1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm tụy mạn là một bệnh lý khá phố biến ở các nước phát triển, song
cũng không phải là hiếm gặp ở các nước đang phát triển. Quá trình viêm tụy
mạn thường dẫn đến quá trình canxi hóa gây ra sỏi tụy. Sự hiện diện của
những viên sỏi trong hệ thống ống tụy được gọi là sỏi tụy. Trước đây một số
tác giả cho rằng sỏi tụy là một bệnh độc lập, nhưng một số khác lại cho rằng
sỏi tụy chỉ là một biến chứng của viêm tụy mạn do rượu mà thôi.
Sỏi tụy được Cowley lần đầu tiên mô tả năm 1788 từ một bệnh nhân bị
chết do đái tháo đường. Đến năm 1946 Comfort đã mô tả đầy đủ biểu hiện
lâm sàng của viêm tụy mạn. Đến năm 1988 tại Rome mới được định nghĩa
đầy đủ về viêm tụy mạn. Từ đó đến nay qua hơn 200 năm, việc chẩn đoán sỏi
tụy có rất nhiều tiến bộ nhờ áp dụng các phương pháp thăm khám hiện đại
như: siêu âm, chụp cắt lớp vi tính (CT), chụp cộng hưởng từ (MRI), PET/CT,
nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP), siêu âm nội soi (EUS) từ đó đã giúp cho
chẩn đoán sớm hơn và đưa ra những chỉ định điều trị thích hợp hơn.
Mặc dù vậy việc xác định nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của sỏi
tụy vẫn còn khó khăn. Ngày nay các tác giả khá thống nhất về sỏi tụy là
dấu hiệu đặc trưng của viêm tụy mạn, canxi hóa. Bản chất của sỏi là do
ngưng kết Protein trong các tuyến tụy sau đó là sự kết tủa của canxi carbonat
tạo thành sỏi.
Việc điều trị cũng gặp nhiều khó khăn vì tổn thương nhu mô tụy trong
bệnh lý này là không hồi phục. Điều trị gồm nội khoa, ngoại khoa, trong đó
nội khoa đóng vai trò quan trọng, phẫu thuật được đặt ra khi bệnh nhân đau,
nhiễm trùng, dùng thuốc không hiệu quả hay có tổn thương khu trú ở tụy và
các tạng xung quanh.
2
tràng ngang, một phần nhỏ ở dưới mạc treo này.
Kích thước và màu sắc tụy: Kích thước tụy thay đổi, ở người trưởng
thành trung bình dài 15cm, cao 6cm, dày 3cm và nặng 80g. Tổ chức của tụy
mềm và có màu tráng hồng [1], [2].
1.1.2. Sự phân chia tụy
Được chia làm 4 phần: Đầu, cổ, thân và đuôi tụy.
- Đầu tụy: Dẹt, hình gần vuông, có khung tá tràng vây quanh. Ranh giới
giữa đầu và eo tụy được nhận biết phía trước bởi một đường lõm, có
ĐM tá-tụy chạy qua, phía sau bởi một đường tưởng tượng nối TM cửa
và TM mạc treo tràng trên. Phía dưới có móc tụy, nó trải rộng phía sau
vào trong tới nằm cạnh tĩnh mạch chủ dưới, TM mạc treo tràng trên và
ĐM mạc treo tràng trên. Liên quan phía trước với môn vị và đại tràng
ngang, phía sau tụy tiếp cận với thận phải, cuống mạch thận phải, TM
chủ và nơi đổ vào của TM thận trái.
- Thân tụy: Từ khuyết tụy (do ĐM mạc treo tràng trên ấn lên mà thành)
chếch lên trên sang trái có hai chiều cong: lõm ra trước ôm cột sống,
lõm ra sau ôm dạ dày. Thân tụy có 3 mặt và 3 bờ:
• Mặt trước lõm áp vào mặt sau dạ dày, được phủ bởi phúc mạc
thành sau của hậu cung mạc nối.
