Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trên bệnh nhân có rò động mạch vành kích thước nhỏ - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Dị dạng động mạch vành là loại bệnh lý hiếm gặp, chiếm khoảng
0,25- 0,4% bệnh tim bẩm sinh ,,, trong đó rò động mạch vành chiếm khoảng 1350 % trong số các bệnh nhân có dị dạng động mạch vành ,. Rò ĐMV là sự nối
thông bất thường giữa một trong những ĐMV với một buồng tim hoặc mạch
máu. Tỷ lệ bệnh phát hiện ngày càng gia tăng sau khi ra đời hệ thống máy chụp
động mạch vành qua da. Các nghiên cứu dịch tễ trên các bệnh nhân chụp động
mạch qua da cho thấy có hơn một nửa số rò ĐMV là đổ vào tim phải như rò vào
động mạch phổi, thất phải, nhĩ phải. Ngoài ra có một số vị trí đổ vào của lỗ rò ít
gặp hơn như vào nhĩ trái, thất trái .
Sinh lý bệnh của rò động mạch vành là hiện tượng “ăn cắp máu” do
có sự nối thông bẩm sinh bất thường giữa các động mạch vành với các
buồng tim, tĩnh mạch chủ trên, xoang vành, động mạch phổi…
Bệnh tiến triển nhanh khi lưu lượng rò lớn gây lên quá tải phổi, nhĩ trái,
thất trái, thất phải. Lâu dài có thể gây ứ huyết phổi, suy tim, tăng áp lực động
mạch phổi, thiếu máu cơ tim, viêm nội tâm mạc, đột tử do vỡ đường rò ,. Tuy
nhiên vị trí đổ vào của lỗ rò lại có sinh lý bệnh khác nhau. Nếu đổ vào động
mạch phổi thì cơ chế bệnh sinh giống như bệnh còn ống động mạch, đổ vào
thất phải thì giống bệnh thông liên thất, đổ vào hệ tĩnh mạch hay nhĩ phải lại
giống như thông liên nhĩ... Ngoài ra, ảnh hưởng của rò động mạch vành lên
huyết động còn phụ thuộc đường kính lỗ rò đổ vào, số lượng rò như type I có
01 đường rò, type II có 2 đường rò trở lên ,.
Các nghiên cứu dịch tễ trên thế giới cho thấy cứ 1000 trẻ ra đời thì có
08 trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh. Tại Việt Nam với dân số trên 90 triệu người
thì tỷ lệ mắc bệnh tim bẩm sinh hiện cũng được ước tính theo tỷ lệ chung


2

của thế giới do hiện chưa có các nghiên cứu rộng rãi, trong đó có bệnh rò

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về rò động mạch vành
1.1.1. Tình hình mắc bệnh rò ĐMV trên thế giới và ở Việt Nam
Josef Hyrth báo cáo ca rò động mạch vành (ĐMV) lần đầu tiên năm
1851 . Các nghiên cứu của các tác giả khác chủ yếu dựa trên mổ tử thi, phẫu
thuật tim trước khi có kỷ nguyên của các biện pháp chẩn đoán hình ảnh khác
như siêu âm tim, chụp cắt lớp vi tính, chụp động mạch vành qua da. Một số
nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc rò ĐMV thay đổi tùy thuộc di truyền, yếu tố sắc
tộc và các vùng miền khác nhau. Gillebert (1986) nghiên cứu trên 14.708 BN
nhưng chỉ có 20BN có rò ĐMV . Một nghiên cứu khác trên 126 ngàn BN ở
Mỹ(Yamanaka 1990) thì tỷ lệ rò ĐMV là 0,18% . Yigit (2010) nghiên cứu
trên12.450BN thì tỷ lệ rò ĐMV chỉ là 0,09% . Một số nghiên cứu gần đây như
của Said (2006) và Chiu (2008) cho tỷ lệ tăng cao hơn lần lượt là 0,16% và
0,44% ,. Kết quả nghiên cứu có tỷ lệ khác nhau có thể do lựa chọn đối tượng,
địa lý, giới tính có khác nhau giữa các nghiên cứu
Ảnh hưởng của giới lên tỷ lệ mắc rò ĐMV vẫn còn tranh cãi. Chiu và
cộng sự (2008) nghiên cứu trên các BN Trung Quốc cho kết quả là không có
mối liên quan giữa giới tính và bệnh rò ĐMV , nhưng kết quả của Ata và cộng
sự lại cho thấy nam giới mắc rò ĐMV cao hơn nữ giới gấp 2,3 lần .
Ở Việt Nam, Đinh Thu Hương (2008) cũng đã báo cáo kết quả giá trị siêu
âm tim trong chẩn đoán bệnh rò ĐMV . Tác giả Lê Anh Minh (2013) nghiên cứu
trên các BN rò ĐMV được bít thì tỷ lệ nam cao gấp 2,2 lần nữ nhưng số lượng
BN ít (32BN) .


