BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRẦN THỊ HƯƠNG
Mô tả đặc điểm của các hình thái loạn thần do sử dụng rượu trên bệnh
nhân điều trị nội trú tại Viện Sức Khỏe Tâm Thần từ năm 2012 đến năm 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
KHÓA 2009 – 2015
Người hướng dẫn:Ths.Bs.Lê Thị Thu Hà
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành khóa luận , tôi xin bày tỏ
lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:
Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Đại Học và bộ môn Tâm Thần Trường
Đai học Y Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi học tập và nghiên cứu.
Tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ths. Bs. Lê Thị Thu Hà,
giảng viên Bộ môn Tâm Thần Trường Đại Học Y Hà Nội – người thầy đã
trực tiếp hướng dẫn , chỉ bảo hết sức tận tình trong suốt quá trình tôi thực hiện
khóa luận
Tôi xin cám ơn toàn thể cán bộ Phòng Lưu Trữ Hồ Sơ – Bệnh viện
Bạch Mai đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện quá trình hoàn thành khóa luận.
(International Classification of Disiases)
- LTDR
: Loạn thần do rượu
- RLNLĐH : Rối loạn năng lực định hướng
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN........................................................................... 3
1.1. Đại cương về rượu................................................................................. 3
1.1.1. Khái niệm về rượu........................................................................... 3
1.1.2. Tác dụng của rượu........................................................................... 3
1.1.3. Dược động học ................................................................................ 4
1.1.4. Đơn vị uống chuẩn ......................................................................... 5
1.2. Các rối loạn tâm thần do rượu................................................................ 6
1.2.1. Lạm dụng rượu ................................................................................ 6
1.2.2. Say rượu thông thường và say rượu bệnh lí .................................... 8
1.2.3. Nghiện rượu .................................................................................. 10
1.2.4. Trang thái cai................................................................................. 12
1.2.5. Loạn thần do rượu ......................................................................... 15
1.3. Các nghiên cứu trong nước và trên thế giới về loạn thần do sử dụng rượu . 19
1.3.1. Trên thế giới .................................................................................. 19
1.3.2. Tại Việt Nam ................................................................................. 20
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......... 22
2.1. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................ 22
2.2. Đối tượng nghiên cứu .......................................................................... 22
2.3. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 23
CHƯƠNG 3: 26KẾT QUẢ ........................................................................... 26
4.2. Cơ cấu các hình thái loạn thần do rượu .............................................. 42
4.3. Đặc điểm của các hình thái loạn thần do rượu ..................................... 43
4.3.1. Đặc điểm lí do vào viện của các bệnh nhân .................................. 43
4.3.2. Đặc điểm lâm sàng của các bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng
cai với mê sảng ................................................................................. 44
4.3.3. Đặc điểm lâm sàng của các bệnh nhân được chẩn đoán là loạn thần
do rượu với hoang tưởng chiếm ưu thế............................................. 46
4.3.4. Đặc điểm hình thái của loạn thần do rượu với ảo giác chiếm ưu thế .. 47
4.3.5. Rối loạn cảm xúc trên bệnh nhân LTDR ...................................... 48
4.3.6. Rối loạn hành vi trên bệnh nhân LTDR ........................................ 48
4.3.7. Các bệnh lí cơ thể .......................................................................... 49
4.3.8. Kết quả cận lâm sàng của các bệnh nhân loạn thần do sử dụng rượu . 50
4.3.9. Thời gian điều trị của các bệnh nhân ............................................ 50
KẾT LUẬN .................................................................................................... 52
KIẾN NGHỊ ................................................................................................... 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tuổi của nhóm bệnh nhân nghiên cứu ........................................... 26
Bảng 3.2: Thời gian sử dụng rượu của nhóm bệnh nhân nghiên cứu ............. 28
Bảng 3.3: Lượng rượu uống hàng ngày .......................................................... 28
Bảng 3.4: Tiền sử rối loạn tâm thần do rượu của nhóm bệnh nhân nghiên cứu .. 29
Bảng 3.5: Tỉ lệ các hình thái loạn thần do rượu theo năm .............................. 29
Bảng 3.6: Các triệu chứng lâm sàng của các bệnh nhân được chẩn đoán.............. 31
Bảng 3.7: Các loại ảo giác biểu hiện ở nhóm bênh nhân trong mã F10.51 .... 33
Bảng 3.8: Tỉ lệ các loại ảo giác ....................................................................... 33
gây rối loạn tâm thần, mất điều hòa, không tự chủ được hành động và có thể
hôn mê, ức chế hô hấp, nguy hiểm tính mạng khi nồng độ rượu trong máu quá
cao [6].
