BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN HOÀNG YẾN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RỐI LOẠN
SỰ THÍCH ỨNG Ở BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ
TẠI VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN
Chuyên ngành: Tâm thần
Mã số: 60. 72. 22
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ NỘI TRÚ
Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN VĂN TUẤN
HÀ NỘI – 2013
1
DANH MỤC VIẾT TẮT
ATK : An thần kinh
ATS : Amphetamine Type Stimulant
BN : Bệnh nhân
BT : Bình thản
CTC : Chống trầm cảm
DSM : Bảng phân loại và thống kê các rối loạn Tâm thần của Hội
Tâm thần Mỹ (Diagnostic and Stastistical manual of
Mental Disorders)
ICD : Bảng phân loại bệnh quốc tế (International Clasification of disease).
TTVĐ : Tâm thần vận động
YTHVTS : Ý tưởng hành vi tự sát
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn sự thích ứng là hội chứng cảm xúc và hành vi xuất hiện khi cá
thể đáp ứng lại với những sự kiện gây sang chấn trong cuộc sống.Trong cuộc
sống luôn thay đổi, mỗi cá nhân không tránh khỏi gặp những sang chấn,
loạn sự thích ứng, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối
loạn sự thích ứng ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm
thần” với mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng rối loạn sự thích ứng ở bệnh nhân điều trị
nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần.
2. Nhận xét điều trị rối loạn sự thích ứng ở nhóm đối tượng trên.
4
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ RỐI LOẠN SỰ THÍCH ỨNG
1.1.1. Khái niệm rối loạn sự thích sự thích ứng[4][8]
Rối loạn sự thích ứng là các trạng thái đau khổ chủ quan và rối loạn
cảm xúc, thường gây trở ngại cho hoạt động xã hội và hiệu xuất công việc,
xuất hiện trong thời kỳ thích ứng với sự thay đổi đáng kể trong đời sống, hậu
quả của một sự kiện đời sống gây stress, những hoàn cảnh khó chịu liên tục.
Theo ICD 10 các yếu tố gây stress trong rối loạn sự thích ứng là những
stress có thể đồng cảm được không phải loại bất thường và có tính thảm họa.
Các yếu tố gây stress có thể là một sang chấn như mất việc làm, ly hôn hoặc
nhiều sang chấn xảy ra đồng thời hoặc nối tiếp nhau như cái chết của người
thân xảy ra đồng thời với bệnh cơ thể và mất việc làm. Các yếu tố stress có
thể tác động lên cá nhân hoặc xảy ra trên cùng một nhóm người như các thảm
họa thiên nhiên hoặc khủng bố tôn giáo, sắc tộc.
Trong rối loạn sự thích ứng vai trò của nhân cách được nhấn mạnh hơn
các rối loạn khác trong mã chẩn đoán rối loạn liên quan đến stress. Nét nhân
cách của người bệnh được miêu tả là tính dễ bị tổn thương. Khi gặp các yếu tố
gây stress ở các cá nhân có cơ chế ứng phó không hoàn thiện sẽ phản ứng
bằng các rối loạn trong cảm xúc hành vi. Ở những cá nhân có cơ chế ứng phó
với stress hoàn thiện sẽ ít bị bệnh hơn và sẽ hồi phục nhanh sau sang chấn.
Các triệu chứng của rối loạn sự thích ứng bao gồm trầm cảm, lo âu,
trường học, sự chối bỏ của cha mẹ, cha mẹ ly hôn và lạm dụng chất [1].Theo
Casey và cs thấy rằng không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc rối loạn sự thích
ứng giữa các nhóm tuổi khác nhau [11].
7
1.1.3. Bệnh nguyên và bệnh sinh rối loạn sự thích ứng
1.1.3.1. Bệnh nguyên
Stress rất thường gặp trong cuộc sống. Cá thể nào cũng phải đối mặt với
những thử thách xuất phát từ điều kiện môi trường bên ngoài và từ những nhu
cầu cá nhân. Những thử thách này là những vấn đề của cuộc sống mà cá thể
phải giải quyết để tồn tại và phát triển.
Tác nhân gây stress là một sự kiện kích thích từ bên trong hoặc từ bên
ngoài đặt ra một yêu cầu khiến cơ thể phải có một đáp ứng thích nghi nào đó.