4

1.1.2. Đặc điểm giải phẫu chức năng ĐMV
1.1.2.1. Giải phẫu ĐMV

thì ĐMLTS và nhánh quặt ngược thất trái đến từ ĐM mũ.

Hình 1.2: Giải phẫu ĐMV phải
 Cách gọi tên theo Nghiên cứu phẫu thuật ĐMV(CASS: Coronary
Artery Surgery Study) ,.
* Thân chung ĐMV trái: từ lỗ ĐMV trái tới chỗ chia thành ĐMLTTr và ĐM mũ.


6

* Động mạch liên thất trước chia làm 3 đoạn:
+ Đoạn gần: từ chỗ chia cho tới nhánh vách đầu tiên
+ Đoạn giữa: từ nhánh vách đầu tiên cho tới nhánh chéo hai.
+ Đoạn xa: từ sau nhánh chéo thứ hai
* Động mạch mũ chia làm 2 đoạn:
+ Đoạn gần: từ chỗ chia cho tới nhánh bờ 1.
+ Đoạn xa: từ sau nhánh bờ 1.
* ĐMV phải chia làm 3 đoạn:
+ Đoạn gần: 1/2 đầu tiên giữa lỗ ĐMV phải và nhánh bờ phải
+ Đoạn giữa: giữa đoạn gần và đoạn xa
+ Đoạn xa: từ nhánh bờ phải cho tới ĐMLTS.
Ngoài ra còn một số cách gọi tên khác chúng tôi không sử dụng trong
nghiên cứu này.
1.1.2.2. Sinh lý tưới máu của tuần hoàn vành ,,.
Tuần hoàn vành diễn ra trên một khối cơ rỗng co bóp nhịp nhàng nên
tưới máu của tuần hoàn vành cũng thay đổi nhịp nhàng. Tưới máu cho tâm
thất trái chỉ thực hiện được trong thì tâm trương, còn tâm thất phải được tưới
máu đều hơn, tuy vậy trong thì tâm thu cũng bị hạn chế ,.
Có rất ít hệ thống nối thông giữa các ĐMV, vì vậy nếu một ĐMV nào bị
tắc thì sự tưới máu cho vùng cơ tim đó sẽ bị ngừng trệ, và nếu tắc nghẽn kéo dài

Bất thường về giải phẫu ĐMV
• Hẹp hoặc không có lỗ ĐMV bẩm sinh.
• Lỗ ĐMV lõm xuống.
• Giãn hoặc phình ĐMV.
• Không có ĐMV.
• Thiểu sản ĐMV.
• Cầu cơ ĐMV.
• ĐMV đi dưới nội tâm mạc.
• ĐMV xuất phát từ mặt trước ĐMC xuống.
• Bất thường phân nhánh ĐMV trái hoặc phải.
• Lạc chỗ nhánh vách đầu tiên của ĐMV.
Bất thường về nhánh tận ĐMV


8

• Nhánh tận hoặc mao mạch phân nhánh không tương xứng.
• Rò ĐMV
Bất thường các mạch nối.

