1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Các chất dạng amphetamin (ATS) là nhóm ma túy kích thần, gây hưng
phấn, giúp cải thiện sự tập trung, giảm thèm ăn, giảm nhu cầu ngủ, và là chất
có thể gây ra ảo giác, hoang tưởng và các triệu chứng loạn thần khác ở người
sử dụng. Có nhiều đường sử dụng ATS như sử dụng qua đường hít, hút, uống
hoặc tiêm, ngoài ra có thể được sử dụng qua đường hậu môn, âm đạo [1].
Việc sử dụng ATS thường xuyên, kéo dài gây ra tình trạng lệ thuộc và
những hậu quả nặng nề về cơ thể, tâm thần cho người sử dụng. Đặc biệt là các
rối loạn tâm thần và hành vi (như lạm dụng chất, hội chứng nghiện, trạng thái
cai, rối loạn loạn thần, rối loạn cảm xúc), làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến
sức khỏe người sử dụng, ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội [2].
Một trong các rối loạn tâm thần do sử dụng ATS hay gặp là rối loạn
trầm cảm. Đây là rối loạn thường được phát hiện muộn và thường bị che lấp
bởi các rối loạn tâm thần khác. Nghiên cứu của Hando và Hall (1997) tại New
South Wales thấy có lo âu 63%, trầm cảm 64%, ý tưởng tự sát 19% ở người
sử dụng ATS [3]. Zweben (2004) tại Mỹ, mức độ cao của triệu chứng tâm
thần đặc biệt là trầm cảm (34% nữ và 24% nam) và tự tử (28% nữ và 13%
nam) [4]. Nghiên cứu của McKetin và cộng sự (2011) tại Úc thấy những
người sử dụng methamphetamin vào viện có 44% là trầm cảm do chất [5].
Trầm cảm ở những người sử dụng ATS không những ảnh hưởng đến
sức khỏe mà nó cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng nguy cơ tái
sử dụng chất của người nghiện. Trong trường hợp trầm cảm nặng do sử dụng
ATS, người bệnh có thể có hành vi tự sát gây hại cho bản thân, gia đình và
cộng đồng. Do đó việc nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và phương pháp điều trị
rối loạn trầm cảm do sử dụng ATS có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác
chẩn đoán, điều trị cũng như nâng cao sức khỏe người bệnh. Ở Việt Nam chưa
2
gần đây (2013) là 1,5% trong số các học sinh lớp 12. Sự phổ biến của MDMA
đã tăng lên trong thập kỷ qua và tỷ lệ hiện tại (2013) của MDMA tại Hoa Kỳ
khoảng 5% học sinh lớp 10 và 8% học sinh lớp 12, mặc dù nhận thức về tác
hại của chất này đã tăng lên trong thập kỷ vừa qua tới gần 50% học sinh lớp
12 sử dụng [6].
Trong năm 1994 – 1995, ở Thụy Sĩ số người nghiện amphetamin là
8%; ở Đức là 2,8%; ở Tiệp Khắc là 1,6%; Australia 25% nam, 12% nữ tuổi từ
20 – 24 đã thử dùng amphetamin [2].
Trong khoảng thời gian từ đầu đến giữa những năm 90 của thế kỷ trước,
4
xu hướng sử dụng ma túy ở Việt Nam bắt đầu tăng lên và quy mô bắt đầu thay
đổi. Trước giai đoạn này, tỷ lệ sử dụng ma túy còn thấp và chủ yếu là hút thuốc
phiện, cần sa và lạm dụng một số loại dược phẩm trong nước. Năm 1994, thuốc
phiện là loại ma túy được sử dụng nhiều nhất chiếm 86%, nhưng đến năm 2000,
80% là người dùng heroin. Thay đổi trong quy mô cũng diễn ra trong giai đoạn
này, trong đó tuổi trung bình của người sử dụng giảm xuống và nữ giới sử dụng
ma túy tăng lên nhanh chóng chuyển từ hút sang tiêm chích [7].
