Lễ hội ở huyện thọ xuân thanh hóa với việc phát triển du lịch địa phương - Pdf 43

1

MỞ ĐẦU
1.

Lí do chọn đề tài

Dân tộc Việt Nam luôn tự hào về hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và
giữ nước. Trong suốt chiều dài lịch sử đó, với bao biến đổi thăng trầm đã đúc
kết lại thành một nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc. Trong đó, không thể
không nhắc đến lễ hội - một nét sinh hoạt văn hóa dân gian. Đây cũng là
thành tố quan trọng góp phàn tạo nên bức tranh văn hóa đa dạng trong thống
nhất của dân tộc Việt Nam.
Lễ hội không chỉ là loại hình văn hóa dân gian mà còn là nguồn tài
nguyên du lịch nhân vãn có vai trò quan trọng, là vật hút của ngành du lịch.
Hiện nay, nhiều địa phương trong cả nước đã và đang vận dụng nguồn tài
nguyên nhân vãn này đưa vào hoạt động du lịch, góp phàn không nhỏ vào
việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển và nâng các lễ hội lên tầm cao mới. Theo
thống kê năm 2004 của Cục Vãn hóa Thông tin cơ sở và Bộ Vãn hóa Thông
tin, cả nước có 8902 lễ hội lớn nhỏ và được phân bố rộng khắp. Ở địa phương
nào cũng có lễ hội đặc trưng tiêu biểu của mình.
Nằm ở phía tây tỉnh Thanh Hoá, Thọ Xuân là vùng đất “địa linh nhân
kiệt'’ có vị thế chiến lược trọng yếu trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và
giữ nước tỉnh Thanh nói riêng, cả nước nói chung. Nơi đây không chỉ sản sinh
ra những con người kiệt suất cho dân tộc như: Lê Hoàn, Lê Lợi, Chúa Trịnh,
Chúa Nguyễn,... mà còn là nơi lưu giữ nhiều giá trị vãn hóa độc đáo, điển
hình là các lễ hội truyền thống của địa phương gắn liền với các vị vua của dân
tộc và văn nghệ dân gian của con người, mảnh đất nơi đây. Tuy nhiên, việc tổ
chức lễ hội ở đây mới chỉ dừng lại ở quy mô là những lễ hội dân gian mang ý
nghĩa văn hóa thuần túy, mà chưa có sự mở rộng hoạt động của các lễ hội
thành vật hút của ngành du lịch, hay có cũng chỉ làm một cách hời hợt. Bên

ngắn gọn như:
Lễ hội Lê Hoàn có các bài viết như: Đỗ Phương Thảo với “Lễ hội Lê
Hoàn và huyền thoại về ông vua trọng nông” (kinhtenongthon.com.vn); tác
giả hoabovai với “Lễ hội Lê Hoàn - âm vang tiếng gọi cội nguồn”
(tuoitrethanhhoa.com);
(slpc.wordpress.com);...

hay

“Lễ

Hội



Hoàn



Thanh

Hoả”


3

Viết về lễ hội Lam Kinh có: Đỗ Như Chung với Lễ hội Lam Kinh từ lễ hội
cung đình đến lễ hội dân gianThiên Lam với “Lễ hội Lam Kinh mang đậm nét
văn hoả thời Lê” (tin247.com);...
Lễ hội Xuân Phả cũng có những bài viết như: “Trò Xuân Phả những


4

trị vãn hóa; đưa lễ hội của địa phương trở thành tài nguyên phục vụ cho hoạt
động du lịch, góp phần nâng cao thu nhập và hiệu quả kinh tế của huyện.
3.2.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan những vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động
du lịch và lễ hội, trên cơ sở đó đánh giá tác động của hoạt động du lịch đối với
kinh tế - xã hội, vãn hóa (lễ hội) và môi trường.
Tìm hiểu về các lễ hội tại huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa, đồng thời đưa
ra giải pháp, kiến nghị để lễ hội truyền thống của địa phương trở thành lễ hội
phục vụ du lịch mà không làm mất đi tính linh thiêng của lễ hội.
4.

Đổi tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1.

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là một số lễ hội truyền thống tiêu biểu có thể phát
triển để phục vụ hoạt động du lịch trên địa bàn huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa.
4.2.

Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tìm hiểu khái quát về đặc điểm địa lí, lịch sử, kinh tế - xã hội, văn

biểu tại huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa và phỏng vấn các cán bộ vãn
hóa, những người cao tuổi tại địa phương. Đây là nguồn tài liệu quan
trọng góp phần không nhỏ vào sự thành công của đề tài.
5.2.

Phương pháp nghiên cứu

Khi thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp này, chúng tôi sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu khác nhau, đó là:
-

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng
nhằm phân tích, tổng họp các tư liệu, thông tin liên quan đến đề tài giúp
chủ thể khái quát hóa, mô hình hóa các vấn đề nghiên cứu đạt được
mục tiêu đề ra.

-

Phương pháp thống kê: Các số liệu, tư liệu được sưu tầm ở nhiều
nguồn khác nhau và thời gian dài ngắn cũng không giống nhau YÌ thế
các tài liệu đó cần được thống kê lại và xử lý có hệ thống, phục vụ cho
quá trình nghiên cứu đạt được kết quả cao.

-

Phương pháp khảo sát thực địa: Sử dụng phương pháp này để lấy được
các số liệu, thông tin phục vụ cho việc trình bày luận cứ, đồng thời
kiểm nghiệm độ chính xác, để kết quả nghiên cứu có tính thuyết phục.
Phương pháp này đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến độ chính xác
của đề tài.

6.2.

về mặt thực tiễn

Đe tài hoàn thành sẽ góp phần giới thiệu, quảng bá hình ảnh lễ hội của
Thọ Xuân. Đồng thời để các cơ quan chính quyền địa phương quan tâm chú
trọng phát triển du lịch ở các lễ hội hơn nữa. Bên cạnh đó, đề tài đưa ra những
đề xuất định hướng trong việc bảo tồn giữ gìn và khai thác giá trị vãn hóa để
phát triển du lịch.
Lễ hội ở huyện Thọ Xuân là mảng đề tài hiện nay còn ít người nghiên
cứu, nên nguồn tài liệu vẫn chưa phong phú. Do đó, sau khi đề tài hoàn thành
đây sẽ là nguồn tài liệu thành vãn hữu ích cho những ai có nhu cầu nghiên
cứu về mảng đề tài lễ hội ở các địa phương.
7.

Bổ cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo đề tài
kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung
Chương 2: Lễ hội ở huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa
Chương 3: Khai thác lễ hội ở huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa vào việc
phát triển du lịch địa phương


7

CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1.


hoặc kết họp đi du lịch, trừ trường họp đi học, làm việc hoặc hành nghề để
nhận thu nhập ở nơi đến. Khách du lịch được phân loại theo hai tiêu chí:
Phạm vi lãnh thổ và loại hình du lịch. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ có du
khách: Quốc tế và nội địa. Phân theo loại hình du lịch thì có du khách du lịch
sinh thái và du khách du lịch văn hóa.
1.1.1.3.
*

Một sổ khải niệm khác

Sản phẩm du lịch


8

Sản phẩm du lịch là sự kết hợp hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở khai thác
hợp lý tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu cho du khách trong hoạt
động du lịch. Sản phẩm du lịch = tài nguyên du lịch + hàng hóa và dịch vụ du
lịch.
Dựa trên các thành phần cơ bản của sản phẩm du lịch và tùy thuộc vào
đặc trưng đặc thù của mỗi nước, các nhà du lịch đưa ra một số mô hình: 4S,
3H và 6S.
*

Điểm du lịch

Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút
du khách đến tham quan du lịch.
*




9

Lữ hành là việc thực hiện chuyến đi du lịch theo kế hoạch, lộ trình,
chương trình định trước.
*

Cơ sở lưu trú du lịch

Là cơ sở kinh doanh buồng, giường và các dịch vụ khác phục vụ du
khách. Cơ sở lưu trú du lịch bao gồm khách sạn, làng du lịch, biệt thự, căn hộ,
lều, bãi cắm trại cho thuê, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú chủ yếu.
1.1.2.

Các loại hình du lịch

1.1.2.1.

Khải niệm

Loại hình du lịch được hiểu là một tập họp các sản phẩm du lịch có
những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ
du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì
chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau hoặc được xếp
chung theo một giá bán nào đó.
1.1.2.2.

