự cố
gắng, nỗ lực của Thầy và trò. Giáo viên dạy giỏi là nhờ chúng ta có được những học sinh
giỏi. Nhưng giáo viên dạy giỏi chưa chắc học sinh của mình giỏi hết được. Vì sao? Vì bên

Thứ năm: Giáo dục từng bước, chậm rãi từ những công việc nhỏ. Chẳng hạn phải thức
sớm một chút để không phải đi trễ, mình học yếu thì nên chịu khó, siêng làm bài tập hơn
các bạn, khi nào làm bài tập, học sinh mệt thì nên giải lao để tinh thần thoải mái rồi làm
tiếp, không nên cố gắng quá sức. Giáo viên không nên giáo dục ào ạt chưa hỏi han lý do
gì hết mà đã la mắng học sinh cho dù học sinh đó vi phạm nhẹ, như vậy sẽ mất hiệu quả
giáo dục. Bởi vì đấy là những học sinh cá biệt, tính tình ương ngạnh, tâm lý bất cần, học
hay không đối với bản thân học sinh không quan trọng mà học sinh vào lớp là chỉ được
"lãnh lương" hàng ngày, không phải làm những việc nặng nhọc bằng tay chân ở nhà.
Thứ sáu: Chúng ta phải tác động vào động cơ học tập, để các em này thấy rõ tầm quan
trọng của việc học. Có thể đưa ra một số tranh ảnh về nạn thất học - chỉ mới mấy tuổi đầu
không được đến trường, phải làm những việc nặng nhọc của người lớn rồi lại bị bạn bè
khinh thường, xa lánh, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Ngược lại những em có học
thì làm việc thuận lợi dễ dàng, càng ngày càng tiến thân, bạn bè ngưỡng mộ phải trầm trồ
khen ngợi, cha mẹ được nở mày, nở mặt.
Câu 4: Vì sao cần tiếp cận cá nhân và khích lệ học sinh cá biệt? Nhớ lại 10 câu nói
không khích lệ mà bạn hay đồng nghiệp thường sử dụng và thay bằng 10 câu nói có
tính khích lệ học sinh?
Là người giáo viên chúng ta mong muốn các em hiểu được, và nhận ra những giá trị
xung quanh các em để các em có niềm vui thật sự ý nghĩa. Và để làm được điều đó, thì sự
cần thiết tiếp cận cá nhân các em và khích lệ các em là một việc làm trước hết
*Vài câu nói có tính khích lệ học sinh
1- “Triết gia Socrate là bậc thầy vĩ đại đã khẳng định rằng: tất cả mọi người là thông
minh như nhau nhưng sự thông minh ấy ở trạng thái ngái ngủ, và cô là một giáo viên có
nhiệm vụ đánh thức trạng thái ngái ngủ đó. Vì vậy cô tin là em sẽ làm được)”
2- “1 điểm thầy xem đây là bước tiến bộ của em, thầy tin là em sẽ tiến bộ. Hãy có niềm
tin”
3- “Em là học sinh lưu ban học lại, nhưng em có năng lực, hãy phát huy và phấn đấu đạt
loại khá năm nay”
4- “Hãy chấp nhận sự yếu kém của chính mình, và hãy học để mình được sáng suốt hơn,
thông minh hơn, như vậy em sẽ tiến bộ”

một người từng phạm sai lầm nhưng chịu sữa đổi và cuối cùng ông ta trở thành vị thánh
nhân, sau đó cho cả lớp ghi vào sổ tay “bạn sai hãy chờ bạn sửa sai, nếu mình sai hãy tha
thứ cho chính mình để mình tốt trở lại”. Bầu không khí lớp trở nên lắng dịu, các em như
hòa nhau, các bạn có vẻ thương lớp trưởng và kế bên có bạn đang an ủi để lớp trưởng thôi
khóc.
- Tiếp theo giáo viên nhận định chắc chắn với lớp rằng “lớp trưởng vẫn là lớp trưởng
chúng ta hãy cùng nhau phấn đấu với lớp trưởng để lớp mình ngày một tốt hơn”. Xong
rồi, nếu các em không có ý kiến gì chúng ta sẽ lên kế hoạch cho tuần tiếp theo. Cuối buổi
lớp trưởng ở lại gặp thầy, các em khác có thể ra về.
- Giáo viên ở lại tâm sự và nở nụ cười khích lệ “em hãy cố lên, em có thể làm được vì
chúng ta chưa quen việc đó thôi, cố lên em nhe, lớp trưởng! nào về nhà thôi”.
Tự đánh giá: Đạt yêu cầu.
THCS 4. Phương pháp và kĩ thuật thu thập, xử lí thông tin về môi trường giáo
dục THCS
1. Khái quát về môi trường giáo dục:
1.1. Khái niệm môi trường.
- Môi trường là toàn bộ các yếu tố tự nhiên và xã hội hiện hữu ảnh hưởng lớn đến
đời sống và nhân cách con người. Môi trường bao quanh con người gồm môi trường tự
nhiên và môi trường xã hội. Môi trường tự nhiên gồm khí hậu, đất nước, sinh thái... và
môi trường xã hội là các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hoá...
1.2. Khái niệm môi trường giáo dục:
- Môi trường giáo dục THCS là hệ thống các điều kiện, hoàn cảnh, các yếu tố bên
ngoài và bên trong có ảnh hưởng trực tiếp tới sự hình thành và phát triển nhân cách học
sinh THCS.
14