• Măt sau phẳng, dính vào lá thành sau của phúc mạc, đi từ phải
sang trái bắt chéo phía trước ĐM chủ bụng. ĐM lách chạy ở bờ
trên của mặt sau.
4
• Mặt dưới hẹp, ở phía sau mạc treo đại tràng ngang.
• Bờ trên giới hạn mặt trước với mặt sau liên quan với ĐM lách.
• Bờ dưới giới hạn mặt sau và mặt dưới.
• Bờ trước giới hạn mặt sau và mặt dưới.
1.1.3. Sự cấp máu và hạch lympho
Toàn bộ tụy được cấp máu bởi ĐM thân tạng và ĐM mạc treo tràng trên.
Thông thường thân và đuôi được cấp máu bởi ĐM lách. Đầu, eo được cấp
Đầu tụy
máu bởi ĐM vị-tá tràng và nhánh đầu tiên của ĐM mạc treo tràng trên. Các
tĩnh mạch đổ về các TM lách, mạc treo tràng trên và TM cửa. Tụy được dẫn
lưu bởi nhiều nhóm hạch lympho. Đường dẫn lưu lớn nhất đầu tụy là tới hạch
dưới môn vị, cạnh TM cửa, mạch mạc treo tràng trên và hạch cạnh ĐM, TM
chủ bụng. Thân và đuôi tụy được dẫn lưu qua các hạch thân tạng, động mạch
chủ, mạc treo và vào hạch rốn lách [1], [2].
1.1.4. Thần kinh
Tụy được chi phối bởi cả hai hệ thống thần kinh giao cảm và phó giao
cảm, là thành phần của hệ TK tự động. Con đường dẫn truyền đau của tụy bao
gồm sợi nhận cảm đau trong tụy. Chúng dẫn truyền qua các hạch tạo thành
các sợi TK tạng lớn, nhỏ và tới tế bào thân ở chuỗi hạch giao cảm ngực. Sợi ly
tâm chạy tới tụy gồm cả thần kinh giao cảm và phó giao cảm. Sau đó các sợi
trước hạch phân bố từ những tế bào thân phế vị, chạy tới đám rối thân tạng. Sợi
sau hạch chi phối các tiểu đảo, ống tuyến, và hệ thống mạch của tụy [1], [2].
1.1.5. Các ống tiết của tụy
Túi mật
Ống mật chủ
Ống tụy chính
Niêm mạc tá tràng
Hình 1.2. Cấu trúc tụy ngoại tiết
Nguồn: Standring: Gray's Anatomy, 40th ed, 2008
vùng cực ngọn các tế bào này.
7
-
Tế bào trung tâm tuyến nang: Không xếp thành lớp liên tục, có hình
dẹt, hình sao hay hình thoi. Nằm ở cực ngọn các tế bào chế tiết.
+ Những ống bài tiết:
- Ống trung gian: là các vi ống tiết nối tiếp với các nang ống. Tế
bào trung tâm nang tuyến chính là những tế bào lợp thành ống
trung gian nằm trong nang tuyến.
- Các ống tiết nằm trong tiểu thùy và gian tiểu thùy: Có tính chất chế
tiết rõ rệt, bên trong cấu tạo bởi một hàng tế bào hình trụ hoặc hình
khối vuông, bên ngoài ống được bọc bởi một lớp vỏ xơ.
- Ống tụy chính: có lòng ống rộng, bên trong là một lớp tế bào
biểu mô, bên ngoài ống có vỏ xơ chun bao quanh, các sợi cơ
vòng tạo nên các cơ thắt ở miệng ống ngăn cản sự trào ngược từ
tá tràng.
Ống tuyến
Nang tuyến
Hình 1.3. Hình ảnh tuyến ngoại tiết
Nguồn: Standring: Gray's Anatomy, 40th ed, 2008
9
delta (δ) và tế bào khác (pp). Những tế bào này được phân biệt với nhau bởi
cấu tạo hình thái và tính chất bắt màu khi nhuộm. Các đảo tụy có hệ thống
mao mạch hình xoang rất phong phú.