Phân loại các loại hình du lịch


*

Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyển đi

Căn cứ vào hình thức chuyến đi người ta chia thành: Du lịch theo đoàn
và du lịch cá nhân.
Ngoài ra, còn căn cứ vào các tiêu chí khác như: Phương tiện giao thông
được sử dụng, phương tiện lưu trú, thời gian đi du lịch của khách, vị trí địa lí
của nơi đến đi du lịch,... mà tương ứng nhiều loại hình khác nhau.
1.1.3.

Các yếu tổ ảnh hưởng đến du lịch

1.1.3.1.

Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản trong việc kinh doanh du lịch. Tuy
nhiên, tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên phân bố
không đồng đều trên lãnh thổ. Có những tài nguyên giàu giá trị thu hút nhưng
được phân bố ở những điểm du lịch để phát triển kinh doanh du lịch được.
Như yậy, không phải nơi nào giàu tài nguyên du lịch cũng có thể phát triển
thành điểm du lịch để phát triển kinh doanh du lịch được, nhung nhìn chung,
việc phát triển kinh doanh du lịch chỉ có thể được thực hiện tại những nơi có
tài nguyên du lịch.
Tài nguyên du lịch được chia thành tài nguyên du lịch tự nhiên
(TNDLTN) và tài nguyên du lịch nhân vãn (TNDLNV).
TNDLTN là tổng thể tự nhiên các thành phần của nó có thể góp phần
khôi phục và phát triển thể lực, trí tuệ con người, khả năng lao động và sức
khoẻ của họ và được lôi cuốn vào phục vụ cho nhu cầu cũng như sản xuất

Ngược lại, ở những nước, những vùng có sự bất ổn về chính trị, xung
đột, chiến tranh sẽ gây ảnh hưởng rất xấu hoặc dẫn đến sự ngừng trệ các hoạt
động du lịch. Các hiện tượng thiên tai như bão, lũ lụt, động đất, hoặc các bệnh
dịch như sida, tả, lỵ, sốt rét cũng gây ảnh hưởng xấu đến phát triển du lịch.
Một xã hội văn minh, lịch sự, có những nét đẹp ừong phong tục tập quán cũng
là yếu tốt hấp dẫn du khách do đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
kinh doanh du lịch. Đôi khi bản thân chế độ chính trị hiện tại cũng trở thành


1
2

đối tượng thăm viếng của du khách bởi họ muốn có những nhận xét khách
quan nhất về nó.
*

Điều kiện kinh tế

Ngành du lịch của một quốc gia hay vùng phát triển tỉ lệ thuận với trình
độ phát triển kinh tế của quốc gia hay vùng đó. Thu nhập bình quân đầu người
là chỉ số tác động trực tiếp đến lượng nhu cầu trong du lịch. Các nhà kinh tế
đã thống kê rằng ở các nước có nền kinh tế phát triển, nếu thu nhập tăng lên
1% thì chi phí của nhân dân dành cho du lịch tăng lên 1,5%. Mức thu nhập là
nhân tố kinh tế quan trọng nhất ảnh hưởng tới nhu cầu du lịch.
*

Điều kiện giao thông vận tải

Giao thông du lịch có tác dụng quan trọng đối với sự phát triển của
ngành du lịch. Sự phát triển của giao thông vận tải thể hiện trên hai mặt: Phát


Sự sẵn sàng đón tiếp du khách

Các cơ sở yật chất - kĩ thuật và cơ sở hạ tầng là toàn bộ phương tiện yật
chất tham gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp
ứng mọi nhu cầu của du khách. Thành phần của cơ sở yật chất kĩ thuật bao
gồm các cơ sở công trình kĩ thuật thuộc ngành du lịch; các cơ sở, công trình
thuộc ngành khác có tham gia vào hoạt động du lịch như giao thông, thương
nghiệp, dịch vụ công cộng; tài nguyên du lịch là thành phần đặc biệt của cơ sở
vật chất kĩ thuật du lịch, chúng cũng là phương tiện vật chất để thỏa mãn nhu
cầu của du khách.
Ngoài cơ sở vật chất - kỹ thuật, điều kiện kinh tế, tổ chức thì lực lượng
lao động cũng góp phàn quan trọng trong việc đón tiếp khách. Bởi du lịch là
một ngành sử dụng lực lượng lao động to lớn. Trong du lịch bao gồm nhiều
ngành nghề và trình độ chuyên môn hết sức khác nhau. Mặt khác, quá trình
cung ứng dịch vụ du lịch là quá trình tiếp xúc trực tiếp giữa khách hàng và
nhân viên cung ứng, vì vậy thái độ và trình độ của nhân viên sẽ quyết định
chất lượng phục vụ và hiệu quả kinh doanh.
Cho dù các yếu tố trên đều ảnh hưởng đến sự phát triển kinh doanh du
lịch thì tài nguyên du lịch vẫn là yếu tố quan trọng, là cơ sở cho việc phát
triển kinh doanh du lịch. Đặc biệt, ngày nay xu hướng du lịch văn hoá đang
phát triển mạnh, tài nguyên du lịch văn hoá đang được khai thác triệt để. Vỉ
vậy, khi khai thác tài nguyên du lịch, chúng ta cần phải đảm bảo có một sự
tương xứng giữa khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch đồng thời bảo vệ môi
trường.
1.1.4.

