Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm ở bệnh nhân nữ độ tuổi 45 59 điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong Bảng Phân loại Bệnh Quốc tế lần thứ mười (ICD-10), rối loạn hỗn
hợp lo âu và trầm cảm (RLHHLAVTC) được xếp vào mã bệnh F41.2, thuộc
các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể{(WHO), 1992
#95;Walf, 2005 #67;Walf, 2005 #67;Walf, 2005 #67}. Đây là một rối loạn khá
thường gặp trong quần thể dân số chung với tỷ lệ dao động từ 0,8% - 2,5% và từ
5% - 15% trong chăm sóc sức khỏe ban đầu [1],[2]. Một số nghiên cứu cho biết
ở Anh, RLHHLAVTC chiếm gần một nửa các rối loạn tâm thần và gấp gần 4 lần
so với rối loạn trầm cảm [3]. Rối loạn này gặp ở nữ giới với tỷ lệ 61% - 81,2%.
Eisuke Matsushima và CS, khi đánh giá trên thang HADS cho phụ nữ độ tuổi
từ 40 - 64 đang ở thời điểm quanh MK, sau MK thấy 56,2% có trầm cảm,
48,6% có lo âu và 41,8% có cả lo âu và trầm cảm [4].
Phụ nữ bước vào độ tuổi 45-59 cũng chính là thời điểm bước ngoặt quan
trọng về tâm lý, sinh lý trong cuộc đời người phụ nữ đó là thời kỳ mãn kinh.
Những thay đổi về hormone cùng với các stress tâm lý, các bệnh lý cơ thể có
thể thúc đẩy, khởi phát các rối loạn lo âu, trầm cảm [5],[6],[7]. RLHHLAVTC
ở lứa tuổi này có cơ chế bệnh nguyên, bệnh sinh phức tạp, với nhiều giả
thuyết của các yếu tố tâm lý, nhân cách, di truyền và sự thay đổi về các chất
dẫn truyền thần kinh và yếu tố nội tiết [8],[9],[10].
Bệnh cảnh lâm sàng của rối loạn này ở phụ nữ độ tuổi 45 - 59 rất đa
dạng vừa có triệu chứng của rối loạn lo âu, vừa có triệu chứng của rối loạn
trầm cảm, nhưng không có triệu chứng thuộc rối loạn nào đủ nặng để xác
định một chẩn đoán riêng biệt, mặt khác các triệu chứng này còn đan xen,
trùng lặp với các triệu chứng tiền mãn kinh, mãn kinh [11],[12]. Đây cũng
là lý do làm cho bệnh nhân thường đi khám rất nhiều chuyên khoa khác
nhau và chậm trễ trong quá trình phát hiện, chẩn đoán và hiệu quả điều trị
không cao, ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe tâm thần và chất lượng cuộc



• Hippocrate mô tả trạng thái bệnh lý sầu uất (melancholie).
• Bonet (1686) mô tả bệnh hưng cảm- sầu uất.
• Thế kỷ XVIII: các tác giả đã mô tả hai trạng thái bệnh lý trầm cảm và hưng cảm,
bệnh có xu hướng tiến triển mạn tính và dễ tái phát, các tác giả cho rằng hai trạng
thái này xuất hiện xen kẽ nhau ở một bệnh nhân chỉ là ngẫu nhiên.
• E. Kraepelin (1899) thống nhất các biểu hiện lâm sàng và tính chất tiến triển
của những bệnh độc lập như “bệnh thao cuồng”, “bệnh sầu uất” do các nhà
tâm thần học trước đó mô tả thành một bệnh chung là "loạn thần hưng- trầm
cảm” (psychose-maniaco-depression).
• Từ cuối thế kỷ XX: Từ những năm 60-70 của thế kỷ XX trở lại đây, khái
niệm về trầm cảm được Tổ chức Y tế Thế giới tách thành mục riêng biệt trong
Bảng Phân loại Bệnh Quốc tế các lần thứ 8, 9, 10 [11]. Từ nhận thức đúng
bản chất về bệnh nguyên, bệnh sinh của trầm cảm, thuật ngữ “bệnh trầm cảm”
được thay bằng thuật ngữ “rối loạn trầm cảm”.
Bệnh cảnh lâm sàng của rối loạn trầm cảm biểu hiện dưới nhiều hình