Cơ thể con người phản ứng trước các yếu tố gây stress bằng một loạt các phản
ứng đa dạng bao gồm các đáp ứng về sinh lý, hành vi, cảm xúc và nhận
thức…Như vậy, Stress bao gồm hai thành tố: tình huống gây stress và phản
ứng của cơ thể trước những tác nhân đó.
Trong điều kiện bình thường, tác nhân stress đặt chủ thể vào quá trình
dàn xếp thích ứng, tạo ra một cân bằng mới cho cơ thể sau khi chịu những tác
động của môi trường. Nói cách khác, phản ứng stress bình thường đã góp
phần làm cho cơ thể thích nghi về mặt tâm lý, sinh học và tập tính. Nếu đáp
ứng của chủ thể với các yếu tố stress không đầy đủ, không thích hợp và cơ thể
không tạo ra một cân bằng mới, thì những chức năng của cơ thể ít nhiều bị rối
loạn, những dấu hiệu bệnh lý cơ thể, tâm lý, tập tính sẽ xuất hiện tạo ra các rối
loạn liên quan stress cấp tính hoặc kéo dài.
Phương thức gây bệnh của stress rất đa dạng và phức tạp
(1)Stress gây bệnh có thể mạnh, cấp diễn hoặc không mạnh nhưng
trường diễn. Tính chất gây bệnh của stress phần lớn phụ thuộc vào ý nghĩa
thông tin đối với một cá thể nhất định.(2)Bệnh có thể xuất hiện do một sang
chấn duy nhất hoặc do nhiều sang chấn kết hợp. Sự xuất hiện của bệnh có thể
xảy ra ngay sau khi bị sang chấn hoặc sau một thời gian ngấm sang chấn.
người mẹ “tốt đầy đủ” ( good – enough mother) là người đáp ứng những nhu
cầu của con cái và dự phòng cho con khả năng khi lớn lên có thể khoan dung,
bỏ qua những thất bại trong cuộc đời. Từ giai đoạn sớm của sự phát triển, mỗi
một đứa trẻ đã thiết lập hệ thống các cơ chế bảo vệ của mình trước các yếu tố
sang chấn. Trong quá trình trải nghiệm cuộc sống ở một số trẻ có cơ chế bảo
vệ chín muồi hơn so với những trẻ khác. Nhũng trẻ mà các cơ chế bảo vệ
không hoàn thiện này khi lớn lên sẽ phản ứng bằng các phản ứng đáng kể
trong cảm xúc, hành vi… khi phải đối đầu với các sang chấn (mất người thân,
tiền bạc, gia đình tan vỡ…). Những người có cơ chế bảo vệ chín muồi sẽ ít bị
bệnh hơn và hồi phục trở lại nhanh hơn sau những tác động của sang chấn.
Các nghiên cứu cho thấy bản chất mối quan hệ của đứa trẻ lúc còn nhỏ với bố
mẹ có một ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập các cơ chế bảo vệ của
chúng. Một mối quan hệ với tình yêu thương săn sóc, giúp đỡ… có vai trò
giúp trẻ tăng khả năng chịu đựng và giảm tác động gây bệnh của sang chấn.
•Thuyết về thần kinh – nội tiết
Nhà nội tiết người Canada Hans Seley nghiên cứu các ảnh hưởng của
stress tác động lên cơ thể theo cơ chế thần kinh – nội tiết. Theo Seley, có
nhiều loại tác nhân gây stress có thể làm khởi phát cùng một phản ứng toàn
thân hoặc đáp ứng chung cơ thể. Đây là những phản ứng nhằm khôi phục lại
tình trạng cân bằng nội môi, khắc phục được các tình huống để đảm bảo duy
trì và thích nghi thỏa đáng của cơ thể trước những điều kiện sống luôn biến
đổi. Seley mô tả đáp ứng toàn thân với các tác nhân gây stress không đặc hiệu
như vậy là hội chứng thích ứng chung.
Hội chứng thích ứng chung bao gồm 3 giai đoạn :
- Giai đoạn báo động: trước tác động của stress mạnh, đột ngột cơ thể sẽ
phản ứng một cách tự phát, biểu hiện bằng các triệu chứng của hệ thần kinh
thực vật: tim đập nhanh, vã mồ hôi, run… Giai đoạn này có sự tăng tiết nhóm
catecholamin.