1.2.2.2.Chức năng tụy nội tiết
Tụy tiết insulin vào máu cho chuyển hóa đường, nếu vì lý do nào đó
tụy không bài tiết đủ insulin, để đưa glucose vào trong tế bào, tổng hợp
glycogen không đủ dẫn đến sự giảm chuyển hóa glucid, kết quả là phần lớn
glucose máu không được sử dụng và mức glucose máu tăng. Khi glucose
máu tăng lớn hơn 10 mmol/l các ống thận sẽ không tái hấp thu glucose và
glucose sẽ xuất hiện trong nước tiểu. Khi VTM tuyến tụy bị phá hủy sẽ
gây nên đái tháo đường [1], [2].
1.2.3. Đặc điểm giải phẫu bệnh của sỏi tụy – viêm tụy mạn
1.2.3.1 Hình ảnh đại thể.
Khi có sỏi, kích thước tụy thay đổi. Có thể to toàn bộ hay từng phần,
đôi khi teo nhỏ lại khi bệnh ở giai đoạn muộn. Hình dáng tụy thay đổi, méo
mó, mất các thuỳ. Tụy trở nên cứng chắc, xơ và bề mặt có nhiều hạt sần. Khi
cắt ngang tụy thấy hình ảnh xơ và sỏi nằm trong ống tụy có hình dạng và kích
thước khác nhau. Ống tụy chính và ống tụy phụ bị giãn. Những trường hợp
VTM do rượu sỏi thường nhỏ và thưa, ngược lại với viêm tụy xơ sỏi, sỏi
thường to và nhiều. Những viên sỏi to thường tập trung ở đầu tụy, những viên
sỏi nhỏ thường tập trung ở đuôi tụy. Kích thước của sỏi tụy có thể nhỏ như hạt
cát, có viên to tới 4cm, sỏi có thể hình tròn nhẵn hoặc xù xì. Sỏi có màu trắng
xám hoặc trắng nhạt [3].
1.2.3.2 Hình ảnh vi thể
Hình ảnh vi thể của tụy khi có sỏi là những nang dày, tổn thương xơ
bên trong các tiểu thùy và xơ lan tỏa khắp nơi tụy. Tổn thương xơ bên trong
tiểu thùy đặc trưng cho bệnh ở giai đoạn sớm. Tổn thương xơ lan tỏa đặc
Nhật bản tỷ lệ này là 55-80% [7]. Ở Việt nam, theo Nguyễn Ngọc Bích tỷ lệ
VTM do rượu là 47% [8]. Tuổi trung bình của bệnh nhân VTM là 40. Thời
gian uống rượu trung bình là trên 10 năm và lượng rượu uống trung bình 150175gr/ngày [9].
- Để giải thích tại sao rượu gây sỏi tụy người ta thấy rằng nồng độ rượu
trong dịch tụy tương tự như trong máu, làm tổn thương tế bào biểu mô tuyến
tụy tạo thành các nút protein và canxi hóa các nút protein trong lòng ống tụy.
Sự hình thành sỏi ống tụy sẽ làm tổn thương các tế bào nang tụy và xơ hóa
tụy. Rượu làm thay đổi các thành phần dịch tụy là tác nhân hình thành các nút
protein. Rượu làm giảm nồng độ chất lithostathine trong dịch tụy, chất này có
tác dụng ngăn cản quá trình canxi hóa các nút protein. Rượu và các sản phẩm
từ rượu còn gây độc trực tiếp cho tụy, xơ hóa và teo đét tế bào tụy.
12
1.3.2. Bệnh di truyền
Năm 1952 Comfort và Steiberg thông báo một BN nữ 24 tuổi “viêm tụy
mạn di truyền”, sau đó rất nhiều gia đình viêm tụy mạn được thông báo mà
không liên quan tới rượu. Triệu chứng điển hình là lúc còn trẻ có đau bụng và
tìm ra hình ảnh viêm tụy mạn canxi hóa. Tiến triển chính là dẫn đến rối loạn
chức năng, một số BN có triệu chứng của tắc nghẽn ống tụy. Nguy cơ dẫn đến
ung thư tụy tăng cao. Nghiên cứu của Gorry và Whitcomb đã phân tích mẫu
gene và xác định sự liên kết viêm tụy di truyền với nhiễm sắc thể 7q35 [10].