4

thức rối loạn khác nhau. Trong những rối loạn này, biểu hiện chủ yếu là các
quá trình hoạt động tâm thần bị ức chế, trong đó triệu chứng cơ bản là cảm
xúc bị ức chế, tư duy bị ức chế và hoạt động bị ức chế. Kèm theo khí sắc trầm
là sự thay đổi tư duy và hoạt động, nhất là hoạt động có ý chí, giảm khả năng
liên tưởng, giảm hoạt động, giảm năng lượng dẫn đến chóng mệt mỏi, v.v...
Những rối loạn này có khuynh hướng tái diễn, khởi đầu thường có liên quan
đến các sự kiện hoặc hoàn cảnh gây stress. Các triệu chứng cơ thể thường
kèm theo, nhưng có thể tính đến hoặc bỏ đi các triệu chứng cơ thể mà vẫn
không làm mất thông tin để chẩn đoán rối loạn trầm cảm.
1.1.3. Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm
Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm là rối loạn trong đó có cả triệu

Trong khoảng thời gian này có sự dao động bất thường của các hormone sinh
sản, có các biểu hiện sinh lý của mãn kinh như giảm ham muốn tình dục, khô
âm đạo, bốc hỏa, vã mồ hôi ban đêm [23],[24]. Thời gian trung bình của giai

-

đoạn này là 3,8 năm.
Mãn kinh tự nhiên là sự dừng vĩnh viễn của chu kỳ kinh nguyệt do mất chức
năng hoàng thể. Theo WHO, mãn kinh được định nghĩa là sau 12 tháng vô
kinh tiếp theo của chu kỳ kinh cuối cùng [20],[25].
1.1.5. Tuổi mãn kinh
Tuổi đời sinh sản của người phụ nữ nói chung được tính từ khi có kỳ
kinh đầu tiên ở lứa tuổi dậy thì đến kỳ kinh nguyệt cuối cùng. Mãn kinh tự
nhiên điển hình (không phải là tất cả) thường xảy ra ở phụ nữ trung tuổi, ở
cuối những năm 40 tuổi và đầu những năm 50 tuổi [5]. Đó là sự kết thúc thời
kỳ sinh sản trong cuộc đời người phụ nữ. Theo các nghiên cứu khác nhau tuổi
mãn kinh trung bình ở phụ nữ dao động ở tuổi 51 [26],[27],[28].
1.2. Cơ chế bệnh nguyên, bệnh sinh rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm ơ
nữ giới độ tuổi 45-59
1.2.1. Bệnh nguyên
Có nhiều giả thuyết về yếu tố bệnh nguyên của rối loạn hỗn hợp lo âu
và trầm cảm ở độ tuổi trung niên.
1.2.1.1. Vai trò của các yếu tố tâm lý
Các sang chấn tâm lý có thể là nguyên nhân gây bệnh hoặc là yếu tố
thuận lợi cho sự biểu hiện lo âu và trầm cảm. Các triệu chứng cảm xúc được
xem như đáp ứng với vai trò và chức năng của phụ nữ đã được thay đổi có


6



đến stress. Sự tác động của các stress từ cuộc sống như sự khó khăn kéo dài,
kết hợp với các phản ứng cá nhân, yếu tố tâm lý xã hội mang tính ‘tiêu cực’
như lòng tự trọng thấp, bi quan, trốn tránh, tự trách mình có vai trò quan trọng
trong sự phát triển trầm cảm. Ngược lại, yếu tố nhận thức tích cực làm giảm
sự phát sinh bệnh . Một sang chấn có ý nghĩa gây bệnh phụ thuộc vào sự đánh
giá chủ quan của người đó với stress.
Những đặc điểm nhân cách trầm cảm, lo âu, nghi bệnh, phân ly, hướng
nội, ít cởi mở, hay lo lắng quá mức là những nét nhân cách dễ bị tổn thương,
thuận lợi dễ hình thành các rối loạn liên quan đến stress [6].
Theo Alirza Farnam và CS khi nghiên cứu về mô hình nhân cách ở bệnh
nhân rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm cho thấy thang điểm tính hướng
ngoại của nhóm bệnh nhân này thấp hơn, tính dễ tổn thương cao hơn so với
quần thể dân số chung với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê và nét tính cách
cũng ảnh hưởng đến sự đáp ứng đối với điều trị của các cá thể [34].
1.2.1.3. Yếu tố di truyền
Lo âu và trầm cảm có liên quan đến di truyền qua nghiên cứu gia đình
quy mô lớn [5].
1.2.1.4. Yếu tố nội tiết: Vai trò của estrogen
Giai đoạn 45- 49 tuổi là giai đoạn tiền mãn kinh của phụ nữ. Khi người
phụ nữ bước vào độ tuổi trung niên, buồng trứng teo nhỏ trở nên kém đáp ứng
với các kích thích của hormon tuyến yên. Quá trình này diễn ra từ từ dẫn đến
tình trạng chức năng buồng trứng giảm dần dần, khiến chu kỳ rụng trứng và
chu kỳ kinh nguyệt trở nên không đều. Khoảng hai năm trước kỳ kinh nguyệt
cuối cùng nồng độ FSH lớn hơn 20UI/ml, nồng độ estradiol giảm khoảng
80pg/ml [20]. Chu kỳ kinh nguyệt trở nên bất thường ở độ tuổi trung bình là
47,5 tuổi. Sau vài tháng đến vài năm các chu kỳ kinh nguyệt ngừng, người
phụ nữ hết kinh, không có hiện tượng phóng noãn, nồng độ các hormon sinh