10
- Giai đoạn kháng cự: dưới tác động của các stress kéo dài thông qua hệ
con người đối với sự vật đó’. Cảm xúc và hành vi của mỗi con người trước sự
tác động của các kích thích từ môi trường dựa trên cơ sở nhận thức của họ
(bằng các ý tưởng ngôn ngữ hoặc hình ảnh có sẵn trong ý thức) và dựa vào
các giả định, các niềm tin đã được phát triển qua các trải nghiệm của chính họ
trước đó.
Theo lý thuyết nhận thức hành vi, các triệu chứng của bệnh tâm căn là
những tập tính đã bị tập nhiễm trong quá trình đáp ứng các kích thích của môi
trường trên sự khái quát hóa kích thích ban đầu.
1.1.4 Chẩn đoán rối loạn sự thích ứng
Tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD 10 (dành cho nghiên cứu)
A. Sự khởi phát các triệu chứng phải xảy ra trong vòng một tháng kể từ
khi tiếp xúc với sang chấn tâm lý xã hội có thể đồng cảm được, không phải là
loại bất thường hoặc có tính thảm họa.
B. Bệnh nhân biểu hiện các triệu chứng hoặc các loại rối loạn hành vi
gặp trong bất kỳ rối loạn cảm xúc nào (F30-F39) (ngoại trừ hoang tưởng, ảo
giác), hoặc trong bất cứ rối loạn nào trong mục từ F40-F48 (các rối loạn tâm
thần liên quan đến stress) và các rối loạn hành vi (F91) nhưng các tiêu chuẩn
đối với rối loạn riêng biệt thì không được đáp ứng đầy đủ. Các triệu chứng có
thể khác nhau cả về dạng và độ nặng.
Tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM IV
A. Các triệu chứng cảm xúc hoặc hành vi xuất hiện trong phạm vi ba
tháng sau tác động của một sang chấn tâm lý nhất định.
B. Các triệu chứng và hành vi đó có ý nghĩa lâm sàng rõ rệt
12
Sự đau khổ quá mức không tương xứng với stress.
Gây rối đáng kể trong các hoạt động xã hội, nghề nghiệp của người bệnh.
C. Các rối loạn này không đáp ứng các tiêu chuẩn các rối loạn tâm thần
đặc hiệu khác (trục I) hay không phải sự tăng đậm của các rối loạn nhân cách
đã có sẵn (trục II).
D. Các triệu chứng này không phải là phản ứng thông thường trước các
hoặc có tính thảm họa. Theo Fabrega và cs với những người bị rối loạn sự
thích ứng có thể do các yếu tố stress thông thường tác động đến người có tính
dễ tổn thương cao hoặc do các yếu tố stress mạnh tác động đên những người
có tính dễ tổn thương trung bình [7].
Những thay đổi đột ngột trong tình huống cuộc sống hàng ngày như
mất việc làm, thất bại, tan vỡ trong mối quan hệ, người thân đau ốm, thay
đổi môi trường…Mặc dù sự thay đổi trong cuộc sống luôn diễn ra, nhưng
sự đột ngột, xuất hiện quá nhiều hoặc kéo dài là nguồn gốc gây stress cho
nhiều người.
Các yếu tố gây stress có thể là khủng hoảng trong các mốc phát triển
như bắt đầu đến trường, rời khỏi nhà, kết hôn…hoặc những sang chấn ngẫu
nhiên như tai nạn ô tô, bị cướp bóc, bị hãm hiếp[14]…
Có thể là một sang chấn (như ly hôn, mất việc làm) hoặc nhiều sang
chấn xảy ra đồng thời hoặc kế tiếp nhau (ví dụ như cái chết của người thân
xảy ra đồng thời với bệnh cơ thể và mất việc làm…) bất hòa trong gia đình có
thể gây bệnh cho nhiều người trong gia đình đó hoặc ở người là nạn nhân của
bạo lực hay người có sẵn bệnh lý cơ thể[8].
Sự liên quan giữa cá nhân và các yếu tố sang chấn bao gồm các đặc
điểm cá nhân (tuổi, giới, tình trạng sức khỏe, bệnh lý cơ thể kèm theo), các
14
yếu tố liên quan như trình độ học vấn, đạo đức, chính trị, tôn giáo, sự gắn kết
trong gia đình, tình trạng kinh tế [6].