Theo xu hướng trong khu vực, methamphetamin dạng viên là dạng được
sử dụng phổ biến nhất ở Việt Nam từ năm 2003 đến 2006. Methamphetamin
dạng tinh thể (đá) xuất hiện trên thị trường nội địa vào năm 2007. ATS tăng cả về
sự sẵn có và mức độsử dụng, trở thành loại ma túy trái phép được sử dụng nhiều
thứ ba sau heroin và thuốc phiện [7].
1.1.2. Một số khái niệm
1.1.2.1 Chất tác động tâm thần
Các chất tác động lên tâm thần đã được sử dụng ở một số cộng đồng và
một số nhóm tôn giáo. Đối với nhiều người sử dụng amphetamin là sở thích
hay được xem như là truyền thống văn hóa.
túy, bỏ bê việc chăm sóc con cái ...
+ Thường sử dụng chất ma túy nhiều trong những tình huống có thể
gây nguy hiểm cho bản thân như sử dụng chất ma túy trong các hoạt động lái
xe, điều khiển máy ....
+ Thường có những vấn đề liên quan đến luật pháp, đến việc sử dụng
chất ma túy như bị bắt do hành vi bị rối loạn sau khi sử dụng chất ma túy.
+ Sử dụng chất ma túy thường xuyên nhiều lần gây ra hậu quả xấu
trong quan hệ với mọi người xung quanh như: vợ chồng cãi nhau, đánh nhau,
suy sụp kinh tế.
1.1.2.4. Trạng thái dung nạp
Do phản ứng thích nghi của cơ thể, tác dụng của chất ma túy sẽ giảm
6
bớt nếu dùng lặp lại. Muốn đạt được tác dụng của những lần trước phải tăng
liều và cứ thế, cơ thể dần dần dung nạp được một liều chất ma túy rất cao.
Liều này nếu dùng cho một người không nghiện thì không thể dung nạp được
và có thể gây tử vong [1].
1.1.2.5. Trạng thái lệ thuộc về cơ thể và tâm thần
- Trạng thái lệ thuộc về cơ thể: là sự đòi hỏi của cơ thể liên quan tới
việc đưa vào đều đặn một chất hóa học ngoại sinh cần thiết để duy trì sự cân
bằng của cơ thể. Sự phụ thuộc này được biểu hiện bằng hội chứng cai hay hội
chứng thiếu thuốc khi ngừng sử dụng hoặc giảm liều đáng kể.
- Trạng thái lệ thuộc về tâm thần: được đặc trưng bởi một xung động sử
dụng chất ma túy theo các chu kỳ hoặc liên tục với mục đích tìm kiếm khoái
cảm hoặc làm giảm căng thẳng.
1.1.3. Khái niệm và phân loại về amphetamin và ATS
Amphetamin là chất tổng hợp, được coi là chất giống giao cảm, chất
gây kích thích, chất hưng thần. Các chế phẩm của amphetamin chính hiện có
1.1.4. Dược động học
ATS thường được sử dụng qua đường hít, hút, uống hoặc tiêm (có tác
dụng tức thì), ngoài ra có thể được sử dụng qua đường đặt hậu môn, âm đạo.
ATS tan trong mỡ, hấp thu nhanh qua ống tiêu hóa vào máu rồi phân bố
khắp cơ thể, qua hàng rào máu não và có tác dụng một giờ sau khi uống. Chất
được tích lũy trong mô mỡ, tập trung nhiều ở não, qua màng rau thai dễ dàng.
ATS được chuyển hóa chủ yếu ở gan, nhưng phần lớn thuốc được dùng
qua đường uống thì được đào thải nguyên chất qua nước tiểu, bằng phương
pháp miễn dịch huỳnh quang, xác định được ATS trong nước tiểu.
Thời gian bán hủy được rút ngắn đáng kể khi nước tiểu có tính axit
và phụ thuộc vào dạng thuốc, liều lượng, đường dùng và cách dùng. Thời
gian bán hủy của ATS là 8 - 10 giờ [13],[14].