1.3.3. Bệnh viêm tụy nhiệt đới (suy dinh dưỡng)
Bệnh hay gặp ở người trẻ tuổi, gặp nhiều ở Ấn Độ, Indonesia. Đau bụng
xuất hiện từ thời thanh niên, dễ có biến chứng đái đường. Sự xuất hiện sỏi ở
cả trong ống tụy lẫn nhu mô. 86% BN nhóm này có sử dụng các tinh bột có
độc tính cao như sắn. Cư dân có thói quen ăn sắn có ở khắp các khu vực châu
Á, châu Phi nơi mà tồn tại bệnh viêm tụy nhiệt đới. Cơ chế mà nhiều người
công nhận nhất là ngộ độc xyanua gây VTM. Sắn có chứa xyanua glucosid
nhân như tổ chức xơ phát triển chèn ép các nhánh thần kinh và làm tổn thương
chúng. Người ta thấy có sự tổn thương trong VTM đó là sự gia tăng về kích
thước đường kính và sự phá vỡ bao ngoài của bó sợi thần kinh. Tăng áp lực các
ống tụy thứ phát sau tắc do sỏi, do u; Đau do chít hẹp đoạn dưới của ống mật
chủ. Đau bụng làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của BN, nếu cơn đau kéo dài hoặc
dữ dội làm mất khả năng lao động. Chẩn đoán dễ dàng hơn đối với những BN
nghiện rượu có những đợt viêm tụy. Với những BN không đau bụng thường
chẩn đoán giai đoạn muộn với những biến chứng kèm theo.
1.4.2. Gầy sút
Chiếm tỷ lệ khá cao 89,7% [9], bệnh nhân nhập viện chủ yếu là gầy sút.
Gầy sút có liên quan đến các đợt đau, BN nhịn không ăn vì sợ đau, do tình
14
trạng rối loạn tiêu hóa, do hậu quả của đái đường. Chính vì vậy BN có sút cân
chỉ cần điều trị triệu chứng chính đỡ thì trọng lượng có thể phục hồi. Tuy
nhiên về sau đa số bệnh nhân VTM gầy, suy kiệt.
1.4.3. Rối loạn tiêu hóa
Ăn kém, ỉa chảy kéo dài hoặc ỉa phân mỡ, phân sống gây nên hội chứng
kém hấp thu. Ở BN sỏi tụy, rối loạn tiêu hoá thường gặp sau 10 năm khởi phát
bệnh, men tụy thiếu hụt, chức năng tiêu hoá mỡ sẽ giảm nhanh hơn chức năng
tiêu hoá protid nên ỉa phân mỡ xẩy ra nhanh hơn ỉa phân sống [11].
1.4.4. Tắc các cơ quan lân cận
- Tắc mật: Phần thấp ống mật chủ chạy qua đầu tụy có thể bị tổn thương
trong VTM, nếu áp lực đường mật càng tăng cao thì bệnh nhân càng đau. Hầu
hết vàng da thường đi đôi với đợt đau, cũng có thể vàng da chỉ thoáng qua. Tỷ
lệ BN nhân có biến chứng này khoảng 10%. Một số vàng da là triệu chứng
của xơ gan rượu. Vàng da tắc mật trong VTM là triệu chứng chỉ điểm can
thiệp ngoại khoa, một số tác giả đặt stent vào ống mật chủ qua nội soi sẽ giải
thấy có khoảng 5% ung thư tụy xuất hiện trên một VTM kéo dài và 4% VTM
có thể bị ung thư sau 20 năm [19]. Trịnh Hồng Sơn theo dõi 16 ca mổ sỏi tụy
trong vòng 2 năm phát hiện 2 ca ung thư tụy [20].