Theo ICD 10 nhấn mạnh vai trò của nhân cách trong rối loạn sự thích
ứng hơn các rối loạn khác của F43_ (phản ứng với stress trầm trọng và các rối
loạn sự thích ứng). Sự tác động của các stress từ cuộc sống như sự khó khăn
kéo dài, kết hợp với các phản ứng cá nhân, yếu tố tâm lý xã hội mang tính
‘tiêu cực’ như lòng tự trọng thấp, bi quan, trốn tránh, tự trách mình có vai trò
quan trọng trong sự phát triển trầm cảm. Ngược lại yếu tố nhận thức tích cực
làm giảm sự phát sinh bệnh [17][18]. Mỗi stress có ý gây bệnh khác nhau phụ
thuộc vào sự đánh giá chủ quan của mỗi cá thể, có thể cùng một loại sang
• Với các cảm xúc khác chiếm ưu thế
• Với rối loạn hành vi chiếm ưu thế
• Với rối loạn hỗn hợp cảm xúc và hành vi
• Với các triệu chứng ưu thế biệt định khác
1.2.2.1 Rối loạn sự thích ứng với phản ứng trầm cảm
Trong thực hành lâm sàng khó phân biệt rối loạn sự thích ứng với phản
ứng trầm cảm và trầm cảm nội sinh. Trầm cảm nội sinh có những biểu hiện
đặc trưng bởi các đặc điểm như có bằng chứng rõ ràng của vấn đề di truyền;
có các triệu chứng lâm sàng rõ ràng; đáp ứng với giả dược tối thiểu, đáp ứng
hiệu quả với các điều trị sinh học như thuốc chống trầm cảm và sốc điện.
Trong trầm cảm nội sinh sự rối loạn tâm lý vận động biểu hiện rõ ràng. Rối
loạn tâm lý vận động biểu hiện bằng hai cách. Phần lớn thể hiện sự chậm
chạp, có xu hướng bất động cơ thể, nét mặt và chậm trả lời câu hỏi, nói chậm
hơn hoặc im lặng. Biểu hiện của rối loạn tâm lý vận động là các triệu
chứng nhận thức, sự tập trung chú ý giảm rõ, người bệnh thường mất sự
16
chú ý, tư duy nghèo nàn, rời rạc trong lời nói. Trong trường hợp nặng có
thể có ‘mất trí giả’[20]
Rối loạn sự thích ứng với phản ứng trầm cảm không có yếu tố di
truyền, phát triển như là một đáp ứng với yếu tố stress. Trong triệu chứng
không có sự rối loạn tâm lý vận động. Thường các triệu chứng nhẹ và vừa,
không có triệu chứng loạn thần.
Theo ICD10, hội chứng trầm cảm bao gồm :
Ba triệu chứng chính :
- Khí sắc trầm đến một mức độ hoàn toàn không bình thường đối với hầu
như trong mọi ngày không chịu ảnh hưởng nhiều bởi hoàn cảnh.
- Mất những quan tâm hứng thú trong những hoạt động mà khi bình
thường vẫn làm người bệnh hứng thú.
- Giảm năng lượng và tăng mệt mỏi.
Bảy triệu chứng phổ biến
không vững, ngất xỉu hoặc choáng váng; (b) Cảm giác mọi đồ vật không thật
hoặc bản thân ở rất xa hoặc không thực sự ở đây; (c) Sợ mất kiềm chế, ‘hóa
điên’ hoặc ngất xỉu; (d) Sợ bị chết.
Các triệu chứng toàn thân: (a) Các cơn đỏ mặt hoặc ớn lạnh; (b) Tê
cóng hoặc cảm giác kim châm.
Các triệu chứng căng thẳng: (a) Căng cơ hoặc đau đớn; (b) Bồn chồn
không thể thư giãn; (c) Có cảm giác tù túng đang ở bên bờ vực hoặc căng
thẳng tâm thần; (d) Có cảm giác có khối trong họng, hoặc khó nuốt.
18
Các triệu chứng không đặc hiệu khác: (a) Đáp ứng quá mức với một
sự ngạc nhiên nhỏ hoặc bị giật mình; (b) Khó tập trung hoặc “đầu óc trở nên
trống rỗng” vì lo lắng hoặc lo âu; (c) Cáu kỉnh dai dẳng; (d) Khó ngủ vì lo lắng.