1.1.5. Dược lực học
ATS gây ra cảm giác hưng phấn, giúp cải thiện sự tập trung, giảm thèm
8
ăn và giảm nhu cầu ngủ. Chất này có thể gây ra ảo tưởng, ảo giác, hoang
tưởng và các triệu chứng loạn thần khác rất khó phân biệt với các triệu chứng
dương tính của tâm thần phân liệt [2].
ATS giúp tự tin và dễ hòa đồng, giúp tăng cường khả năng tình dục,
những người sử dụng chất này cho biết có tăng tần xuất hoạt động tình dục và
thích quan hệ tình dục với nhiều bạn tình hơn những người sử dụng heroin.
Phần lớn những người sử dụng ATS điều trị cho biết nhu cầu ngày càng
tăng lên để đạt được hiệu quả điều trị như trước. Sự dung nạp ATS tăng có thể
gây nên các ảnh hưởng về tim mạch.
Thử nghiệm trên động vật cho thấy: sử dụng amphetamin hoặc các ATS
kéo dài cũng gây nhu cầu tăng liều để đạt được hiệu quả như giai đoạn đầu.
Giả thuyết cho sự tăng dung nạp của thuốc là do sự kích thích các thụ thể
có thể gây rối loạn định hướng và các lệch lạc, méo mó về tri giác, cảm giác
say đắm, thấy những ánh hào quang rực rỡ… Do vậy còn được gọi là các chất
gây ảo giác và các chất ma túy thực sự.
1.1.6.3. Các tác dụng phụ:
- Với các amphetamin cổ điển:
+ Về mặt cơ thể: tác dụng phụ nghiêm trọng nhất là các tác động trên
mạch não, tim mạch và đường ruột. Các tác động đặc biệt đe dọa tính mạng là
nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp kịch phát, chảy máu não và viêm ruột hoại tử do
thiếu máu. Các triệu chứng thần kinh bao gồm từ co quắp chân tay… đến co giật
toàn thân, hôn mê, tử vong (thường là do việc tăng liều amphetamin quá cao).
Tiêm chích amphetamin có thể liên quan đến lây truyền HIV và viêm
gan virus. Đây còn là cơ địa phát sinh ápxe phổi, viêm nội tâm mạc, viêm
mạch hoại tử… Các tác dụng khác bao gồm: đỏ mặt, tái nhợt, sốt, đau đầu,
10
tim đập nhanh, đánh trống ngực, buồn nôn, nôn, nghiến răng, thở nhanh, run,
thất điều. Phụ nữ có thai nghiện amphetamin có thể dẫn đến trẻ thiếu cân, đầu
thai nhi nhỏ, đẻ non, chậm phát triển.
+ Về mặt tâm thần: bồn chồn, bất an, loạn cảm, mất ngủ, tăng kích
thích, hằn học, thù địch, lú lẫn.
Với liều cao kéo dài: các triệu chứng của rối loạn lo âu lan toả, rối loạn
hoảng sợ, rối loạn giấc ngủ, giảm tình dục. Có thể xuất hiện hội chứng
paranoid với các ý tưởng liên hệ, hoang tưởng bị theo dõi, ảo giác (thị giác,
thính giác…) cũng thường xuất hiện trên lâm sàng.
- Với ATS:
Ngoài các tác dụng phụ giống hệt amphetamin, còn có các tác dụng phụ
khác như cứng hàm, nghiến răng, khô miệng, tăng sự cảnh tỉnh, thấy các đồ
vật có ánh hào quang rực rỡ, toát mồ hôi, mất ngủ, chóng mặt, tăng cảm giác
•
Tăng hay giảm nhịp tim
•
Kích động hay ức chế tâm thần vận động.
•
Giãn đồng tử.
•
Mệt mỏi, đau ngực, ức chế hô hấp.
•
Tăng hoặc giảm huyết áp.
•
Lú lẫn hay hôn mê.
•
Toát mồ hôi hay rét run.