Do tác dụng ức chế thần kinh trung ương nên rượu được sử dụng như một
loại đồ uống đem lại cảm giác khoan khoái. Nhưng nếu uống một lượng
nhiều rượu và sử dụng lâu dài có thể đem lại cho con người rất nhiều tác hại
về cả thể chất lẫn tâm thần. Về thể chất, rượu có thể gây ra các bệnh về tiêu
hóa, bệnh về tim mạch, ảnh hưởng tới hệ miễn dịch do đó người nghiện rượu
dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như viêm phổi, lao... Về tâm thần, rượu có thể
gây các rối loạn tâm thần từ nhẹ đến nặng : say rượu thông thường, say rượu
bệnh lý, nghiện rượu mạn tính, sảng rượu, loạn thần do rượu..... Rượu còn dẫn
đến nhiều hậu quả về xã hội, là nguyên nhân chính gây ra tai nạn giao thông,
bạo hành gia đình làm giảm năng suất lao động.
2
Loạn thần do rượu bao gồm: sảng rượu, ảo giác do rượu, hoang tưởng
do rượu, ...(Sumski N. G., 1963). Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới
năm 1990, loạn thần do rượu gặp ở 10% những người nghiện rượu mạn tính.
Ở nước ta, theo báo cáo của Viện Sức Khỏe Tâm Thần (1994), số lượng bệnh
nhân loạn thần do rượu vào điều trị nội trú ngày càng tăng, 0,31% năm 1990,
6,91% năm 1994 và năm 2001 là 9,6 % .
Nghiên cứu các hình thái loạn thần do rượu giúp chẩn đoán, điều trị và
ngăn ngừa sự tiến triển của loạn thần do sử dụng rượu. Đề tài “Nghiên cứu
đặc điểm các hình thái loạn thần do sử dụng rượu ở bệnh nhân điều trị nội trú
tại Viện Sức Khỏe Tâm Thần từ năm 2012 đến năm 2014” với mục tiêu
nghiên cứu như sau :
Mô tả đặc điểm của các hình thái loạn thần do sử dụng rượu trên bệnh
nhân điều trị nội trú tại Viện Sức Khỏe Tâm Thần từ năm 2012 đến năm 2014
4
- Tim mạch: rượu nhẹ ít ảnh hưởng đến tim mạch. Dùng rượu mạnh
trong thời gian quá dài có thể gây giãn cơ tim, phì đại tâm thất và xơ hóa
- Tiêu hóa: rượu nhẹ (dưới 10o) làm tăng tiết dịch vị, dịch vị có nhiều
axit và ít pepsin, tăng nhu động ruột, tăng khả năng hấp thu thức ăn ở niêm
mạc ruột. Vì vậy dùng rượu nhẹ có điều độ sẽ làm tăng tỉ trọng. Ngược lại,
rượu 20o ức chế sự bài tiết dịch vị. Rượu mạnh 40o gây viêm niêm mạc dạ dày
( do ảnh hưởng tới lớp chất nhầy ở dạ dày), nôn, co thắt vùng hạ vị, làm giảm
sự hấp thu của một số thuốc qua ruột.
- Cơ trơn : do ức chế trung tâm vận mạch nên rượu gây giãn mạch. Tác
dụng giãn mạch của rượu còn do khả năng giãn cơ trơn của acetaldehyd ( chất
chuyển hóa rượu) . Do đó, ngộ độc rượu dễ bị hạ thân nhiệt và khi gặp lạnh dễ
bị chết cóng [6].