Rò ĐMV chiếm 13-50% những bất thường ĐMV bẩm sinh . Vị trí xuất
phát lỗ rò từ ĐMV phải chiếm khoảng 40-60%, từ ĐM liên thất trước (3060%) tùy các nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên các nghiên cứu báo cáo tỷ lệ
lỗ rò đổ vào tim phải chiếm đa số là trên 90%, trong đó vào thất phải 41%, nhĩ
phải 26%, xoang vành 7%, ĐM phổi 17% và TM chủ dưới 1% .
Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy cũng cho thấy rò ĐMV phải
thường gặp nhất(50% trường hợp), rồi đến ĐMV trái (40 %), rò cả hai ĐMV
(5%). Vị trí đổ vào chủ yếu là buồng tim phải(90%): Tâm thất phải (40%),
tâm nhĩ phải (25%), thân ĐMP(15%), xoang vành(7%), tĩnh mạch chủ
trên(3%). Hơn một nửa các trường hợp rò cả hai ĐMV đổ vào ĐMP, đôi khi
dưới dạng một đám rối các mạch máu. Có 10 % rò ĐMV đổ vào buồng tim


34

Nhĩ phải

35

26

7

18

ĐM phổi

16

17

66

38

Xoang vành

-

7

-


-

Phân loại hình thái rò ĐMV được mô tả kỹ lưỡng và rõ ràng trong
nghiên cứu của của Chiu và cộng sự năm 2008 khi nghiên cứu trên 28 ngàn


9

BN được chụp ĐMV qua da. Theo tác tác giả thì rò ĐMV được chia làm 2
type dựa trên sự khác nhau về hình thái học và giải phẫu bệnh học .
Type I: Có 1 đường rò xuất phát từ ĐMV tới 1 buồng tim hoặc mạch máu lớn.
o Kích thước nơi đổ vào của ĐMV rò ≥ 1.5mm: Rò lớn
o Kích thước nơi đổ vào của ĐMV rò < 1.5 mm: Rò nhỏ
Type II: Có nhiều đường rò ĐMV cùng xuất hiện trên bệnh nhân.
Tại Việt Nam, tác giả Đinh Thị Thu Hương (2008) nghiên cứu rò ĐMV trên
siêu âm tim thì cho rằng rò ĐMV được coi là lớn khi ĐK nơi đổ vào ≥ 4mm .

Hình 1.3: Hình ảnh 1 đường rò (A), và nhiều đường rò (B)
Kose và cộng sự năm 2005 cho rằng đường rò có 1 lỗ đổ chiếm tỉ lệ cao
hơn so với nhiều lỗ đổ . Các nghiên cứu khác cho thấy nếu theo phân loại của
Chiu (2008) thì type 1 chiếm đa số .
1.1.2.4. Sinh lý bệnh rò ĐMV
Phôi thai của rò ĐMV:
Bình thường ĐM sẽ xuất phát từ hệ thống nội mạc của ĐM chủ và kết
nối với hệ thống mạo mạch bề mặt của tim. Các xoang trong cơ tim thu hẹp
và tồn tại chỉ như mao mạch ở người trưởng thành. Rò ĐMV là do bất thường
trong phát triển thời kỳ bào thai của hệ tuần hoàn và được cho là còn sự tồn
tại của ống nối gấp khúc ở ống tim nguyên thủy cấp máu cho cơ tim trong giai
đoạn đầu của bào thai. Rò động mạch vành xảy ra khi không có mặt bất cứ sự