•
Là tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện ma túy chung theo tiêu chuẩn chẩn
đoán của ICD-10 và DMS-IV. Song đối với ATS người nghiện không có sự lệ
thuộc nghiêm trọng về mặt cơ thể, cho nên có thể có những giai đoạn vài ngày
hay vài tuần gián đoạn không cần sử dụng.
Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng nghiện ATS theo ICD-10 [16],[15]:
1. Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy buộc phải sử dụng ATS.
2. Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng ATS (về thời gian,
13
mức độ, cách sử dụng).
3. Có hội chứng cai khi ngừng uống hay giảm sử dụng ATS.
4. Có bằng chứng về hiện tượng dung nạp chất ma túy đang sử dụng
5. Xao nhãng các thú vui, thích thú trước đây để dành thời gian tìm
kiếm hay sử dụng cũng như hồi phục sau tác động của ATS.
6. Tiếp tục sử dụng mặc dù có các bằng chứng rõ ràng về hậu quả tai
hại do sử dụng ATS.
Chẩn đoán nghiện khi có ít nhất 3 trong 6 tiêu chuẩn nghiện chất đã mô
tả trên xảy ra cùng nhau trong vòng ít nhất 1 tháng. Nếu 3 tiêu chuẩn đó tồn
tại ít hơn 1 tháng thì cần lặp đi lặp lại cùng nhau trong thời gian 12 tháng.
1.2.4. Hội chứng cai ATS
Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng cai theo ICD- 10 nghiên cứu [15]
A. Các tiêu chuẩn chung đối với trạng thái cai phải được đáp ứng:
•
Phải có bằng chứng rõ ràng về việc mới ngừng hoặc giảm sử dụng ATS, sau
•
•
•
•
•
Mệt mỏi
Có những giấc mơ đáng sợ.
Mất ngủ hay ngủ nhiều.
Tăng cảm giác ngon miệng.
Kích thích hoặc ức chế tâm thần vận động.
C. Các triệu chứng này thể hiện rõ rệt và gây rối loạn các hoạt động xã
hội, lao động.
D. Các triệu chứng này không phải do một bệnh lý cơ thể hay rối loạn
thần khác gây ra.
1.2.5. Rối loạn loạn thần
Nhiều ảo thị (sinh động, nhiều màu sắc, cấp diễn) và ảo thanh.
Ảo thanh gồm có loại ảo thanh như nghe tiếng chuông, tiếng còi, tiếng
máy nổ, tiếng súng... và ảo thanh điển hình: nghe tiếng nói, tiếng chuyện trò,
tiếng nói có thể to hay nhỏ hoặc bình thường. Nội dung của ảo thanh có thể là
chế nhạo, cảnh cáo, đe doạ, báo trước một điềm chẳng lành hay là phê bình,
chửi rủa.... Ảo thanh có thể xảy ra liên tục hoặc từng lúc. Ảo thanh ảnh hưởng
đến cảm xúc làm người bệnh lo lắng, buồn rầu, giận dữ, vui vẻ phấn khởi....
Tuỳ nội dung ảo thanh mà người bệnh có thể phản ứng bằng cách bịt tai,
khóc, cười, có hành vi chạy trốn, tự sát hay tấn công người khác [15].
Ảo thị cũng thường gặp và thường kết hợp với ảo thanh. Nội dung ảo
15
trước khi sử dụng ATS. Việc sử dụng chất này có thể làm trầm trọng hơn
những rối loại trầm cảm nguyên phát [2],[17].
Khởi đầu của rối loạn lo âu do ATS có thể xảy ra trong nhiễm độc hoặc
sau cai. Giống như cocain, có thể gây ra các triệu chứng giống như thấy trong
16
rối loạn ám ảnh nghi thức với các hành vi nhắc lại, rập khuôn. Tuy nhiên,
những triệu chứng này không kéo dài sau giai đoạn ngộ độc. ATS cũng có thể
gây ra các cơn hoảng sợ ở những cá nhân chưa có tiền sử hoảng sợ [18].