1.1.3. Dược động học
a/ Hấp thu: rượu được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa. Sau khi uống rượu
30 phút, rượu đạt được nồng độ tối đa trong máu. Thức ăn cũng ảnh hưởng
tới hấp thu rượu: thức ăn chứa nhiều protein (lòng tắng trứng), lipid (dầu thực
vật, mỡ động vật) làm giảm hấp thu rượu, ngược lại đồ uống có gas làm tăng
tốc độ hấp thu rượu.
b/ Chuyển hóa: Sau khi hấp thu, rượu được phân phối nhanh vào các tổ chức
và dịch cơ thể (qua cả rau thai). Nồng độ rượu trong tổ chức tương đương với
nồng độ rượu trong máu. Có hai con đường chuyển hóa rượu thành aldehyd :
+ Chuyển hóa qua alchohol dehydrogenase( ADH ) là con đường chính,
ADH có nhiều ở gan, ngoài ra còn có ở não và dạ dày
+ Chuyển hóa qua hệ oxy hóa ethanol ở microsom, khi nồng độ rượu
trong máu cao trên 100mg/dL rượu dược chuyển hóa qua hệ MESO. Ở những
người nghiện rượu, hoạt tính của các enzym tăng lên, làm tăng chuyển hóa
của chính rượu và một số thuốc như Phenobarbital, carbamazepin...
một người uống 120ml rượu trắng sẽ bằng 4 đơn vị chuẩn) trừ đi số giờ người
đó uống (giả sử uống trong vòng 2 giờ ta sẽ có 2 đơn vị chuẩn) cuối cùng
nhân với 0,015 ta sẽ được kết quả là 0,03% BAL.
Trong y học, người ta dùng thử nghiệm Breathlyser phân tích hơi thở
để đo lượng rượu trong máu mặc dù rượu đào thải qua đường thở chỉ chiếm
10% lượng rượu uống. Cách đo này cho chỉ số gần đúng nhưng giúp cho y
học người uống có thể tính được nguy cơ khi uống các loại rượu khác nhau.
Đơn vị đo nồng độ rượu trong máu tính bằng BAL ( Breathlyser Alcohol
Level). Khi nồng độ rượu trong máu trên 0,05% BAL tương ứng với khoảng
0,2- 0,3 g/l người uống biểu hiện khoái cảm, nói nhiều, khóc, cười, thiếu kiềm
chế. Nồng độ rượu từ 0,05 – 0,08% BAL tương ứng với 0,4 – 0,7 g/l người
uống có thể rối loạn vận động, đi đứng loạng choạng, rối loạn sự xét đoán.
6
Nồng độ trong máu từ 0,08 – 0,15% tương ứng với 0,8 – 1 g/l gây tình trạng
nói chậm, đứng không vững, mắt mờ buồn ngủ, nôn không đi lại được một
mình. Nồng độ rượu trong máu 0,2 – 0,4% BAL tương ứng 1-2 g/l gây tình
trạng say mềm, tiểu tiện không tự chủ, mê man rối loan nhịp thở.
Nồng độ rượu trong máu 0,45–0,6 % BAL tương ứng 2 -3 g/l gây tình trạng
xanh tái, hôn mê và có thể dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời.
Hội đồng quốc gia về sức khỏe và nghiên cứu y học ở Autralia có
khuyến cáo rằng: Dưới 40 gram (4 đơn vị uống chuẩn) mỗi ngày đối với nam
và dưới 20 gram (2 đơn vị uống chuẩn) mỗi ngày đối với nữ với 2 ngày không
dùng rượu mỗi tuần. Ngay cả khi không đạt tới điều này, một sự giảm dùng
rượu thực sự cũng không làm giảm được nguy cơ có các vấn đề trong tương
lai [23].
1.2. Các rối loạn tâm thần do rượu
1.2.1. Lạm dụng rượu
sự giải thoát dopamine trong khuôn khổ bù đắp hoặc trong “trung tâm sảng
khoái” của não: một phức hợp những cấu trúc bao gồm hạch nền, đồi thị, vỏ
não trán, hạnh nhân, và vùng dưới đồi... Khả năng của những sự kiện hàng
ngày hoạt hoá hệ thống này bị giảm ở những người thường xuyên kích thích
nó bằng rượu, và điều này lại dẫn đến tiếp tục phụ thuộc rượu nhằm duy trì
được một trạng thái tâm lí mong muốn.
