PHÒNG GD&ĐT THỊ XÃ GIA NGHĨA
TRƯỜNG THCS NG. BỈNH KHIÊM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG
THƯỜNG XUYÊN CỦA CÁ NHÂN NĂM HỌC 2015 - 2016
NỘI DUNG 3: MODULE 23
Họ và tên giáo viên: Nguyễn Đức Quyền
Chức vụ:
Giáo viên
Chuyên môn : Sinh
Đơn vị: Trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm, Gia Nghĩa, Đak Nông.
Câu hỏi: Qua công tác Bồi dưỡng thường xuyên năm học 2015-2016, ở
nội dung bồi dưỡng 3(có các mô đun 23,24, 28,29) thầy cô tâm đắc với mô đun
nào nhất. Thầy cô trình bày mô đun đó.
BÀI LÀM
Căn cứ vào tình hình thực tế vào các nhiệm vụ mà giáo viên trong tổ đảm
nhận, bản thân xây dựng kế hoạch triển khai chương trình bồi dưỡng thường
xuyên (BDTX) giáo viên THCS năm học 2015 - 2016; qua một năm thực hiện
bản thân quan tâm đến Mô đun THCS 23: Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
học sinh .
Sau khi kết thúc việc học tập module này:
Nắm được các bước cơ bản để xây dựng đề kiểm tra; nắm được kĩ thuật
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS.
Thực hiện được việc biên soạn đề kiểm tra cho môn học cụ thể.
Sử dụng được các kĩ thuật kiểm tra, đánh giá trong dạy học để đánh giá kết
quả học tập của học sinh và nâng cao hiệu quả dạy học.
Công khai hoá nhận định về năng lực và kết quả học tập của mọi học sinh
và tập thể lớp, tạo cơ hội cho học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp học
sinh nhận ra sự tiến bộ của mình; khuyến khích, động viên việc học tập.
Giúp cho giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm
yếu của mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất
lượng và hiệu quả dạy học.
3.Ý nghĩa của việc kiểm tra, đánh giá:
Kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh, giáo
viên và đối với cán bộ quản lí.
Đối với học sinh: việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên, cung cấp kịp
thời những thông tin giúp người học điều chỉnh hoạt động học.
Đối với giáo viên: Kiểm tra, đánh giá cung cấp cho giáo viên những thông
tin giúp người dạy điều chỉnh hoạt động dạy.
Đối với cán bộ quản lí nhà trường: kiểm tra, đánh giá cung cấp cho lãnh đạo
những thông tin về thực trạng dạy và học trong nhà trường để có những chỉ đạo
kịp thời, uốn nắn được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay,
bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục.
4. Vai trò của kiểm trar đánh giá:
Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chú trọng đến dạy cái gì
mà cần quan tâm đến dạy học như thế nào. Đổi mới phương pháp dạy học là một
yêu cầu cấp bách có tính chất đột phá để nâng cao chất luợng dạy học. Đổi mới
phương pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ từ đổi mới nội
dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy học cho đến kiểm tra, đánh
giá kết quả dạy học. Kiểm tra, đánh giá có vai trò rất to lớn trong việc nâng cao
chất lượng dạy học; là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản
lí giáo dục. Nếu kiểm tra, đánh giá sai sẽ dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào
tạo, tác hại to lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực. Vậy đổi mới kiểm tra, đánh
giá trở thành nhu cầu bức thiết của ngành Giáo dục và toàn xã hội ngày nay. Kiểm
tra, đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng
say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập
khen thưởng – kỷ luật hợp lý.
- Giúp bản thân HS thấy được kết quả học tập của mình, đồng thời thúc
đẩy họ học tập tiến bộ hơn.
Để đánh giá được kết quả học tập, người giáo viên cần phải thu thập thông
tin, đối chiếu, so sánh và đi đến kết luận phù hợp.
Muốn quá trình thu thập thông tin có hiệu quả, giáo viên cần phải quan sát
học sinh, đặt câu hỏi cho học sinh trả lời, cho đề học sinh làm bài. Để có thể đi
đến kết luận chính xác, giáo viên cần phải đối chiếu câu trả lời hay bài làm của
học sinh với các đáp án, thang điểm hợp lý.
Vậy đánh giá kết quả học tập của học sinh là đưa ra những nhận định,
những phán xét về mức độ thực hiện mục tiêu giảng dạy đã đề ra của học sinh. Từ
đó đưa ra các giải pháp điều chỉnh phương pháp dạy của thầy và phương pháp học
của trò, đưa ra các khuyến nghị góp phần thay đổi các chính sách giáo dục.