9

thiết “những bệnh nhân có sợ hãi kéo dài dẫn tới sầu uất’’. Năm 1934, Aubrey
Lewis, Paul đề xuất quan điểm có sự liên tục giữa lo âu và trầm cảm và tình
trạng stress [16],[35]. Nhiều giả thiết khác cũng ủng hộ quan niệm rằng lo
âu, trầm cảm và tình trạng đồng bệnh lý, cùng nằm trên một trục liên tục và
thể hiện những giai đoạn khác nhau của cùng một rối loạn [36]. Hai hội
chứng này có nhiều triệu chứng trùng lặp chẳng hạn như giảm trí nhớ, tập
trung, rối loạn giấc ngủ, rối loạn cảm giác thèm ăn đều có thể xuất hiện
trong cả lo âu và trầm cảm, thiếu sự ổn định về chẩn đoán lâm sàng, và luôn
tồn tại một khuynh hướng cho những bệnh nhân chịu đựng tình trạng lo âu
kéo dài dẫn tới hình thành trầm cảm [37]. Nhiều tác giả đã đưa ra những giả
thuyết về cơ chế bệnh sinh của rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm ủng hộ
quan điểm một trục liên tục.
Giả thuyết của Adrienne:
Adrienne đã đưa ra bốn lý giải về sinh bệnh học minh chứng cho sự tồn
tại rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm.
-

Sự biến đổi chất trung gian hoá học thần kinh trong rối loạn trầm cảm và lo âu:
Giảm cortisol gây kích thích hormone adreno- corticotropic, dẫn đến giảm sinh
clonidin (Catapres), giảm TSH (Thyroid Stimulating Hormone) và giảm

-

prolactin. Hậu quả là giảm sinh TRH (Thyrotropine Releasing Hormone).
Sự tăng hoạt động của hệ noradrenergic: Nghiên cứu thấy tăng các sản phẩm
chuyển hoá của norepinephrin 3-methoxy-4-hydroxyphenyglycol (MHPG) trong
nước tiểu và dịch não tuỷ ở những người rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm.

thông qua một mạng lưới lan toả. Hoạt động này nhằm duy trì một "trương lực"
có chức năng điều hoà cơ bản trong hệ thần kinh trung ương, ảnh hưởng lên
nhiều chức năng sinh lý (chẳng hạn như nhiệt độ, tiết mồ hôi, giấc ngủ, ăn uống,
sự cảm nhận đau,...), hành vi và các chức năng khác (như tình trạng khí sắc, lo
âu, xung đột và sự gây hấn). Lý giải này phù hợp với trầm cảm thường xuất hiện
sau rối loạn lo âu, sự xuất hiện rối loạn lo âu sẽ làm tăng khả năng bị trầm cảm.
Giả thuyết sinh học của F. Goes, B. Sadler, J. Toolan:
Các tác giả giải thích bệnh nguyên, bệnh sinh của rối loạn hỗn hợp lo âu
và trầm cảm theo thuyết sinh học như sau: Sự biến đổi các chất trung gian dẫn
truyền thần kinh, yếu tố gen và những biến đổi về cấu trúc, chức năng não có
liên quan đến hoạt động của hệ thần kinh tự trị. Quan niệm này cho rằng các
rối loạn sinh học vừa là hậu quả của các xung đột tâm lý, vừa gây nên các
xung đột về tâm lý. Rối loạn sinh học và xung đột tâm lý có mối quan hệ biện
chứng với nhau và cần được xem xét ở từng trường hợp cụ thể.
Vai trò của estrogen trong rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm


11

Nữ giới vốn dễ tổn thương, dễ hình thành các rối loạn lo âu, trầm cảm
hơn nam giới. Ở phụ nữ độ tuổi 45-59, có một số dữ liệu đề cập tới vai trò của
estrogen điều hòa lo âu và trầm cảm, tác động lên hồi hải mã và hạnh nhân,
trục HPA [7],[8]. Dưới đây là tác dụng sinh lý bình thường của estrogen với
các chất dẫn truyền thần kinh như serotonin, acetylcholin, dopamin,
-

noradrenalin trong vai trò điều hòa cảm xúc và nhận thức [9],[10].
Đối với hệ serotoninergic: Estrogen được coi như là chất điều biến hệ thống
serotonergic, noradrenergic, dopaminergic, có tác dụng điều chỉnh sự nhạy
cảm và đáp ứng của neuron với các chất dẫn truyền thần kinh [16],[40].

bước vào giai đoạn mãn kinh có sự sụt giảm nồng độ estrogen làm thay đổi
-

khả năng nhận thức của phụ nữ trung niên [9],[10].
Đối với hệ dopamin: Làm giảm thụ thể D2 và có thể các thụ thể khác của hệ
dopaminergic.
Ở độ tuổi trung niên, nồng độ estrogen giảm thấp không những làm giảm
sự nhạy cảm, sự gắn kết của các thụ thể với các chất trung gian dẫn truyền
thần kinh mà còn ảnh hưởng tới nồng độ trong não và chuyển hóa của các
chất này khiến nồng độ những chất trung gian thần kinh có vai trò trong bệnh
sinh của rối loạn cảm xúc như serotonin, norepinephrin, β- endorphin,
dopamin trở nên bất thường và gây trầm cảm [44],[45].
Một khía cạnh khác của giả thuyết này là sự ảnh hưởng gián tiếp của tình
trạng suy giảm estrogen. Sự giảm nồng độ estrogen được biểu hiện bằng các
triệu chứng cơ thể (bốc hỏa, toát mồ hôi ban đêm) dẫn đến rối loạn giấc ngủ,
lo âu, cáu gắt gây thay đổi cảm xúc ban ngày [25]. Ảnh hưởng của estrogen
đối với việc cải thiện cảm xúc là thứ phát sau khi triệu chứng bốc hỏa ban
đêm được giảm nhẹ khiến giấc ngủ dần trở lại bình thường. Tuy nhiên giả
thuyết này cũng cho rằng sự bất thường của hệ serotonergic có liên quan tới
sự dao động thất thường của nồng độ estrogen được nhấn mạnh cả ở sự điều
nhiệt và thay đổi về cảm xúc trong thời kỳ tiền mãn kinh [28].


13

1.3. Đặc điểm lâm sàng của rối loạn hỗn hợp lo âu trầm cảm ơ nữ giới độ
tuổi 45- 59
1.3.1. Đặc điểm các triệu chứng của hỗn hợp lo âu và trầm cảm
Ở giai đoạn tuổi 45-59, người phụ nữ phải trải qua rất nhiều stress trong
cuộc sống. Chẳng hạn trong công việc, họ bị thay đổi vị trí, tính chất công

giữa các triệu chứng của rối loạn lo âu lan tỏa và rối loạn trầm cảm điển hình.