1.2.2.3 Rối loạn sự thích ứng với rối loạn cảm xúc khác chiếm ưu thế
(F43.23)
Theo ICD 10 các triệu chứng thường thuộc vài loại rối loạn cảm xúc,
như lo âu, trầm cảm, lo lắng, căng thẳng, và giận giữ. Các triệu chứng lo âu
và trầm cảm có thể đáp ứng các tiêu chuẩn của rối loạn lo âu và trầm cảm hỗn
hợp F41.2 hoặc của các rối loạn lo âu hỗn hợp khác (F41.3), nhưng chúng ít
chiêm ưu thế đến nỗi có thể chẩn đoán thành các rối loạn lo âu hoặc trầm cảm
khác đặc hiệu hơn. Mục này cũng nên được dùng đối với các phản ứng ở trẻ
có hành vi thoái triển như đái dầm hoặc mút ngón tay.
1.2.2.4 Rối loạn sự thích ứng với rối loạn hành vi chiếm ưu thế (F43.24)
Rối loạn chính là rối hành vi. Theo ICD 10 các triệu chứng của rối loạn
hành vi bao gồm:
- Thường xuyên có cơn cáu giận trầm trọng.
- Thường hay cãi người lớn.
- Thường chủ động từ chối các yêu cầu của người lớn hoặc không tuân
theo các luật lệ.
- Cố tình rõ rệt làm những việc gây khó chịu cho người khác.
- Thường đổ lỗi cho người khác.
thành) xảy ra ngắn hơn và nhanh hơn trong rối loạn sự thích ứng so với các
chẩn đoán bệnh tâm thần khác. Vì vậy cần chú trọng đến tự sát trên các
20
bệnh nhân rối loạn sự thích ứng. Nguy cơ tự sát cao ở những bệnh nhân
rối loạn sự thích ứng dai dẳng, đã có toan tự sát trước đó, ở phụ nữ những
nguy cơ này tăng theo tuổi [22].
Lứa tuổi từ 15-19 tuổi có nguy cơ tự sát cao nhất. Theo nghiên cứu
được tiến hành trên 109 trẻ vị thành niên có toan tự sát ở Đài Loan có 10%
được chẩn đoán rối loạn sự thích ứng, 46% có áp lực từ trường học, có 25%
có mâu thuẫn giữa bố mẹ và con cái [23].
1.2.3.2. Lạm dụng chất
Rối loạn sự thích ứng làm tăng yếu tố nguy cơ lạm dụng chất. Trên
thực tế lâm sàng sự lạm dụng rượu và các chất ma túy làm làm che lấp chẩn
đoán rối loạn sự thích ứng. Theo một nghiên cứu nhận thấy có 59% chẩn đoán
rối loạn sự dụng chất đổi thành rối loạn sự thích ứng [24].
1.3. ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN SỰ THÍCH ỨNG
Rối loạn sự thích ứng tồn tại trong thời gian ngắn, thường nhỏ hơn 6
tháng (trừ rối loạn sự thích ứng với phản ứng trầm cảm kéo dài). Mặc dù
không có biện pháp điều trị đặc hiệu nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra ý
nghĩa của việc điều trị rối loạn sự thích ứng: làm giảm thời gian và độ
nặng của các triệu chứng, rút ngắn thời gian điều trị, tăng chất lượng cuộc
sống của người bệnh [6][11].
1.3.1 Liệu pháp tâm lý
Trong điều trị rối loạn sự thích ứng sử dụng liệu pháp tâm lý là lựa
chọn đầu tiên. Các liệu pháp tâm lý ngắn hạn có hiệu quả trong điều trị rối
loạn sự thích ứng [6][25][26].
1.3.1.1. Liệu pháp tâm lý động và liệu pháp nâng đỡ
Theo Maina và cộng sự nhận thấy rằng liệu pháp tâm lý động cùng với
liệu pháp nâng đỡ có hiệu quả trong điều trị các giai đoạn trầm cảm vừa[25].
21
Nhà triết học người Pháp Montaign nói: “ loài người đau khổ do hoàn
cảnh thì ít, mà do ý niệm của mình về hoàn cảnh thì nhiều”.Đứng trước một
yếu tố gây stress, các phản ứng về cảm xúc phụ thuộc sâu sắc vào cách nhận
thức của chủ thể về yếu tố gây stress đó. Nhận thức bao gồm nhận thức cảm
tính và nhận thức lý tính. Khi nhận thức sai lệch thuộc nhận thức cảm tính thì
dễ thay đổi hơn là thuộc về nhận thức lý tính[27].