Tác động của du lịch đến kinh tế, văn hóa -xã hội và môi

trường

triển cơ sở hạ tàng và kiến trúc thượng tàng. Đối với các doanh nghiệp thì đó
là đầu tư mở rộng, đầu tư làm mới các doanh nghiệp. Đối với cư dân địa
phương thì đó là đầu tư phát triển các làng nghề thủ công truyền thống, các
phong tục tập quán,...
Du lịch phát triển góp phần giải quyết việc làm cho người lao động. Khi
du lịch phát triển nhu cầu hàng hoá, dịch vụ tăng, từ đó đòi hỏi phải có một
lực lượng lao động lớn, nhất là khi mà ngành du lịch là ngành kinh tế dịch vụ
chỉ đáp ứng chủ yếu là du lịch và thức ăn, do đó nó đòi hỏi nhiều lao động và
trong nhiều trường họp không thể cơ giới hoá được như các ngành sản xuất


1
5

vật chất khác. Do vậy, việc phát triển du lịch là tạo thêm nhiều chỗ làm và tạo
điều kiện tăng thu nhập cho nhân dân địa phương.
Du lịch quốc tế còn là phương tiện tuyên truyền và quảng cáo không mất
tiền cho đất nước du lịch chủ nhà. Khi khách đến du lịch, khách có điều kiện
làm quen với một số mặt hàng ở đó và mua các hàng hoá ấy về nước mình.
Theo cách này, du lịch quốc tế góp phàn tuyên truyền cho nền sản xuất của
nước du lịch chủ nhà.
Du lịch tác động gián tiếp tạo hiệu quả số nhân trong du lịch. Du lịch
phát triển, tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ tăng qua đó tạo thu nhập cho các chủ
thể trong nền kinh tế; du lịch phát triển, nhu cầu tái sản xuất, đầu tư tăng qua
đó tăng hiệu quả số nhân về Yốn; du lịch phát triển còn làm tăng nhu cầu lao
động qua đó góp phần tăng hiệu quả số nhân về lao động.
*

Tác động tiêu cực


Trong thời gian đi du lịch, khách thường sử dụng các dịch vụ, hàng hoá
và thường tiếp xúc với cư dân địa phương. Thông qua các cuộc giao tiếp đó,
trình độ văn hóa của khách và người bản xứ được nâng cao, đồng thời giúp họ
xích lại gàn nhau hơn, đoàn kết hơn và làm phong phú thêm khả năng thẩm
mỹ của con người khi họ được tham quan các kho tàng, các danh thắng,... của
đất nước. Du lịch phát triển góp phần khai thác, bảo tồn các di sản văn hoá
dân tộc, góp phần bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường tự nhiên.
Du lịch quốc tế có vai trò quan trọng trong việc giáo dục tinh thần quốc
tế, cho các dân tộc, làm cho mọi người gần gũi nhau hơn, góp phần bình
thường hoá quan hệ quốc tế, góp phần cũng cố hoà bình quốc tế và tăng thêm
tình hữu nghị giữa các dân tộc anh em.
*