ĐK lỗ rò mà hiện tượng này có gây hậu quả nhiều hay ít lên vùng cơ tim được
tưới máu bởi các nhánh ĐMV cấp máu cơ tim sau lỗ xuất phát rò ĐMV.
Những trường hợp rò nhỏ thường không gây rối loạn huyết động, thường
được phát hiện tình cờ trên siêu âm tim, MSCT hoặc chụp ĐMV qua da vì
nhiều lý do khác nhau.
Tuy nhiên các lỗ rò lớn hơn có thể gây nên thiếu máu cơ tim cục bộ do
áp lực tưới máu tâm trương trong mạch vành sẽ giảm dần . Để tăng cấp máu
cho vùng cơ tim bị giảm tưới máu ĐMV tiếp tục giãn rộng các động mạch
nuôi. Tổn thương lâu dài ĐMV dẫn đến đường rò giãn rộng, loét nội mạc,
thoái hóa lớp áo giữa ĐMV, rách nội mạc, lắng đọng xơ vữa, vôi hóa, tắc
nghẽn các nhánh bên, và có thể gây vỡ khối phình .
Nếu rò ĐMV mà đổ vào tiểu tuần hoàn như thất phải, nhĩ phải, ĐMP
gây tăng tải thể tích tiểủ tuần hoàn. Nếu đổ vào ĐMP cơ chế bệnh sinh giống
bệnh còn ống động mạch, nếu đổ vào thất phải thì giống bệnh cảnh thông liên
thất, còn nếu đổ nhĩ phải thì giống thông liên nhĩ. Nếu lưu lượng shunt trái –
phải lớn gây ảnh hưởng lâu dài là tăng áp lực ĐMP, giãn thất phải, giãn nhĩ
phải, suy tim ứ huyết
Các lỗ rò ĐMV đổ vào tim bên trái như nhĩ trái hoặc thất trái sẽ gây
tăng cung lượng của các buồng tim này, nhưng không làm tăng lưu lượng máu
phổi. Vị trí đổ vào nhĩ trái gây ảnh hưởng huyết động như hở van hai lá trong
khi đổ vào thất trái lại ảnh hưởng như hở van động mạch chủ.
Các lỗ rò mà không được can thiệp sẽ tiến triển đến giai đoạn muộn,
suy tim phải xuất hiện do tình trạng TAĐMP kéo dài trước khi có suy tim toàn
bộ.


12

Trên lâm sàng, nếu BN nhỏ tuổi xuất hiện triệu chứng suy tim ứ huyết,
suy hô hấp sớm ngay sau sinh chủ yếu là do có lỗ rò lớn, ảnh hưởng huyết động

tc ca CễM, nhng cú th bt k v trớ no, khụng cú c im c trng,
thng nghi ng rũ MV khi nghe thy ting thi khụng cú biu hin gỡ c bit
trờn lõm sng. V trớ nghe rừ nht ting thi ph thuc vo v trớ vo tim ca
l rũ. Nếu động mạch vành đổ vào nhĩ phải hay xoang vành,
tiếng thổi rõ nhất ở giữa thì tâm thu. Nếu đổ vào nhĩ trái
thì ngợc lại, thành phần tâm trơng rõ nhất. Khi động mạch
vành đổ vào tâm thất phải, cả hai thành phần tâm thu và
tâm trơng đều nghe rõ với cờng độ nh nhau
Ting thi thng nghe ờm du, t 2/6-4/6, Cờng độ tiếng thổi rõ
nhất hoặc ở vùng giữa tim, hoặc dọc theo bờ xơng ức, nhng rất
hiếm khi ở vị trí ổ van động mạch phổi hay ở dới đòn trái. Đôi
khi có kèm theo rung miu, ,
Cn chn oỏn phõn bit vi cỏc bnh tim bm sinh khỏc nh cũn ng
ng mch, thụng liờn tht, ca s ph ch
- Nu ó cú tng ALMP thỡ cú th nghe thy vựng di ũn trỏi
ting thi khỏc: ting thi ụi, ting thi tõm thu, ting thi tõm trng, hoc
khụng nghe thy ting thi no.
- Ting T2 ỏy tim mnh hoc tỏch ụi (du hiu TAMP).
- ụi khi, cú th nghe thy thi tõm thu van MC (do tng lu lng).
- Mch ngoi biờn ny mnh.
1.2.1.3. Cỏc d tt tim bm sinh khỏc phi hp
Rũ MV a s l n thun, tuy nhiờn cng cú th phi hp mt s bnh
tim bm sinh khỏc nh: Thụng liờn tht, thong liờn nh, Fallot 4, thiu sn van
MP, hp van MC.