1.3. Đặc điểm rối loạn trầm cảm ở bênh nhân sử dụng ATS
1.3.1. Khái niệm trầm cảm
Trầm cảm là một trạng thái bệnh lý cảm xúc, biểu hiện quá trình ức chế
toàn bộ hoạt động tâm thần, được biểu hiện bằng hội chứng trầm cảm gồm có:
cảm xúc bị ức chế, tư duy bị ức chế và hoạt động bị ức chế [19],[20].
Cảm xúc bị ức chế: khí sắc hạ thấp, buồn rầu, ủ rũ, mất thích thú cũ,nhìn xung
quanh thấy ảm đạm, bi quan về tương lai. Bệnh nhân cảm thấy nỗi buồn nhiều
sắc thái. Nỗi buồn có thể kèm theo hiện tượng mất cảm giác tâm thần. Đôi khi
kèm theo các hiện tượng giải thể nhân cách, tri giác sai thực tại.
Tư duy bị ức chế: suy ngẫm chậm chạp, liên tưởng khó khăn. Tự cho mình
hèn kém, mất tin tưởng bản thân. Trường hợp nặng có hoang tưởng bị tội hay
tự buộc tội, dễ đưa đến ý tưởng và hành vi tự sát.
Hoạt động bị ức chế: bệnh nhân ít hoạt động, ít nói, ăn uống kém, thường nằm
hay ngồi lâu trong một tư thế, mặt mày đau khổ, trầm ngâm suy nghĩ. Trường
hợp nặng có thể có hiện tượng bất động. Bệnh nhân có thể có cơn xung động
trầm cảm (kích động, la hét, lăn lộn…).
Một số tác giả đề cập bệnh sinh của rối loạn trầm cảm có liên quan đến
các rối loạn hoạt động nội tiết. Rối loạn trầm cảm hay gặp ở phụ nữ, các giai
đoạn trầm cảm thường xuất hiện liên quan với thời kỳ dậy thì, có thai, sau đẻ,
chu kỳ kinh nguyệt.
Một số tác giả khác đề cập đến sự thay đổi nội tiết do rối loạn trục
“dưới đồi - tuyến yên - thượng thận”. Sự tăng hoạt động ở trục này được nhận
18
thấy ở bệnh nhân trầm cảm tăng cortisol trong máu.
Rối loạn hoạt động của trục “dưới đồi - tuyến yên - tuyến giáp” cũng được
nhận thấy ở bệnh nhân trầm cảm. Khoảng 4% bệnh nhân rối loạn cảm xúc giảm
đáp ứng với TSH, TRH, trong dịch não tủy thấy tăng TRH [19],[21].
Các yếu tố về tâm lý - văn hóa - xã hội
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rối loạn trầm cảm có liên quan đến sự kiện gây
stress. Những yếu tố gây stress chủ yếu là sự mất mát, những biến cố bất lợi
liên quan đến điều kiện sống và hành vi của cá nhân và gia đình như: sự chia
ly, mất việc, sự xúc phạm nặng nề, bệnh cơ thể mãn tính…
Những người có đặc điểm nhân cách nhất định như lo âu, tránh né, dễ
phụ thuộc, cảm xúc không ổn định, ám ảnh, hay suy diễn… có nguy cơ cao dễ
bị trầm cảm. Tuy nhiên, bất cứ kiểu nhân cách nào cũng có khả năng bị trầm
cảm trong hoàn cảnh khó thích ứng [21].
1.3.2.2. Cơ chế trầm cảm do sử dụng ATS
Cơ chế sinh học thần kinh của trầm cảm do sử dụng ATSđến nay chưa
hoàn toàn sáng tỏ. Nhưng các nghiên cứu gần đây có nói nhiều đến sự tương
tác giữa ATS với hệ Serotoninergic: chỉ ra rằng có tình trạng giảm tương đối
serotonin tại khe synap khi sử dụng ATS kéo dài hoặc khi giảm hay ngừng sử
dụng các chất này [17].
mức độ ngộ độc thần kinh ảnh hưởng đến mức độ tổn thương não bộ, ảnh
hưởng đến nồng độ, tốc độ dẫn truyền các chất dẫn truyền thần kinh
(dopamin, noradrenain, serotonin…). Từ đó có thể ảnh hưởng nhiều hay ít tới
mức độ trầm cảm.Hình ảnh giải phẫu thần kinh cho thấy trầm cảm dai dẳng
có thể liên quan đến ngộ độc thần kinh do methamphetamin [22].