5. Các chức năng của đánh giá kết quả học tập:
Chức năng xác nhận: Xác định mức độ của người học, làm căn cứ cho các
quyết định phù hợp. Cung cấp những số liệu để thừa nhận hay bác bỏ sự hoàn
thành hay chưa hoàn thành của khóa học
Chức năng định hướng: Xác định điểm mạnh và điểm yếu của học sinh,
giúp giáo viên đưa ra các quyết định có liên quan đến các kế hoạch, nội dung,
phương pháp, sắp xếp nhóm học tập, bồi dưỡng năng khiếu….
Chức năng hỗ trợ: Quá trình dạy học là 1 tiến trình dài. Học sinh thường
khó bảo toàn, toàn bộ kiến thức.Vì vậy, kiểm tra đánh giá góp phần điều chỉnh, hỗ
trợ, giúp cho quá trình học tập có hiệu quả.
Trong nhà trường THCS hiện nay, việc tiến hành đánh giá kết quả học tập
của học sinh diễn ra một cách đồng bộ, nhịp nhàng và thường xuyên, đảm bảo thể
hiện đầy đủ các chức năng ở các loại hình kiểm tra :
- Kiểm tra miệng ở đầu mỗi tiết học
3
Trong đánh giá học sinh hiện tại là đánh giá chấm điểm mà không có sự
phản hồi cho học sinh. Gíao viên chấm bài kiểm tra, thường chỉ cho điểm hoặc chỉ
phê chứ chưa giải thích được rõ cho học sinh biết tại sao sai, sai như thế nào. Một
số giáo viên chấm bài có sự phản hồi nhưng phản hồi không đủ, phản hồi tiêu cực,
không mang tính xây dựng làm cho người học chán nản… Khi phản hồi của giáo
viên đối với bài làm của HS mang sắc thái xúc cảm âm tính, tiêu cực, có thể làm
học sinh xấu hổ, mất tự tin. Bên cạnh đó, nếu giáo viên có phản hồi chung (chữa
bài kiểm tra trên lớp) lại thường đưa ra lời giải đúng theo cách tư duy “áp đặt” của
giáo viên , mà không giúp phân tích mổ sẻ những cách tư duy chưa phù hợp của
học sinh dẫn đến sự sai sót. điều này làm cho quá trình dạy học bị bóp méo chỉ để
phục vụ mục đích thi cử, nên mới xảy ra hiện tượng mọi học sinh “muốn điểm cao
phải đi học thêm” nhưng thi xong không còn nhớ được nội dung chính là gì..
Một thực trạng hiện nay, giáo viên sử dụng hầu như rất hạn chế các hình
thức đánh giá mới, hiện đại, phần lớn những đánh giá giáo viên đang sử dụng có
tính truyền thống: dựa vào viết luận, làm các bàì tập như kiểm tra 15 phút, 1 tiết…
, và thông qua một số câu hỏi trắc nghiệm hoặc tự luận mà chính giáo viên cũng
không rõ mình định đánh giá kỹ năng hay năng lực gì ở học sinh. Khi giáo viên
4
chưa đa dạng hóa các kiểu đánh giá sẽ làm cho hoạt động học tập trở nên nhàm
chán, sẽ khó phát triển các năng lực bậc cao ở người học (như năng lực giải quyết
vấn đề, năng lực tư duy sáng tạo…). Trong khi đó, yêu cầu của đổi mới kiểm tra
đánh giá là phải áp dụng đa dạng các hình thức đánh giá: đánh giá bằng trắc
nghiệm, bằng kiểm tra viết kiểu tự luận, vấn đáp… đánh giá thông qua sản phẩm,
qua hồ sơ học sinh, qua thuyết trình/trình bày, thông qua tương tác nhóm, thông
qua các sản phẩm của nhóm…, đánh giá bằng các tình huống bài tập, các hình
thức tiểu luận, …, thì giáo viên chưa làm được vì chưa được đào tạo.
8. Những khó khăn hay bất cập trong kiểm tra đánh giá học sinh hiện nay
nên hiểu thế nào để tìm cách khắc phục
giá phải tạo ra động lực để đối tượng được đánh giá vươn lên. Do vậy, đánh giá
phải linh hoạt, mềm dẻo có tác dụng khích lệ, động viên. Tiêu chí đánh giá cũng
như kết quả đánh giá phải được công bố công khai và kịp thời cho học sinh.