Lo âu

A: rối loạn lo âu
D: rối loạn trầm
cảm

Rối loạn lo âu

a: lo âu dưới
ngưỡng

Ngưỡn
g chẩn
đoán

A+D
Ad
ad

Rối loạn trầm cảm

Trầm cảm

D

Daaaaaaaaaaaaaa
a


Các triệu chứng căng thẳng:
(15). Căng cơ hoặc đau đớn
(16). Bồn chồn hoặc không thể thư giãn
(17). Có cảm giác tù túng, đang bên bờ vực, hoặc căng thẳng tâm thần
(18). Có cảm giác có khối trong họng hoặc khó nuốt
Các triệu chứng không đặc hiệu khác:
(19). Đáp ứng quá mức với một sự ngạc nhiên nhỏ hoặc bị giật mình
(20). Khó tập trung hoặc đầu óc trở nên trống rỗng vì lo lắng hoặc lo âu
(21). Cáu kỉnh dai dẳng
(22). Khó ngủ vì lo lắng
Các triệu chứng trầm cảm có thể rõ ràng nhưng thường là mơ hồ
Nhóm các triệu chứng đặc trưng. Gồm ba triệu chứng:


16

-

Khí sắc trầm
Mất mọi quan tâm thích thú
Giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động
Nhóm các triệu chứng phổ biến: Gồm bảy triệu chứng thường có:

-

Giảm sút sự tập trung và sự chú ý
Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin
Những ý tưởng bị tội và không xứng đáng
Nhìn vào tương lai ảm đạm, bi quan
Những ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát

mặc dù sự thay đổi hormon có thể làm tăng các yếu tố stress khác. Một số phụ
nữ trải qua lo âu và trầm cảm thường là những phụ nữ kém thích ứng với
stress, dễ mắc hội chứng mãn kinh [5],[47]. Có nhiều giả thiết về cơ chế của
các triệu chứng mãn kinh trong đó giả thuyết đa yếu tố tác động đến thời kỳ
mãn kinh được ủng hộ bao gồm: các yếu tố tâm lý (stress), xã hội, các yếu tố
về nền văn hóa, nhận thức của họ về mãn kinh, và sự thay đổi hệ thống nội
tiết đặc biệt sự sụt giảm estrogen. Estrogen được coi như là chất điều biến hệ
thống serotonergic, noradrenergic, dopaminergic, có tác dụng điều chỉnh sự
nhạy cảm và đáp ứng của neuron với các chất dẫn truyền thần kinh [28]. Các
triệu chứng gặp trong giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh có thể gặp bao
gồm các triệu chứng về cơ thể (chu kỳ kinh nguyệt không đều, những cơn bốc
hỏa, vã mồ hôi ban đêm, hồi hộp đánh trống ngực, hay giảm ham muốn tình
dục, các vấn đề về bàng quang, vấn đề khô âm đạo), các triệu chứng về tâm lý
(cảm xúc dao động, cáu gắt, tăng lo âu, rối loạn giấc ngủ, giảm sự tập trung,
hay quên) [43],[48]. Theo Myra Hunter - chuyên gia tâm lý học lâm sàng của
Khoa Tâm thần Đại học London, cùng các cộng sự nhận định các triệu chứng
này có thể có hoặc không liên quan đến trạng thái rối loạn kinh nguyệt và sự
thay đổi nồng độ hormon sinh dục [28]. Những triệu chứng như bốc hỏa,
nóng bừng mặt, vã mồ hôi trong mãn kinh chưa được giải thích rõ ràng, chỉ
biết có một phần vai trò của norepinephrin làm giảm ngưỡng giãn mạch, trùng
lặp với các triệu chứng thần kinh thực vật của lo âu, trầm cảm [28]. Những


18

phụ nữ tiền mãn kinh có các triệu chứng vận mạch từ vừa tới nặng là yếu tố
thuận lợi cho lo âu và trầm cảm [21]. Triệu chứng vận mạch có tỷ lệ cao, rất
khác nhau bởi dân tộc, chủng tộc, đặc biệt là phụ nữ có triệu chứng bốc hỏa,
có biểu hiện các triệu chứng trầm cảm cao gấp 2 lần so với phụ nữ cuối giai
đoạn sinh sản nhưng chưa có dấu hiệu tiền mãn kinh [46]. Trong nghiên cứu