+ Yếu tố xã hội: Việc sử dụng rượu sớm ở những người trẻ tuổi có liên
quan đến hành vi và thái độ của gia đình hay do ảnh hưởng từ những hình ảnh
uống rượu trên các phương tiên thông tin đại chúng. Những chuyển biến trong
cuộc đời, cả tốt lẫn xấu đều ảnh hưởng đến sự tiêu thụ rượu: sự phát triển các
mối quan hệ và gia đình, hoặc tìm được một việc làm và duy trì được công
việc đó có thể hạn chế việc sử dụng rượu. Những sự kiện bất lợi trong cuộc
sống có thể làm tăng việc sử dụng rượu, đặc biệt ở những người thường uống
rượu để giải sầu
+ Yếu tố tâm lí: Uống rượu đem lại khoái cảm có thể là về sinh lí, xã
hội hoặc sự giảm nhẹ sau một sang chấn. Một khi một cá nhân đã trở nên phụ
thuộc hơn vào rượu thì một động lực xa hơn để tiếp tục uống rượu là để tránh
các triệu chứng cai.
Lạm dụng rượu có thể tiến triển thành nghiện rượu [3].
8
1.2.2. Say rượu thông thường và say rượu bệnh lí
a/ say rượu thông thường
Say rượu thông thường hay còn gọi là say rượu cấp là hậu quả của việc
nhiễm độc nhất thời do rượu, thường xảy ra ở những người uống rượu quá
ngưỡng qui định dẫn đến rối loạn ý thức, hành vi, cảm xúc, nhẹ thì bệnh nhân
còn khả năng nhận xét xung quanh, nặng thì không kiểm soát được hành vi.
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng rượu không gây nên hưng phấn đối với
lượng uống nhiều người say có thể hôn mê, mạch nhanh, thở nông, hạ huyết
áp có thể tử vong nếu không cấp cứu [3].
Về tiến triển, các trường hợp ngộ độc rượu cấp nhẹ, sau giai đoạn ngủ
sâu người bệnh có thể hồi phục được nhưng có quên từng mảng. Trong trường
hợp ngộ độc rượu cấp nặng, phải thực hiện cấp cứu tại trung tâm cấp cứu gần
nhất, và phải có chế độ chăm sóc, theo dõi toàn diện thích hợp.
b/ Say rượu bệnh lí
Say rượu bệnh lý trạng thái ngộ độc rượu cấp, hiếm gặp, có thể xảy ra ở
những người uống lượng rượu không lớn nhưng quá mức chịu đựng của cơ
thể [3].
Say rượu bệnh lý cần phân biệt với say rượu thông thường về đặc điểm
biểu hiện bệnh lý loạn thần cấp diễn, với nhiều rối loạn tâm thần nặng vì vậy
say rượu bệnh lý có nhiều tên gọi khác nhau: say rượu loạn thần, say rượu
biến chứng, say rượu dạng động kinh.
Say rượu bệnh lý là tình trạng loạn thần cấp, diễn ra trong một thời
gian ngắn, nhất thời với những triệu chứng bệnh lý rối loạn ý thức sâu sắc
kiểu mù mờ, kèm theo trạng thái căng thẳng cảm xúc do hoang tưởng và ảo
giác chi phối dẫn đến những tác phong sai phạm, nguy hiểm.
Rượu chỉ là một tác nhân tất yếu dẫn đến say rượu bệnh lý trong số
nhiều yếu tố thuận lợi khác cần được kể đến như: Sự mệt mỏi, thiếu ngủ, đói,
suy kiệt, nóng quá mức, khát quá mức, bệnh nhiễm trùng, lo âu, sợ sệt, căng
10
thẳng. Say rượu bệnh lý phát sinh sau uống rượu không phụ thuộc nhiều vào
số lượng và loại rượu uống, có khi chỉ một lượng nhỏ rượu nho, cũng có khi
là lượng lớn rượu mạnh.
Khởi phát nhanh từ vài phút đến một giờ (ít khi xuất hiện muộn sau
nhiều giờ).
Về mặt y học, nghiện rượu nằm trong nhóm bệnh nghiện chất được mã hóa
F10 – F19 trong ICD -10 (1992), Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra nguyên tắc
chỉ đạo chẩn đoán nghiện rượu khi có ít nhất 3 trong 6 tiêu chuẩn sau diễn ra
trong vòng 12 tháng:
1. Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy buộc phải sử dụng rượu.
2. Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng rượu về mặt thời
gian bắt đầu, kết thúc hoặc mức sử dụng rượu.