14

1.2.2. Cận lâm sàng
1.2.2.1. Điện tâm đồ

động mạch. Lớp trung mạc của ĐMV phì đại, với sự tăng sinh số lượng sợi
đàn hồi giữa những sợi cơ, và dày phần nội mạc gần chỗ đổ vào của lỗ rò.
Nhìn chung, có một lỗ đổ vào, nhưng đôi khi có tới 2 hay 3 vị trí đổ vào. Cá
biệt có thể tạo thành mạng lưới mạch máu với 1 hoặc nhiều chỗ đổ vào.
Khi rò ĐMV vào nhĩ phải, thất phải, ĐMP, xoang vành, tĩnh mạch hệ
thống, siêu âm Doppler ghi được luồng thông trái - phải (từ đại tuần hoàn đến
tiểu tuần hoàn). Còn khi rò ĐMV đổ vào nhĩ trái, thất trái, sẽ có shunt từ
ĐMV - mạch hệ thống. Đường rò có thể gây ra những rối loạn về tưới máu cơ
tim, từ đó dẫn đến thiếu máu cơ tim, suy tim, nhồi máu cơ tim. Viêm nội tâm
mạc nhiễm khuẩn, xơ vữa mạch vành, huyết khối thuyên tắc hay vỡ giãn
phình mạch vành gây đột tử cũng có thể xảy ra.
Siêu âm 2D cùng với Doppler màu (color Doppler flow mapping) tỏ ra
hữu ích để xác định rò ĐMV. Vị trí, đường đi, lỗ đổ vào của rò ĐMV được
nghiên cứu trên mặt cắt trục dọc, trục ngắn, 4 buồng, 2 buồng từ mỏm và các
mặt cắt dưới bờ sườn. Giãn ĐMV đoạn gần, hoặc giãn một nhánh ĐMV trong
khi ĐMV khác có kích thước bình thường, đặc biệt phối hợp với tiếng thổi
liên tục trên lâm sàng, rất gợi ý chẩn đoán rò ĐMV. Đường đi và vị trí đổ vào
của rò ĐMV cần được xác định. Có thể quan sát thấy giãn buồng tim hoặc
mạch máu nơi ĐMV rò vào. Phổ Doppler màu cho thấy dòng rối liên tục
trong ĐMV bị rò hay trong mạch máu nơi ĐMV rò vào, hoặc dòng jet trong
buồng tim có rò ĐMV. Phổ Doppler liên tục với sự tăng tốc cuối tâm thu và
đầu tâm trương. Trong trường hợp rò ĐMV vào ĐMP, sự có mặt của 2 ĐMV
cùng xuất phát từ ĐMC cho phép phân biệt dị tật ĐMV xuất phát lạc chỗ từ
ĐMP. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng phân biệt được và đòi hỏi phải chụp
động mạch chủ kèm theo chụp chọn lọc ĐMV. Có thể quan sát thấy dòng tâm
trương phụt ngược ở ĐMC xuống nếu như luồng shunt rộng.


16



Doppler màu:
- Tìm dòng chảy ở vị trí siêu âm 2D nghi ngờ rò ĐMV là dòng màu khảm
trong lòng ĐMV (tuỳ thuộc vào lưu lượng shunt và chênh áp qua rò ĐMV).
Doppler xung:
- Thấy dòng chảy rối của rò ĐMV ở vị trí siêu âm 2D nghi ngờ là rò
ĐMV: nếu còn dòng chảy liên tục tâm thu-tâm trương qua rò ĐMV thì cho hình
ảnh phổ Doppler là phổ dương liên tục. Hạn chế là không đo được tốc độ dòng
máu cao mà phải nhờ đến phương pháp khác do mắc phải hiện tượng aliasing
Doppler liên tục:
- Doppler liên tục giúp khẳng định có shunt, xác định hướng của shunt,
đo được chênh áp tối đa qua đường rò.
- Trong giai đoạn đầu của bệnh có hình ảnh phổ dương, liên tục qua rò ĐMV.
- Khi ALĐMP tăng nhiều thì có thể thấy shunt 2 chiều qua rò ĐMV
- Tính được ALĐMP nhờ Doppler liên tục bằng các công thức tính toán
+ Xác định độ chênh áp giữa ĐMC và tim phải qua rò ĐMV để ước
tính ALĐMP tâm thu (mmHg).
ALĐMPtt