thể là ngủ ít, ngừng thở khi ngủ, hoặc có hội chứng chân không nghỉ (restless
leg syndrome) dẫn đến không ngủ được. Sheila O’Neill, John Eden (2014)
cho biết cũng giống như sự thay đổi về cảm xúc ở phụ nữ trung niên, có thể
có nhiều yếu tố không liên quan đến tình trạng mãn kinh gây ra rối loạn giấc
ngủ như: các khó khăn trong công việc, khó khăn về kinh tế, con cái ra ở
riêng, sự mất mát của người thân [25]. Do đó vẫn tồn tại một số tranh luận có
phải bốc hỏa gây rối loạn giấc ngủ hoặc liệu tình trạng mãn kinh ảnh hưởng
trực tiếp tới chất lượng giấc ngủ ở một số phụ nữ hay không? [51],[52],[53].
Nghiên cứu của McKinlay và Jefferys (1974) và các nghiên cứu sau này
thấy gia tăng các triệu chứng ngủ ít, triệu chứng cảm xúc, đánh trống ngực và
các triệu chứng cơ thể khác ở giai đoạn tiền mãn kinh so với cuối giai đoạn
sinh sản nhưng chưa có tiền mãn kinh và triệu chứng cảm xúc giảm trong giai
đoạn mãn kinh ở một số mẫu nghiên cứu. Một số bằng chứng khác chỉ ra rằng có
các triệu chứng trầm cảm có mặt trong thời kỳ mãn kinh, do nhiều yếu tố khác
nhau tác động chứ không hẳn do sự thay đổi nồng độ hormone sinh dục. Các
triệu chứng bốc hỏa, vã mồ hôi, rối loạn giấc ngủ, các xung đột nội tâm, mức độ
hài lòng về người chồng, gặp vấn đề trong hôn nhân, các yếu tố tâm lý khác, lối
sống cũng ảnh hưởng đến thay đổi cảm xúc ở người phụ nữ trung niên [25].
Sự có mặt của các triệu chứng ở giai đoạn tiền mãn kinh như toát mồ hôi
ban đêm và/hoặc rối loạn giấc ngủ và một số triệu chứng khác khiến cho việc
nhận biết rối loạn hỗn hợp lo âu trầm cảm, các triệu chứng cơ thể của lo âu,
của trầm cảm ở phụ nữ độ tuổi 45- 59 trở nên khó khăn hơn. Chính trong
thang đánh giá các triệu chứng của mãn kinh đã thể hiện rất khó phân biệt đâu
là triệu chứng cơ thể, triệu chứng thần kinh tự trị, triệu chứng trầm cảm của
mãn kinh hay của rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm. Dưới đây là thang đánh
giá các triệu chứng mãn kinh với các mức độ từ không có, nhẹ, trung bình,
vừa, nặng, rất nặng [54]:


20

nghiên cứu trên lâm sàng hoặc ở cộng đồng cho thấy rằng những bệnh nhân
có những rối loạn lo âu có tỷ lệ các bệnh lý cơ thể cao hơn nhóm chứng [55].
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng có mối quan hệ chặt chẽ giữa các rối loạn lo âu
và bệnh lý cơ thể. Chẳng hạn như mối tương quan giữa rối loạn lo âu và bệnh
lý tim mạch có OR = 4,6, với tăng huyết áp OR = 2,4, với các vấn đề dạ dày
ruột OR = 2,4, với các rối loạn sinh dục tiết niệu OR = 3,5, đau nửa đầu
migrain OR = 5,0. Và ở phụ nữ bị rối loạn lo âu có tăng nguy cơ mắc các
bệnh lý cơ thể như tim mạch, tăng huyết áp, các rối loạn chuyển hóa, dạ dày
ruột, sinh dục tiết niệu, da liễu, hô hấp cũng như dị ứng, viêm khớp, đau đầu,
đau lưng. Các bệnh lý cơ thể này cũng có các triệu chứng cơ năng và thực thể
tương tự như các triệu chứng thần kinh tự trị và triệu chứng cơ thể trong lo âu


21

và trầm cảm, khó phân biệt các triệu chứng trùng lặp này [58].
Khi người phụ nữ trải qua giai đoạn 45 - 59 tuổi có nhiều nguy cơ mắc
các bệnh lý cơ thể do sự lão hóa của các cơ quan kèm theo sự tác động của
biến động nội tiết lên toàn bộ cơ thể. Những bệnh lý thường gặp là bệnh lý
thuộc hệ cơ xương khớp, hệ thống tim mạch, hệ tiết niệu sinh dục.
Về xương khớp có thể gặp tình trạng thoái hóa khớp, loãng xương. Tình
trạng này có thể gây ra triệu chứng đau bản thân của bệnh lý cơ thể và cũng
tác động đến tâm lý làm mức độ đau tăng hơn, cũng rất khó phân biệt rành
mạch đâu là đau của loãng xương, của thoái hóa khớp hay đau của yếu tố tâm
lý. Và cần thêm các xét nghiệm cận lâm sàng hỗ trợ chẩn đoán.
Cũng như vậy các bệnh lý hệ tim mạch cũng khá thường gặp ở lứa tuổi
này như tăng huyết áp, đau ngực gây ra những cơn hồi hộp trống ngực, cảm
giác đau có thể rõ ràng hoặc mơ hồ cũng rất khó phân biệt với các triệu chứng
thần kinh tự trị hay các triệu chứng cơ thể trong lo âu và trầm cảm mặc dù
luôn phải ưu tiên xác định bệnh lý cơ thể.