Nội dung 2: Các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong nhà trường hiện
nay thường được tiến hành với các hình thức:
- Phương pháp Kiểm tra viết dạng tự luận.
5
- Phương pháp Kiểm tra trắc nghiệm khách quan.
- Phương pháp Kiểm tra vấn đáp.
- Phương pháp quan sát.
1. Bài kiểm tra tự luận
a/ Khái niệm: Bài kiểm tra dạng tự luận truyền thống là bài thi trong đó,
học sinh tự do viết câu trả lời ra giấy về một vấn đề cho trước. Dựa vào những câu
trả lời được viết ra , giáo viên cần cho điểm hoặc xác định các mức độ kết quả bài
thi.
Kiểm tra viết dạng tự luận là phương pháp dùng bài kiểm tra viết dạng tụ
luận để đo lường mức độ mà cá nhân đạt được ở một lĩnh vục cụ thể. Một bài
kiểm tra viết dạng tụ luận thường cỏ ít câu hỏi, mỗi câu hỏi phải viết nhiều câu để
trả lời và cần phải có nhiều thời gian để trả lời mỗi câu hỏi.
Câu trả lời thể hiện ờ hai dạng: Câu có sự trả lời mở rộng: Là loại câu có
phạm vi rộng và khái quát, học sinh tự do biểu đạt tư tưởng và kiến thức; Câu tự
luận trả lời có giới hạn: Các câu hỏi được diễn đạt chi tiết, phạm vi câu hỏi đuợc
nêu rõ để người trả lời biết được độ dài ước chùng của câu trả lời. Bài kiểm tra
với loại câu này thường có nhiều câu hỏi hơn bài có câu tự luận trả lời mở rộng.
- Một số ưu điểm và hạn chế của bài kiểm tra tự luận:
+ Ưu điểm
Có khả năng đo lường được các mục tiêu đã xác định trước.
2. Kiểm tra vấn đáp
a/ Khái niệm: Kiểm tra miệng là phương pháp đánh giá rất phổ biến trong
dạy học. Trong đó GV đưa ra các câu hỏi ngắn để học sinh trả lời. học sinh có thể
được chuẩn bị, hoặc không được chuẩn bị trước câu hỏi. Căn cứ vào câu trả lời,
GV có thể đo lường và đánh giá các kết quả đạt được ở học sinh.
+ Điểm mạnh
- Tính linh hoạt, cơ động.
- Có thể kiểm tra trí nhớ, tư duy hay các phẩm chất tâm lý khác.
- Có thể tiến hành trong và ngoài lớp học.
- Dùng để đánh giá học sinh trước, trong và kết thúc khóa học.
- Giá trị chẩn đóan các câu hỏi miệng khá cao, vì GV có điều kiện trao đổi
với từng HS và kích thích tư duy của họ.
+ Hạn chế.
- Phương pháp đánh giá mang đậm chất chủ quan của GV (cách đặt câu hỏi,
nhận xét và đánh giá tức thời).
- Khó so sánh giữa các học sinh.
- Tốn nhiều thời gian trong quá trình kiểm tra.
- Nhiều học sinh ngại tiếp xúc, ngại nói trước mặt GV, ảnh hưởng đến kết
quả bài thi.
b/ Một số gợi ý khi sử dụng phương pháp đánh giá bằng vấn đáp.
- Xác định rõ ràng mục đích của bài kiểm tra vấn đáp.
+ Nhằm mục đích gì.
+ Đánh giá nhanh kiến thức của học sinh trong giờ học hay bài thi hết môn,
cuối khóa.
- Câu hỏi nên được soạn trước để học sinh có thời gian chuẩn bị, nhất là đối
với bài thi cuối khóa.
- Dung lượng câu hỏi không quá dài; Nội dung phải phù hợp với mục tiêu
đánh giá; Không đề cập nhiều nội dung trong một câu hỏi; Hạn chế câu hỏi có
tính chất học thuộc. Khuyến khích các câu hỏi suy luận và kích thích tư duy của
HS.
Ngoài ra còn đo được các mục tiêu cảm xúc và tâm vận của học sinh.
- Tính khách quan cao. Điểm số có độ tin cậy cao.
- Tính bao quát về nội dung lẫn đối tượng cao .
- Tiết kiệm thời gian (làm nhanh, dễ chấm, chấm nhanh…)
+ Hạn chế
- Khó đánh giá chiều sâu trong nhận thức của học sinh, đặc biệt là sức sáng
tạo của HS.