=HAtt – Gradient qua rò ĐMV
= HAtt - 4V2

Gradient qua rò ĐMV: chênh áp qua rò ĐMV (mmHg).
HAtt: huyết áp tâm thu đo ở tay.
V: vận tốc tối đa của dòng chảy qua rò ĐMV (m/sec).
Trong trường hợp ALĐMP tăng nhiều thì độ chênh áp thấp.
+ Ước tính áp lực tâm thu ĐMP qua phổ HoBL theo công thức:
ALĐMPtt = 4 (Vmax)2 + 10 (mmHg).
Vmax : vận tốc tối đa đo được trên phổ Doppler của HoBL (m/sec).
10 : áp lực tâm thu nhĩ phải (mmHg).


19

ngày càng được ứng dụng nhiều trong chẩn đoán và điều trị nhiều bệnh lý tim
mạch, đặc biệt trong bệnh lý của ĐMV.
Các bước tiến hành:
* Thông tim phải, đo áp lực động mạch phổi:
Đường vào thường là tĩnh mạch đùi phải, đưa ống thông (thường dùng
catheter Multipurpose) lên nhĩ phải qua van ba lá xuống thất phải, rồi lên
ĐMP. Trên đường đi ta lần lượt đo áp lực tại ĐMP, thất phải, nhĩ phải và lấy
máu đo độ bão hòa oxy trong các buồng tim phải và các mạch máu lớn bên
tim phải. Đo áp lực ở động mạch phổi cho phép xác định chắc chắn có
TALĐMP hay không. Đo áp lực mao mạch phổi bít từ đó gián tiếp xác định
áp lực trung bình của buồng nhĩ trái và cho biết tăng ALĐMP trước hay sau
mao mạch. Ở các trường hợp tăng ALĐMP sau mao mạch chênh áp giữa áp
lực động mạch phổi trung bình và áp lực mao mạch phổi bít trung bình không
vượt quá 10mmHg. Khi vượt quá 10mmHg thì có chẩn đoán tăng ALĐMP
trước mao mạch. Đây là một tiêu chuẩn rất quan trọng trong quyết định chỉ
định điều trị, vì nếu có chẩn đoán tăng ALĐMP trước mao mạch hoặc
TALĐMP cố định sẽ là chống chỉ định của phẫu thuật ghép tim hay các can
thiệp ngoại khoa khác ở các bệnh nhân tim bẩm sinh (thông liên nhĩ, Thông
liên thất hay còn ống động mạch…) với ròng shunt đã đổi chiều. Mặt khác ở
bệnh nhân có tăng ALĐMP nặng, nghi ngờ tăng ALĐMP cố định, có thể dùng
test oxy hay một số thuốc giãn mạch chứa Nitơ Oxyt (NO) hoặc có thể bít rò
ĐMV tạm thời bằng bóng có lỗ bên để đánh giá khả năng giảm ALĐMP. Nếu
ALĐMP giảm rõ chứng tỏ chưa có tăng ALĐMP cố định và có thể áp dụng
các biện pháp điều trị triệt để, ngược lại nếu ALĐMP không giảm hoặc giảm
không có ý nghĩa, chống chỉ định can thiệp ,.
- Thăm dò huyết động xác định dòng shunt và đo các dòng chảy ở động
mạch phổi và đại tuần hoàn: đo độ bão hòa oxy ở ĐMP nếu cao hơn ở tĩnh mạch


Hình 1.5: Hình ảnh rò ĐMV phải vào ĐMP
1.2.2.5. Chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ tim
Chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt MSCT hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) tim
ứng dụng trong chẩn đoán bệnh ĐMV cũng có giá trị trong chẩn đoán rò ĐMV
nếu có kèm theo. Các nghiên cứu cho thấy mặc dù chưa phải là tiêu chuẩn vàng
xong nó lại là biện pháp không xâm nhập, có độ nhậy và độ đặc hiệu cao trong
chẩn đoán bệnh ĐMV nói chung và rò ĐMV nói riêng. Ngoài ra nó còn giúp
đánh giá giải phẫu tim và các cơ quan lân cận ,,,.