1.4.8. Đái tháo đường
Khoảng gần 50% sỏi tụy có biểu hiện đái đường, trong khi đó ở VTM nói
chung tỷ lệ này là 15%. Đái đường có thể là triệu chứng giúp phát hiện bệnh
hoặc là biến chứng xẩy ra trên BN sỏi tụy. Biến chứng mạch máu của đái
đường do sỏi tụy ít gặp nhưng biến chứng thần kinh hay gặp hơn, có thể do
tác động thêm của tình trạng nghiện rượu. Đặc biệt những BN đái đường do
16
sỏi tụy hay có cơn hạ đường máu, có thể do thiếu đồng thời cả glucagon và
insulin đồng thời thiếu năng lượng trong khẩu phần ăn.
1.5. ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG.
1.5.1. Các xét nghiệm chức năng tụy
- Các xét nghiệm men tụy: Bệnh nhân sỏi tụy amylase có thể tăng nhẹ
(bình thường 60 - 220U/L), nhưng không tăng cao như trong viêm tụy cấp.
Lipase bình thường 4 - 12U/L, tăng trong viêm tụy mạn, kéo dài hơn amylase
trong máu và tính đặc hiệu trong viêm tụy cao hơn amylase. Các men phân
giải protein đặc hiệu hơn lipase nhưng là những XN đắt tiền.
- Xét nghiệm phân: Bằng cách phân tích mỡ trong phân. Có thể phát
hiện sớm một số trường hợp viêm tụy kém hấp thu. Bình thường < 7% lượng
chất béo được ăn vào thải ra theo phân. Khi có biểu hiện kém hấp thu lượng
mỡ thải ra trong phân sẽ cao hơn nhiều. Tuy nhiên đây chỉ là XN xác định
kém hấp thu mà thôi.
- Test trực tiếp: Có giá trị nhất trong đánh giá chức năng tụy ngoại tiết.
Có thể phát hiện sớm viêm tụy mạn. Tiến hành bằng cánh tiêm tĩnh mạch
secretin và cerutein, định lượng dịch tá tràng và bicarbonate, protease,
18
Kích thước tụy thay đổi, thường trong giai đoạn sớm tụy to toàn bộ. Giai
đoạn sau có thể gặp các thể: Nhu mô teo nhỏ toàn bộ tuyến; Phì đại khu trú
một phần nhu mô; Kích thước tụy không đổi.
Cấu trúc tụy mất tính đồng nhất do mô bị viêm xơ và vôi hóa trong các
ống tuyến. Một tỷ lệ lớn trong VTM có hình ảnh khối viêm khu trú giảm hồi
âm kèm theo dải, đám tăng hồi âm khó phân biệt với ung thư tụy.
Ống Wirsung thăm khám được trong 90% trường hợp. Bình thường
Wirsung có đường kính < 3mm, trong bệnh lý sỏi tụy giãn lớn hơn 3mm.
Sỏi tụy trên siêu âm là những nốt tăng hồi âm kèm bóng cản. Ngoài ra
còn phát hiện kích thước, hình dáng, vị trí, nang giả tụy. Giãn đường mật
trong và ngoài gan. Cản trở lưu thông tá tràng do sự phì đại đầu tụy chèn ép
vào. Huyết khối TM lách, TM mạc treo tràng trên, TM cửa. Siêu âm có độ
nhạy 60-70%, độ đặc hiệu 80-90%. Tuy nhiên siêu âm hạn chế với những BN
béo, có nhiều hơi trong lòng ruột [22].
- Siêu âm nội soi: Là phương pháp chẩn đoán hình ảnh xâm nhập tối
thiểu. Bằng phương tiện nội soi có gắn thêm đầu dò siêu âm có tần số cao,
đưa qua thực quản vào dạ dày giải quyết được những khó khăn mà siêu âm
qua da mắc phải. Kỹ thuật này mới được Di Magno và cộng sự áp dụng từ
đầu thập kỷ 80, nhưng phương pháp này tỏ ra có nhiều triển vọng. Hình ảnh
siêu âm rõ nét giúp đánh giá chính xác hình ảnh nhu mô tụy, ống Wirsung…
Là phương pháp thăm dò hiện đại có giá thành cao nên chưa phổ biến ở Việt
Nam.