Môi trường giáo dục có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân
cách cho học sinh nói chung, học sinh THCS nói riêng. Trong quá trình giáo dục, muốn
tạo được những tác động tích cực từ môi trường đến việc học tập và rèn luyện đạo đức

đố có nhóm bạn bè chính thức và không chính thức. Các nhóm bạn bè này có ảnh hưởng
tích cực hoặc tiêu cực đến các thành viên trong nhóm trong quá trình học tập, sinh sống.
- Tóm lại, môi trường giáo dục có tác động quan trọng tới sự hình thành và phát
triển nhân cách học sinh THCS. Cụ thể, môi trường góp phần tạo nên mục đích, động
cơ, cung cấp phương tiện cho hoạt động và giao tiếp của học sinh, nhờ đó mà mỗi học
sinh THCS chiếm lĩnh đuợc những tri thức, kĩ năng, kỉ xảo, thái độ, hành vi và thói quen
tốt đẹp trong học tập và cuộc sổng.
- Phải đánh giá đúng vai trò của môi trường giáo dục đổi với việc học tập,
rèn luyện của học sinh THCS. Phải tổ chức cho học sinh tích cực tham gia vào việc cải
tạo và xây dựng môi trường theo những yêu cầu của xã hội.
2 - Phương pháp tìm hiểu môi trường giáo dục trung học cơ sở.
Các phương pháp tìm hiểu môi trường giáo dục Trung học cơ sở:
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ học sinh: nghiên cứu học bạ, lí lịch của học
sinh THCS và cha mẹ các em; nghiên cứu hồ sơ, sổ sách ghi chép của lớp. Học bạ của
học sinh là hồ sơ ghi tương đối đầy đủ về tình hình học tập, tu dưỡng, khen thưởng và kỉ
luật đối với mỗi học sinh. Nghiên cứu học bạ sẽ cho giáo viên hiểu khái quát về tình hình
học sinh qua những năm học trước, lí lịch cá nhân cho biết về hoàn cảnh xuất thân, các
mối quan hệ trong gia đình và xã hội của học sinh. Nắm đuợc lí lịch học sinh sẽ giúp GV
lựa chọn được phuơng pháp tác động đến học sinh phù hợp và hiệu quả.
- Phương pháp quan sát, phỏng vấn và nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư
phạm: người giáo viên THCS cần kiểm tra lại những thông tin thu được qua hồ sơ bằng
việc quan sát hằng ngày các hoạt động tập thể, học tập, lao động, vui chơi, giải trí, thái
độ, hành vi của học sinh trong lớp và ngoài lớp. Các sản phẩm lao động, học tập cũng
phản ánh được sự phát triển nhân cách học sinh, vì thế, GV cần dựa vào đó để hiểu và
nắm vững tình hình học sinh. Mặt khác, mỗi GV cần sắp xếp thời gian để cỏ điều kiện
đến thăm hỏi và trao đổi cùng với gịa đình, phụ huynh học sinh.
- Sử dụng phương pháp điều tra viết để thu nhập thông tin: thực chất của
17



18


vậy, giáo dục gia đình không thể thay thế hoàn toàn giáo dục của nhà trường.
- Môi trường giáo dục nhà trường: So với môi trường giáo dục gia đình, giáo
dục nhà trường rộng lớn hơn, phong phú hơn, hấp dẫn hơn với học sinh THCS. Trong nhà
trường, trẻ được giao lưu với bạn bè cùng lứa tuổi, đuợc tham gia vào nhiều hoạt động
mang tính xã hội, giúp cho quá trinh xã hội hoá cá nhân phong phú, toàn diện hơn.
Giáo dục nhà trường có sự thống nhất về mục đích, mục tiêu cụ thể, được thục
hiện bởi đội ngũ các nhà sư phạm được đào tạo và bồi dưỡng chu đáo; tiến hành giáo dục
theo một chương trình, nội dung, phương pháp sư phạm nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi
nhất cho sự phát triển nhân cách toàn diện, hướng tới sụ thành đạt của con người.
- Môi trường giáo dục xã hội: Giáo dục xã hội là hoạt động của các tổ chức, các
nhóm xã hội có chức năng giáo dục theo quy định của pháp luật hoặc các chương trình
giáo dục trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Giáo dục của xã hội phải kết hợp chặt chẽ với giáo dục gia đình và nhà trường, góp
phần thực hiện mục tiêu đào tạo con người theo định hướng của Đảng và Nhà nước.
4.2. Một số biện pháp phối kết hợp các môi trường giáo dục.
4.2.1. Nội dung phối hợp.
- Thống nhất mục đích, kế hoạch chăm sóc, giáo dục học sinh của tập thể sư phạm
nhà trường với phụ huynh, với các đoàn thể, cơ sở sản xuất, các cơ quan văn hóa – giáo
dục ngoài nhà trường.
- Theo dõi, đánh giá kết quả quá trình giáo dục học sinh trong nhà trường và ở địa
phương nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả giáo dục.
- Gia đình phải tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mĩ cho học sinh; người lớn có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho
con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.
- Đẩy mạnh sự nghiệp xã hội hóa giáo dục, tạo động lực mạnh mẽ cũng như điều
kiện thuận lợi cho hệ thống nhà trường thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đào tạo ở tất cả các
cấp học.

Người viết thu hoạch

.
20


21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status