Hình 1.6: Hình ảnh rò động mạch mũ vào xoang vành


22

1.2.3. Các biến chứng của rò động mạch vành
- Thiếu máu cơ tim do hiện tượng “ăn cắp máu”
- Suy tim ứ huyết,suy tim trái sau đó là suy tim toàn bộ: cũng là một
nguyên nhân thường gặp gây tử vong.
- Huyết khối, tắc mạch
- Rung nhĩ, RL nhịp…
- Viêm nội tâm mạc.
- TAĐMP.
- Tăng gánh các buồng tim trái.
- Một số biến chứng khác: giãn phình, vỡ đường rò.
1.2.4. Điều trị rò động mạch vành
Điều trị rò ĐMV phụ thuộc vào ĐK lỗ đổ vầo, các triệu chứng lâm sàng
hiện tại, giải phẫu của đường rò, tuổi bệnh nhân và các dị tật tim phối hợp
khác . Lỗ rò nhỏ có thể tự bít nhưng rất hiếm, chủ yếu trẻ < 2 tuổi có lỗ rò nhỏ
vào thất phải . Nếu ĐK lỗ đổ vào có ĐK nhỏ, không có triệu chứng thì chỉ cần


Hình 1.9: Dụng cụ Amplatzer pug
Điều trị nội khoa nên là lựa chọn trong những trường hợp rò ĐMV với
triệu chứng lâm sàng nhẹ. Nếu có đau thắt ngực do rò ĐMV thì điều trị như
trong các bệnh cảnh khác. Thuốc chẹn beta giao cảm và chẹn kênh calci được
lựa chọnnếu trường hợp đau ngực liên quan đến bệnh. Nitroglycerin gây giãn
đường rò và giảm áp lực cuối tâm trương của buồng nhận, dẫn tới làm tăng
dòng chảy trong ĐMV rò, làm tăng hiện tượng “ăn cắp máu”, do đó cần thận
trọng trước khi cho.
1.3. Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về bệnh rò
động mạch vành
Mặc dù ca rò động mạch vành (ĐMV) lần đầu tiên được báo cáo năm
1851 trên thế giới nhưng tỷ lệ bệnh vẫn còn thấp. Các nghiên cứu sau này chủ
yếu dựa trên các kỹ thuật chẩn đoán hiện đại hơn như siêu âm doppler tim,
MSCT động mạch vành, MRI tim và nhiều nhất là chụp động mạch vành qua
da. Các nghiên cứu cho các kết quả khác nhau phục thuộc mẫu BN và địa
lý…Ảnh hưởng của giới lên tỷ lệ mắc rò ĐMV vẫn còn tranh cãi. Chiu và
cộng sự (2008) nghiên cứu trên các BN Trung Quốc cho kết quả là không có
mối liên quan giữa giới tính và bệnh rò ĐMV nhưng kết quả của Ata và cộng
sự lại cho thấy nam giới mắc rò ĐMV cao hơn nữ giới gấp 2,3 lần .


25

Ở Việt Nam, Đinh Thu Hương (2008) báo cáo giá trị của siêu âm
Doppler tim trong chẩn đoán rò ĐMV được bít trên 17 BN bao gồm : ĐMV bị
rò, vị trí rò vào buồng tim/động mạch, hậu quả huyết động. Kết quả được so
sánh với chụp ĐMV qua da. Kết quả cho thấy:
- Tuổi trung bình là 16 ± 25,5 năm
- Siêu âm chẩn đoán có rò ĐMV thì khi được chụp ĐMV qua da có độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status