- Liên quan đến sang chấn tâm lý: trong các giả thuyết bệnh nguyên,
bệnh sinh của trầm cảm thì thuyết về các yếu tố về tâm lý, văn hóa và xã hội
20
cũng được đề cập tới. Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ cao của sang chấn
tâm lý ở người sử dụng amphetamin có thể làm trầm trọng thêm lo âu và trầm
cảm [23]. Mặt khác, sang chấn tâm lý xảy ra ở những người sử dụng ATS là
một trong những lý do khiến bệnh nhân sử dụng ATS thường xuyên hơn và
tăng nguy cơ tái sử dụng ATS. Đây cũng là vấn đề cần phải lưu ý trong điều
trị rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân sử dụng ATS.
- Liên quan đến đường sử dụng, tần suất, thời gian và tiền sử sử dụng
chất: lượng ATS đưa vào cơ thể càng nhanh, càng nhiều và càng thường
xuyên thì mức độ ảnh hưởng của chất tới cơ thể càng nặng nề, đặc biệt ảnh
hưởng tới nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh, đến mức độ tổn thương não
bộ, và có thể sự hồi phục những tổn thương sẽ khó khăn và kéo dài hơn, hoặc
thậm chí khó có thể hồi phục. Theo nghiên cứu của Sekine (2001), nếu tiếp
tục sử dụng và tăng liều ATS sẽ làm trầm trọng thêm các triệu chứng trầm
cảm do sự suy giảm chất dẫn truyền thần kinh. Nhiều nghiên cứu đã chứng
minh serotonin bị suy giảm trầm trọng và kéo dài nhiều tháng sau khi ngừng
ATS, đặc biệt cấu trúc hệ viền và vùng não trước trán [24]. Theo Nguyễn Kim
Việt (2000), những bệnh nhân sử dụng liều cao kéo dài thì trầm cảm trong
trạng thái cai rất nặng nề, có thể có ý tưởng và hành vi tự sát [2].
1.3.4. Triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán trầm cảm
+ Không hoặc từ chối ăn uống
+ Sút cân (thường giảm lớn hơn hoặc bằng 5% trọng lượng cơ thể so
với tháng trước)
+ Mất dục năng rõ rệt, rối loạn kinh nguyệt ở nữ.
1.3.4.2.Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định giai đoạn trầm cảmtheo ICD-10
Giai đoạn trầm cảm nhẹ (F32.0)
+ Phải có 2 trong 3 triệu chứng đặc trưng của trầm cảm
+ Có 2 trong 7 triệu chứng phổ biến khác hay gặp của trầm cảm
+ Không có triệu chứng cơ thể (sinh học) của trầm cảm
+ Khó tiếp tục công việc và hoạt động xã hội nhưng không bị gián đoạn
hoàn toàn
+ Kéo dài ít nhất 2 tuần
Giai đoạn trầm cảm vừa (F32.1)
22
+ Phải có 2 trong 3 triệu chứng đặc trưng của trầm cảm
+ Có 3 trong 7 triệu chứng phổ biến khác hay gặp của trầm cảm
+ Gây nhiều trở ngại trong sinh hoạt gia đình, xã hội và nghề nghiệp
+ Có thể có các triệu chứng cơ thể (phải có 4 hoặc nhiều hơn các triệu
chứng cơ thể)
+ Kéo dài ít nhất 2 tuần
Giai đoạn trầm cảm nặng không có triệu chứng loạn thần (F32.2)
+ Có 3 trên 3 triệu chứng đặc trưng
+ Có 4 trong 7 các triệu chứng phổ biến
+ Kèm theo các triệu chứng cơ thể
+ Không có khả năng tiếp tục công việc xã hội và nghề nghiệp
nội sinh gây giảm năng lượng hoạt động gấp 13 lần, trầm cảm do chất gấp 7
lần so với người không trầm cảm [25].