Tác động tiêu cực

Du lịch phát triển cũng có thể tác động không tốt đến văn hoá - xã hội,
nhất là thuần phong mỹ tục của dân tộc. Do nhìn nhận đạo đức khác nhau,
một số du khách không thấy hành động, cử chỉ, cách ăn mặc của mình là
không phù hợp với phong tục, truyền thống của cư dân nơi du lịch. Sự học hỏi
theo mốt của một bộ phận cư dân bản xứ, đặc biệt là giới thanh thiếu niên.
Không những thế, khi du lịch phát triển, vì mục đích kinh tế trước mắt, các
hoạt động văn hoá, tinh thần được trình diễn một cách thiếu tự nhiên hoặc
chuyên nghiệp, hoặc mang ra làm trò cười cho du khách.
Du lịch phát triển, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, mại dâm,... lan
tràn nhanh chóng, gây ảnh hưởng tới trật tự, an ninh nơi làm du lịch. Du lịch
là con đường mà các thế lực phản động thường hay sử dụng để tuyên truyền,


1
7

sống của sinh vật, gia tăng chi phí ngăn ngừa, tắc nghẽn giao thông và ô
nhiễm ở địa phương, chi phí tạo ra các khu vực bảo tồn trên lãnh thổ của khu
nghỉ dưỡng, chi phí thực hiện các dự án cải thiện, chi phí thực hiện việc bảo
tồn, lịch sử và văn hóa.
Tóm lại, với những gì du lịch làm được cho kinh tế văn hóa xã hội sẽ là
nền tảng để du lịch ngày càng phát triển hơn. Tuy nhiên, nó cũng có ảnh
hưởng không nhỏ tới môi trường, vì yậy, việc khai thác và bảo yệ môi trường


1
8

phải luôn luôn gắn liền với nhau. Hai vấn đề này tác động qua lại lẫn nhau và
đều nhằm mục đích làm giàu đẹp cho đất nước.
1.2.

Khái quát về lễ hội

1.2.1.

Khái niệm lễ hội

1.2.1.1.

Khải niệm "lễ”

“Lễ” theo từ điển tiếng Việt là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu
hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó. Trong thực tế ‘7e” có
nhiều ý nghĩa và một lịch sử hình thành khá phức tạp. Chữ “/e” được hình
thảnh và biết tới từ thời nhà Chu (thế kỷ XII trước công nguyên). Lúc đầu chữ

với “Âộỉ” mọi người sẽ được giải toả thăng bằng trở lại.
Như vậy, khái niệm “hội” được tập trung lại như sau: “Hội” là sinh hoạt
văn hoá tôn giáo nghệ thuật của cộng đồng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, sự
tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân hạnh phúc
cho từng dòng họ, từng gia đình. Sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu
của những mùa màng mà bao đời nay đã quy tụ vào niềm mơ ước chung với 4
chữ “Nhân - Khang - Vật - Thịnh”.
1.2.1.3.

Mối quan hệ giữa "lễ” và “hội”

Qua các lễ hội truyền thống Việt Nam ta có thể rút ra được mối quan hệ
khăng khít giữa lễ và hội. Trong thưc tế, giữa lễ và hội có mối quan hệ khó
tách rời, chúng luôn hoà quyện với nhau. Neu chỉ có hội mà không có lễ thì
mất vẻ cung kính trang nghiêm và ngược lại nếu chỉ có lễ mà không có hội thì
không còn vui nữa. Vì vậy, mối quan hệ giữa lễ và hội là không thể tách rời,
chúng ho à quyện đan xen vào nhau.
Trên cơ sở ấy chúng ta nhận thấy rằng người nông dân Viêt Nam đã sáng
tạo lễ hội như cuộc sống thứ hai của mình, đó là cuộc sống hội hè đình đám
sống động đậm màu sắc dân gian. Phần cuộc sống đó thuộc về những ước mơ,
những khát vọng hướng tới cái Chân - Thiện - Mỹ. Ở đó cái đẹp của cuộc
sống thực được bộc lộ hết mình trong sự hoà họp giữa con người với tự nhiên,
sự ngưỡng mộ, tri âm với các lực lượng thần thánh siêu nhiên đã có công xây
dựng và bảo vệ làng bản. Vỉ thế lễ hội mang tính nhân văn sâu sắc đem lại
niềm hy vọng cho con người, mà con người thì không bao giờ lại không cần
thiết tin và hy vọng.