- Chụp cắt lớp vi tính: Cũng là một kỹ thuật thăm dò không xâm nhập,
ngày nay được áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán bệnh nhiều tạng trong đó có
tụy. Có thể phát hiện những thay đổi nhỏ trong cấu trúc tụy, sỏi tụy nhỏ mà
siêu âm, XQ bụng không chuẩn bị không thấy được. Phương pháp này có độ
nhạy và độ đặc hiệu cao hơn trong chụp bụng không chuẩn bị. Độ nhạy 74-
Giai đoạn tiến triển ống tụy giãn, có khi thành từng xoang nhỏ trong ống tụy,
có những hình khuyết hình lỗ hổng biểu thị sự hiện diện những viên sỏi. Với
nang giả tụy cho phép xác định nang thông với ống tụy chính hay không để có
thái độ điều trị thích hợp. Tuy nhiên có hạn chế là không phát hiện được
những tổn thương ở nhu mô [11] và có tỷ lệ biến chứng nhất định như viêm
tụy cấp, nhiễm trùng đường mật, thủng tá tràng...
1.6. ĐIỀU TRỊ
1.6.1. Điều trị nội khoa
- Nhằm 2 mục đích: Giảm đau và thay thế men tụy. Thực ra là điều trị
triệu chứng, thực hiện sớm, chặt chẽ có khả năng hạn chế tiến triển bệnh và
cải thiện chất lượng sống cho BN [23].
Kiêng rượu hoàn toàn. Đa số tác giả cho rằng nếu BN bỏ hẳn rượu thì
kết quả tốt hơn kể cả BN có hay không được điều trị phẫu thuật. Theo
Trapnell và cộng sự có 75% BN sỏi tụy giảm khi ngừng uống rượu.
Chế độ khẩu phần ăn giảm mỡ. Chế độ ăn nhiều lipid sẽ làm tăng tần suất
các cơn đau, và tăng bệnh tiến triển nặng. Chế độ ăn giảm lipid còn khoảng 80100g/ngày. Với lượng mỡ này đảm bảo được sự ngon miệng và cung cấp đủ
năng lượng cho BN. Hạn chế protid, vì bữa ăn giàu protid có thể gây nên đợt
cấp của VTM. Lượng protid hàng ngày khoảng 80-110g. Dùng men tụy trong
trường hợp kém hấp thu, giúp cho tình trạng tiêu hóa được cải thiện [24].
Điều trị giảm đau: Dùng các thuốc giảm đau đơn thuần như paracetamol,
asperin đối với BN có mức độ đau nhẹ hoặc trung bình. Khi đau nhiều dùng
các thuốc giảm đau gây nghiện (nhóm thuốc giảm đau có chứa opiad). Tuy
nhiên các thuốc này có độc tính cao, cần theo dõi tác dụng phụ của nó.
- Điều trị đái tháo đường: Điều trị giống như BN đái đường khác. Tùy
mức độ đái đường mà có chế độ điều trị khác nhau, viên thuốc hạ đường
21
huyết chỉ có tác dụng ở một số trường hợp đái tháo đường nhẹ, còn lại đa
1.6.2. Điều trị ngoại khoa
Điều trị ngoại khoa trong sỏi tụy có khuynh hướng ngày càng được quan
tâm. Với nhiều kỹ thuật khác nhau bao gồm phẫu thuật dẫn lưu giảm áp,
những kỹ thuật cắt nhu mô tụy. Theo Carter và Trede điều trị ngoại khoa với 3
mục đích chính:
-
Giảm đau: Có hai giả thuyết cắt nghĩa đau: Do áp lực trong ống
tụy, trong nhu mô tụy tăng; Sự giải phóng các yếu tố dẫn truyền thần kinh
trong các khối viêm thường khu trú vùng đầu tụy [26]. Các kết quả nghiên
cứu cho thấy dẫn lưu và cắt bỏ nhu mô tụy bị bệnh đều có hiệu quả giảm đau
[27].