Một số rối loạn tâm thần có thể xảy ra trong giai đoạn nhiễm độc hoặc
trong quá trình ngừng sử dụng ATS. Các chất kích thần như ATS tạo ra các tác
động được nhìn nhận như chống trầm cảm bao gồm cảm giác bay bổng, tăng
năng lượng, tăng độ tỉnh táo và độ tập trung. Tuy nhiên nó gây ra hội chứng
cai đặc trưng là trầm cảm,lo âu cấp,rối loạn hoảng sợ, ngoài ra có mất ngủ
vàrối loạn nhân cách. Vì thế, hậu quả có thể rất khó lường.Ở người nghiện
ATS dài ngày, liều cao thì trầm cảm thường nặng, có thể có ý tưởng và hành
vi tự sát. Các triệu chứng trầm cảm được chú ý ngay sau khi dùng
methamphetamin và trong những tuần đầu hoặc vài tháng sau khi cắt giảm
methamphetamine [27],[28].
Trầm cảm liên quan đến trạng thái cai triệu chứng điển hình là khí sắc
khó chịu, cáu gắt, ít hoạt động và giảm sự tập trung. Trầm cảm và lo âu
nghiêm trọng nhất sau 2 – 3 ngày cai chất, và cải thiện từ từ trong 7 – 10
ngày. Hầu hết các trường hợp trầm cảm được giải quyết sau 2 tuần cai chất,
24% trầm cảm ở mức độ vừa đến nặng sau 3 tuần của cai, và một số có thể
kéo dài sau vài tháng [29],[22].
24
1.3.5. Một số thang đánh giá trầm cảm ở bệnh nhân sử
dụng ATS
Bên cạnh đánh giá lâm sàng, hiện nay có rất nhiều thang đánh giá trầm
cảm được sử dụng để đánh giá trầm cảm trên bệnh nhân như:
- Nghiệm pháp Beck (Beck Depression Inventory)
- Thang đánh giá trầm cảm Hamilton (The Hamilton Rating Scale for
Depression)
- Bộ câu hỏi PHQ-9
- Cách tính điểm:
•
•
•
14-19 điểm: Trầm cảm nhẹ
20-29 điểm: Trầm cảm vừa
≥30 điểm: Trầm cảm nặng
Thang đánh giá trầm cảm Hamilton: Hamilton Rating Scale for Depression
(HAM-D hoặc HRSD)[30].
- Đây là thang đánh giá sớm nhất được phát triển trong việc đánh giá
trầm cảm và dùng để đánh giá mức độ trầm trọng của triệu chứng trầm cảm.
- Ban đầu, thang HAM-D bao gồm 21 mục, nhưng Hamilton đã nhận
thấy rằng bốn mục cuối (sự thay đổi trong ngày đêm, giải thể nhân cách/tri
giác sai thực tại, những triệu chứng paranoid và những triệu chứng ám ảnh
nghi thức) không nên được tính trong tổng số điểm bởi vì những triệu chứng
này không phổ biến và không phản ánh mức độ nặng của trầm cảm. Vì vậy
phiên bản 17 mục của HAM-D đã trở thành tiêu chuẩn cho việc đánh giá trên
lâm sàng trong những năm qua.
- Đây là thang đánh giá phổ biến nhất tuy nhiên nó có một vài hạn chế.
Đó là: không bao gồm tất cả những nhóm triệu chứng của trầm cảm điển hình,
cụ thể là những triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật, sự xuất hiện của những
mục đánh giá những cấu trúc khác nhau (ví dụ: sự cáu gắt và lo lắng, mất quan
tâm thích thú và cảm giác vô vọng) và đánh giá không đồng đều những nhóm
triệu chứng của trầm cảm (ví dụ: triệu chứng mất ngủ được đánh số điểm tối đa