3. Một trạng thái cai sinh lí khi việc sử dụng rượu bị ngừng hay bị
giảm bớt
4. Có hiện tượng tăng dung nạp rượu (người nghiện rượu có thể
dùng hằng ngày nhũng lượng rượu lớn đủ để làm say hoặc gây
ngộ độc nguy hiểm cho những người không nghiện rượu)
5. Dần dần sao nhãng các thú vui trước đây để đi tìm và sử dụng
rượu, dành thời gian ngày càng nhiều để tìm kiếm và sử dụng
rượu
6. Tiêp tục sử dụng rượu mặc dù đã có hậu quả có hại đối với gan
và nhiều cơ quan khác do uống rượu [1].
Một số yếu tố thuận lợi cho người nghiện rượu là:
- Tuổi: Ngày càng có nhiều người trẻ uống rượu, vì vậy tỷ lệ người trẻ
nghiện rượu tăng cao.
- Di truyền: Con của những gia đình có vợ hoặc chồng nghiện rượu có
nguy cơ nghiện rượu cao gấp 2 lần so với con những cặp vợ chồng
không nghiện.
12
- Nghề nghiệp: Lao động giản đơn
- Hôn nhân: Người nghiện rượu có nhiều vấn đề về hôn nhân. Mâu thuẫn
gia đình, ghen tuông
thấy những hình người và sinh vật nhỏ bé lại, thấy lung tung các hình ảnh
chuột nhắt, rắn, rết, nhện, gián... Người sảng rượu vẫn còn khả năng phê
phán, có rối loạn định hướng thoáng qua hoặc định hướng không rõ ràng, đầy
đủ về không gian và thời gian. Đồng thời nét mặt và các hoạt động mất linh
hoạt, không chú ý tập trung, có thể có cơn co giật. Nói tóm lại, những triệu
chứng bệnh lý thường hay gặp thực tế trong giai đoạn khởi phát là mất ngủ,
rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi, chán ăn, khó tập trung chú ý, run rẩy, chếnh
choáng, sợ hãi...
Trong giai đoạn toàn phát
Có biểu hiện ba triệu chứng cổ điển gồm: ý thức mù mờ, lú lẫn; các ảo
tưởng, ảo giác sinh động xảy ra ở bất kỳ giác quan nào và run rẩy nặng. Đồng
thời có thể có hiện tượng hoang tưởng, kích động, mất ngủ hoặc đảo lộn nhịp
thức ngủ, hoạt động của thần kinh thực vật tăng mạnh [1]. Có hiện tượng mê
sảng nặng, bị rối loạn năng lực định hướng về thời gian và không gian, định
hướng xung quanh đôi khi bị lệch lạc nhưng định hướng về bản thân còn giữ
lại được. Người sảng rượu có nhận thức về xung quanh như là ảo giác và hoàn
toàn mất khả năng phê phán. Mức độ ý thức mù mờ dao động và thường gia
tăng vào buổi chiều tối. Khi có sự lôi cuốn chú ý lâu hơn, đôi lúc ý thức tỉnh
ra và bắt đầu trả lời đúng các câu hỏi nhưng trạng thái này có thể đột nhiên bị
hàng loạt những ảo giác ngắt đoạn. Đôi khi người sảng rượu cảm thấy như có
côn trùng bò trên cơ thể, có cảm giác đau do vết cắn của động vật. Các ảo
giác có tính chất toàn vẹn dưới hình thức những khung cảnh, những sự kiện
thay đổi một cách hợp lý như mình bị tấn công, chuẩn bị đưa tới nơi hành
hình. Cũng có thể có những hình ảnh trông rất sinh động, chứng sảng nghề
nghiệp như cảm thấy đang ở trong môi trường hoàn cảnh làm việc bình
14
thường, đang tiến hành các hoạt động trong thao tác công việc của mình. Do
1.2.5. Loạn thần do rượu
Rượu gây ra nhiều tác hại về mặt cơ thể và tâm thần. Theo thống kê
của Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) loạn thần do rượu chiếm 10% các
trường hợp nghiện rượu mãn tính.