- Việc soạn thảo bài trắc nghiệm khó, đòi hỏi người soạn phải có kĩ thuật,
kinh nghiệm.
- Việc soạn thảo hình thành bài TN tốn nhiều thời gian, qua nhiều công
đoạn phức tạp.
c/ Các loại câu hỏi trắc nghiệm
Câu hỏi lựa chọn: Câu hỏi lựa chọn là loại câu hỏi, trong đó có phần gốc
và phần trả lời. Phần gốc là một câu dẫn, tạo cơ sở cho sự lựa chọn. Phần trả lời là
các phương án cho sẵn, trong đó có một phương án đúng nhất theo nội dung của
phần dẫn, còn các phương án khác có tác dụng gây nhiễu. Trong một câu hỏi, tốt
nhất là nên có từ 4-5 phương án lựa chọn.
Câu hỏi đúng – sai: Câu hỏi đúng – sai là loại câu khẳng định hoặc phủ
định về một vấn đề nào đó. học sinh phải đọc, suy nghĩ và nhận định lời khẳng
định hoặc phủ định đó là đúng hay sai.
Câu hỏi đúng sai phù hợp để hỏi những sự kiện, thuật ngữ và các kiến thức
có quan hệ nhân quả. Dễ khuyến khích người trả lời phỏng đoán, không phù hợp
khi dùng đo các kiến thức có tính suy luận cao, vì vậy không nên dùng nhiều
trong các bài trắc nghiệm.
Loại câu điền vào chỗ trống: loại câu này đòi hỏi trả lời bằng một hay một
cụm từ cho một câu hỏi trực tiếp hay một câu nhận định chưa đầy đủ.
Câu hỏi ghép đôi: Câu ghép đôi là câu hỏi có hai phần: phần dẫn và phần
trả lời. Phần dẫn thường ở bên trái, là các câu, các mệnh đề nêu thuật ngữ, nội
dung, định nghĩa…Phần trả lời là phần bên phải, cũng bao gồm các câu, mệnh
đề…mà nếu được ghép đúng vào mệnh đề dẫn ở bên trái sẽ trở thành một phương
- Quan sát và ghi chép đầy đủ về sự kiện đặt trong một tình huống cụ thể để
sự kiện trở nên có ý nghĩa hơn.
- Sự kiện xảy ra cần phải được ghi chép lại càng sớm càng tốt.
Mỗi bản ghi chỉ nên tập trung vào 1 sự kiện.
- Quan sát cần lựa chọn: nếu quan sát một tập thể thì cũng tập chung vào
một vài cá nhân: học sinh cá biệt, học sinh chậm chạp, học sinh có những biệu
hiện lạ.
Phương pháp thực hành quan sát có nhiều thuận lợi trong đánh giá thái độ
hoặc kỹ năng của học sinh. Phương pháp này hướng các em đi vào các hoạt động,
tạo cơ hội cho các em thể hiện những điều đã học theo những cách khác nhau, qua
đó thể hiện được tính sáng tạo của học sinh.Thông qua các hoạt động quan sát,
đánh giá thực hành, giáo viên có thể nắm bắt 1 số thông tin có giá trị. Tuy nhiên
phương pháp này chỉ thu được những biểu hiện trực tiếp, bề ngoài. Kết quả quan
sát còn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người quan sát, số lượng quan sát
không nhiều. Giáo viên thường mất nhiều thời gian đầu tư cho các bài tập hay và
xây dựng các tiêu chí đánh giá.Học sinh mất nhiều thời gian để hoàn thành nhiệm
vụ.
5. Đánh giá đầy đủ các mục tiêu học tập cần có sự lựa chọn và phối
hợp các phương pháp đánh giá
Mỗi phương pháp kiểm tra đánh giá đều có ưu điểm và hạn chế nhất
định. Không có một phương pháp nào là tối ưu hay hạn chế nhất.Do đó, người giáo
viên cần phải lựa chọn và phối hợp các phương pháp cho phù hợp với mục tiêu
đánh giá.
Để kết quả kiểm tra đánh giá đảm bảo tính khách quan, có giá trị, đáng tin
cậy, giáo viên nên sử dụng phương pháp kiểm tra trắc nghiệm khách quan. Phương
pháp này thường có nhiều câu hỏi, xoay quanh nhiều vấn đề, do vậy chúng ta có
thể đánh giá được tổng thể lượng kiến thức cần đánh giá.
9