-

Về tác động chất lượng cuộc sống của các rối loạn lo âu nói chung và rối loạn hỗn
hợp lo âu và trầm cảm nói riêng, Das- Munshi và CS (2008) cho biết ảnh hưởng
của rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm lên chất lượng cuộc sống cũng giống như
các rối loạn lo âu và trầm cảm điển hình khác, có chất lượng cuộc sống kém hơn
của người không có rối loạn tâm thần [13]. Kessler và CS (1998) và CS cho rằng
các rối loạn lo âu đều làm suy giảm chức năng, giảm khả năng học tập,
giảm cơ hội trong công việc và tăng tỷ lệ mắc các bệnh đồng diễn, tăng tỷ
lệ tử vong so với quần thể dân số chung [14].

 Một số nghiên cứu ở đối tượng phụ nữ trung niên:
-

Về các sang chấn tâm lý ở phụ nữ trung niên 45-59 nhiều tác giả đều thống
nhất đây là giai đoạn phức tạp thay đổi nhiều yếu tố về sinh học, tâm lý học,
văn hóa, xã hội căng thẳng tác động đến sức khỏe tâm thần chẳng hạn như:
vấn đề về sức khỏe bản thân, sự quan tâm đến tuổi già, bệnh tật cha mẹ, bản
thân trở thành mẹ vợ hay mẹ chồng…[28],[29]. Các yếu tố tâm lý như gánh
nặng chăm sóc cha mẹ già yếu, cảm giác cô đơn khi các con trưởng thành rời
gia đình sống riêng, hôn nhân không hạnh phúc của các con, mất người thân,
khó khăn về kinh tế, nghỉ hưu, quá lo lắng về triệu chứng mãn kinh, thay đổi
vai trò và chức năng của bản thân trong gia đình (trở thành mẹ vợ hay mẹ
chồng, có thêm con dâu, con rể) là các stress liên quan đến các triệu chứng lo
âu và trầm cảm [32],[33].

-

Theo Eisuke Matsushima và CS, khi đánh giá trên thang HADS cho phụ nữ
độ tuổi từ 40-64 đang ở thời điểm quanh MK, sau MK thu được 56,2% có


-

Địa điểm: Viện Sức khỏe Tâm thần Bệnh viện Bạch Mai
Thời gian: Từ tháng 9/2014 đến tháng 8/2015
2.2.3. Xây dựng công cụ nghiên cứu

-

Tiêu chuẩn chẩn đoán: ICD 10 - Mô tả lâm sàng và nguyên tắc chỉ đạo chẩn

-

đoán năm 1992.
Bệnh án nghiên cứu: Bệnh án nghiên cứu được xây dựng theo mẫu bệnh án
nghiên cứu riêng với đầy đủ thông tin cần thiết cho mục tiêu nghiên cứu. Tất cả

-

các bệnh nhân được làm theo một mẫu bệnh án thống nhất.
Bộ câu hỏi: Câu hỏi phỏng vấn thu thập thông tin được xây dựng dựa trên tiêu
chuẩn chẩn đoán ICD 10, thang đánh giá mức độ lo âu Hamilton, thang đánh

-

giá mức độ trầm cảm Hamiton.
Thang đánh giá lo âu Hamilton: Sử dụng bộ test Hamilton đang được áp dụng
tại Phòng Trắc nghiệm tâm lý Viện Sức khỏe Tâm thần Bệnh viện Bạch Mai.
Thang đánh giá lo âu Hamilton (Hamilton anxiety rating scale - HARS) do bác
sĩ Max Hamilton nghiên cứu năm 1960 và đưa vào áp dụng rộng rãi. HARS bao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status