Thuật ngữ loạn thần do rượu được xác định bởi loạn thần xuất hiện và
phát triển do hậu quả tác dụng trực tiếp của rượu lên não. Loạn thần phát triển
chủ yếu do nhiễm độc rượu lâu dài gây tổn thương các cơ quan nội tạng và rối
loạn chuyển hoá trong cơ thể. Loạn thần xuất hiện không những do ngộ độc
rượu khi nồng độ rượu cao trong cơ thể mà ngay cả khi lượng rượu trong máu
không có hoặc có rất thấp
Về lâm sàng loạn thần do rượu có thể chia ra: sảng rượu, ảo giác do
rượu, hoang tưởng do rượu, hội chứng Korsakov do rượu, bệnh não do rượu
v.v...(Sumski N. G., 1963 ).[4]
a/ Hoang tưởng và ảo giác do rượu
Ảo giác do rượu là hình thái lâm sàng thường gặp sau sảng rượu, chiếm
5,6 - 22,5% các loạn thần có liên quan đến nghiện rượu mãn tính (Marozov G.
V., 1974). Tuổi bị bệnh thường gặp ở lứa tuổi 30 - 40 tuổi (Achte K., 1969).
Ảo giác thường xuất hiện sau 10 năm uống rượu (Katralv.A. K., 1973). Tiến
triển của ảo giác do rượu có thể cấp, kéo dài và có thể ảo giác mãn tính
(Sumski N.G., 1983).
Hoang tưởng do rượu thường gặp sau sảng rượu và ảo giác do rượu.
Về lâm sàng có paranoid do rượu và paranoia do rượu (hay gặp nhất là hoang
tưởng ghen tuông) [4].
Hoang tưởng và ảo giác do rượu là hậu quả của nhiễm độc rượu lâu dài,
là biến chứng của nghiện rượu mãn tính [1]. Theo cách phân loại cổ điển thì
ảo giác do rượu được chia ra ảo giác cấp, ảo giác kéo dài và ảo giác mãn tính.
Ảo giác cấp tính là những ảo giác tồn tại từ vài ngày đến 1 tháng. Ảo giác kéo
16
Ảo thị cũng thường gặp sau ảo thanh, nội dung ảo thị thường phù hợp
với nội dung ảo thanh và hoang tưởng. Khi ảo giác có sảng thì bệnh nhân thấy
những côn trùng, động vật với kích thước thu nhỏ. Khi ảo giác kèm theo ý
thức u ám bệnh nhân thấy những cảnh giống mộng nhưng chủ đề thường
không hoàn chỉnh và mất tính thứ tự.
Ảo giác xúc giác ít gặp hơn ảo thanh và ảo thị, thường xuất hiện cùng
với ảo thị, bệnh nhân thấy những côn trùng bò trên da thịt, chuột gậm nhấm
chân tay mình gây cảm giác khó chịu. Đôi khi ảo xúc là cảm giác những vật lạ
trong miệng và họng.
Ảo khứu và ảo vị ít gặp ở bệnh nhân loạn thần do rượu với ảo giác
chiếm ưu thế [4].
+/ Hoang tưởng:
Paranoia do rượu được nhắc đến nhiều là hoang tưởng ghen tuông, được
phát triển dần trên một nhân cách đã thoái hoá do rượu. Thoạt đầu những ý tưởng
ghen tuông chỉ có trong khi say. Dần dần mới trở nên bền vững và xuất hiện cả
những khi bệnh nhân không uống rượu. Từ chỗ nghi ngờ đi đến khẳng định vợ
mình không chung thuỷ. Bệnh nhân rình mò, tra khảo, bắt vợ phải nhận lỗi. Bệnh
nhân xác định người yêu của vợ mình thường là người quen biết.
Sự phức tạp của loạn thần có thể diễn ra theo 2 hướng:
Ảo thanh thường xuất hiện vào chiều tối và lúc thiêm thiếp ngủ. Có thể
là ảo thanh thô sơ hay ảo thanh lời nói. Giọng nói có thể nói chuyện với bệnh
nhân hay nói chuyệphức tạp của loạn thần có thể diễn ra theo 2 hướng:
1: Hoang tưởng ghen tuông là chủ đề duy nhất không thay đổi.
2: Ý tưởng hoang tưởng còn có nội dung khác liên quan đến sự thiệt hại
vật chất (vợ lấy tiền cho người yêu, đầu độc bệnh nhân để có tự do với người
yêu) [4].