- Nghi ngờ carcinoma: Lúc này phẫu thuật vừa có giá trị chẩn đoán vừa
có tác dụng điều trị.
- Giải quyết biến chứng: Bao gồm các biến chứng cụ thể như:
o Tắc mật.
o Hẹp, tắc tá tràng
o U nang giả tụy.
o Rò tụy
o Chèn ép tĩnh mạch cửa [11], [13], [16].
1.6.2.1. Cắt thân-đuôi tụy, nối tụy-ruột, có hoặc không có cắt lách.
- Được Duval tiến hành năm 1954, bao gồm cắt đuôi tụy, có hoặc không
có cắt lách, nối tụy ruột tận - tận. Kỹ thuật này làm giảm áp lực ống tụy, nó có
kết quả hoàn hảo nhất nếu chỉ tổn thương khu trú ở đuôi tụy. Trong thực tế ít
khi có khả năng này. Kỹ thuật này nhanh làm hẹp miệng nối nên bệnh nhanh
tái phát. Hiệu quả giảm đau không tốt. Ngày nay ít sử dụng [29].
ống tụy phụ và các ống nhánh vùng mỏm móc không được dẫn lưu, hơn nữa
có một số nang nhỏ hay ống tụy phụ khác nằm sâu trong tụy không được dẫn
lưu. Phẫu thuật Frey bao gồm cắt bỏ một phần nhu mô mặt trước vùng đầu
tụy, giữ lại tối thiểu 5 mm tổ chức tụy ở phía sau và giữa. Nối tụy ruột bênbên với miệng nối rộng rãi. Yêu cầu ống tụy giãn tối thiểu 8 mm, áp dụng cho
VTM, sỏi tụy và các biến chứng của nó như nang giả tụy, rò tụy, đau tái phát
sau nối tụy hỗng tràng bên-bên [13], [30], [31]. Phẫu thuật Frey bảo tồn toàn
vẹn tá tràng và OMC, đơn giản và an toàn hơn cắt khối tá tụy.
Ở Việt Nam đã được áp dụng tại BV Bạch Mai năm 1974 và có 3 cải
tiến: Không cắt bớt phần đầu tụy, dọc ống tụy, vậy sẽ giảm khả năng suy tụy
trên cơ địa viêm tụy mãn, miệng nối dài đến đuôi tụy. Đầu ruột được dẫn lưu
ra ngoài nhằm mục đích giảm áp miệng nối tránh dò tụy sau mổ. Kèm dẫn lưu
25
túi mật vì có một số trường hợp sau phẫu thuật túi mật căng to do phản xạ co
thắt cơ Oddi.
Ở BV Việt Đức đã áp dụng kỹ thuật Frey từ năm 2002 kết quả giảm đau
tốt, an toàn cao.
Kết quả giảm đau tốt, tỷ lệ tử vong khoảng 1% thấp hơn so với phẫu
thuật Beger hay cắt khối tá tụy [31], [36].
Hình 1.12. Phẫu thuật Frey
Nguồn: Azbicki (1995),Annal of surgery,221, No4, 350-358
1.6.2.4. Cắt khối tá tụy (DPC).
Được Whipple công bố năm 1935. Mới đầu áp dụng để điều trị các tổn
thương ác tính vùng đầu tụy như ung thư bóng Vater, đầu tụy, tá tràng. Gồm
cắt đầu tụy tá tràng, phục hồi lưu thông bằng cách nối tụy-hỗng tràng hoặc với
dạ dày. Nối dạ dày - hỗng tràng, nối ống mật chủ - hỗng tràng. Áp dụng cho
những tổn thương khu trú ở đầu tụy. Đây là phẫu thuật giảm đau rất tốt, đặc biệt