Trong điều trị rối loạn sự thích ứng, liệu pháp nhận thức hành vi có
hiệu quả trong giảm các triệu chứng và tăng khả năng đối phó stress về sau.
Liệu pháp nhận thức hành vi gồm ba giai đoạn. Giai đoạn một: cung
cấp thông tin về nguồn gốc và nguyên nhân của các triệu chứng. Giai đoạn
này khuyến khích người bệnh thực hiện những công việc hành ngày tự do.
Giai đoạn thứ hai: người bệnh được yêu cầu đưa ra bảng thống kê các sự kiện
gây stress và chiến lược giải quyết các rắc rối do các sự kiện stress gây ra.
Giai đoạn ba: người bệnh đưa chiến lược giải quyết các rắc rối của mình vào
thực hiện, các hoạt động của người bệnh được mở rộng và khắt khe hơn [25].
1.3.1.3. Các liệu pháp tâm lý khác
Liệu pháp tâm lý nhóm: đặc biệt hữu ích cho những bệnh nhân đã
trải qua những stress tương tự nhau (ví dụ như nhóm người về hưu…). Mục
đích của liệu pháp nhóm không chỉ làm giảm nhẹ các triệu chứng mà còn
nhằm thiết lập cách ứng xử và nhằm thay đổi nhận thức cũng như cách thức
giải quyết các khó khăn trong cuộc sống. Liệu pháp nhóm trong điều trị rối
loạn sự thích vừa hướng tới thay đổi triệu chứng vừa hướng tới thay đổi nhân
cách và cách ứng xử [1][8][27].
Liệu pháp thư giãn luyện tập: có hiệu quả trong điều trị triệu chứng
lo âu trong rối loạn sự thích ứng và tăng khả năng đối phó với stress của
người bệnh.
23
1.3.2. Liệu pháp hóa dược
Điều trị rối loạn sự thích ứng bằng hóa dược có hiệu quả nhưng thường
được sử dụng trong thời gian ngắn. De Leo đã nghiên cứu tác dụng của liệu pháp
Nhiều nghiên cứu được tiến hành để phân biệt rối loạn sự thích ứng với các
phản ứng tâm lý bình thường hoặc với các rối loạn thuộc trục I, như nghiên
cứu của Desplan J.N, Monod L năm 1995. Ông nhận thấy tỷ lệ rối loạn sự
thích ứng với phản ứng trầm cảm và hỗn hợp lo âu trầm cảm cao nhất 57%, tỷ
lệ rối loạn sự thích ứng với phản ứng lo âu là 19%.
Trên lâm sàng, khó phân biệt các triệu chứng của rối loạn sự thích ứng
với trầm cảm điển hình hoặc với các triệu chứng của rối loạn cảm xúc khác .
Jones R, Yates WR năm 1999 đã nghiên cứu về hậu quả của rối loạn sự thích
ứng so sánh với rối loạn trầm cảm điển hình.Và có nhiều nghiên cứu khác đã
tìm kiếm các đặc điểm triệu chứng và trắc nghiệm đặc trưng cho chẩn đoán
rối loạn sự thích ứng nhưng cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đạt kết
quả mong muốn.
Rối loạn sự thích ứng gặp ở nhiều lứa tuổi trong đó lứa tuổi gặp nhiều
yếu tố stress phát triển là tuổi vị thành niên, có nhiều nghiên cứu về tỷ lệ rối
loạn sự thích ứng ở lứa tuổi này. Các nghiên cứu về sự phối hợp của tự sát,
nghiện chất và rối loạn sự thích ứng cho thấy tỷ lệ này khá cao. Trên những
bệnh nhân mắc bệnh mạn tính, bệnh nan y có nhiều nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ rối
loạn sự thích ứng rất cao, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc
sống của người bệnh.
Về điều trị rối loạn sự thích ứng, các nghiên cứu nhận thấy vai trò của
liệu pháp tâm lý trong đó những liệu pháp tác động ngắn hạn có hiệu quả
trong điều trị rối loạn sự thích ứng. Liệu pháp hóa dược với đơn trị liệu trầm
cảm và các thuốc khác như benzodiazepine được sử dụng ngắn ngày, nhất là
25