2
0

cứu. Thường người ta chia lễ hội làm 5 loại: Lễ hội nông nghiệp, lễ hội phồn
thực giao duyên, lễ hội văn nghệ, lễ hội thi tài, lễ hội lịch sử.
Theo tác giả Hoàng Lương trong cuốn “Lễ hội truyền thống của các dân
tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam” đã phân lễ hội ra làm 2 loại chính: Lễ hội


2
1

liên quan đến tín ngưỡng cầu mùa; lễ hội tưởng nhớ người có công với dân
tộc.
Lễ hội liên quan đến tín ngưỡng cầu mùa: Đây là loại lễ hội phổ biến
nhất ở các dân tộc. Nội dung lễ hội được thể hiện một cách sinh động ở các
nghi thức: Lễ thức liên quan đến chu trình sản xuất nông nghiệp; lễ thức cầu
đảo; lễ rước thờ cúng hồn lúa;... Những lễ hội trên đều mang tính chất tín
ngưỡng cầu mùa mong sao mùa màng “'phong đăng hoà cốc”, người an vật
thịnh, ngành nghề phát triển.
Lễ hội liên quan đển việc tưởng niệm công lao các vị danh nhân văn ho
ả, anh hùng dân tộc, các vị thành hoàng và các chư vị thảnh phật. Loại lễ hội
này đều thờ cúng di tích liên quan đến các vị nhiên thần và nhân thần đã có
công khai sơn phá thạch, xây dựng gìn giữ bảo vệ làng xóm và các chư vị
thần phật có công khai minh, khai mang đền chùa giúp dân diệt ác trừ tà, bảo
vệ cái thiện.
1.2.2.2.

Căn cứ vào thời gian hình thành và phát triển của lễ hội

Hiện nay, mỗi khi nhắc đến lễ hội ở nước ta mọi người đều nghĩ ngay
đến các lễ hội truyền thống đã có từ xa xưa. Tuy nhiên, khi phân loại lễ hội
theo thời gian hình thành và phát triển của xã hội người Việt thì người ta chia

1.2.3.1.

Chức năng của lễ hội

Trong các nền vãn hóa ở các không gian và thời gian khác nhau, luôn có
một biểu thị chung, mang tính nhân loại: Lễ hội truyền thống. Sinh thành
trong các lễ hội cổ truyền, các lễ hội truyền thống trải qua nhiều biến thiên
lịch sử và vẫn tồn tại bền vững trong các xã hội hiện đại. Tính bền vững ấy
của lễ hội được lí giải bằng nhiều lí lẽ khác nhau, trong đó các lí giải theo
quan điểm chức năng luận dường như có sức thuyết phục hơn cả.
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã tập trung vào hướng phân
tích này, tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất cao về số lượng cũng như tính
chất của chức năng lễ hội cổ truyền, về số lượng, nhiều nhà nghiên cứu cho
rằng, lễ hội cổ truyền có hai chức năng, có người chia thành ba chức năng, về
tính chất, các ý kiến cũng còn rất khác nhau. Một cách tổng quan, có thể liệt
kê những ý kiến khác nhau ấy về chức năng của lễ hội truyền thống thành
những chức năng sau: Củng cố những mối liên hệ giữa các nhóm, khẳng định
tinh thần cộng đồng; khẳng định trình độ văn hóa của một cộng đồng và giao
lưu văn hóa trên quy mô xã hội; phản ánh và bảo lưu truyền thống; tuyên


2
3

truyền giáo dục; hưởng thụ và giải trí; đáp ứng nhu cầu về đời sống tinh thần;
nhận thức xã hội; chức năng tâm linh; nhận thức cộng cảm.
Tóm lại, lễ hội là phương thức toàn diện để đối tượng hóa, hiện thực hóa
hệ giá trị cộng đồng thông qua sự thực hành những nghi thức trong lễ và
những khuôn mẫu ứng xử ngoài lễ như những cuộc ăn uống vui chơi. Cuộc
sống luôn có những biến động thay đổi, lễ hội cũng yậy luôn biến đổi để thích

sống tốt đẹp hơn. Là nơi thể hiện năng khiếu thẩm mĩ của cộng đồng, tất cả
phải được chuẩn bị hết sức chu đáo. Đồng thời cũng khuyến khích tài năng
lao động và vui chơi, đề cao cái cao cả, cái bi, cái hài của cuộc sống.
Như vậy, chúng ta thấy rằng vai trò của lễ hội rất quan trọng, không chỉ
trong đời sống hàng ngày, thể hiện ý nghĩa văn hoá mà nó còn là một trong
những khuôn mẫu chuẩn mực để con người noi theo. Muốn cho lễ hội nước ta
mãi giữ được bản sắc chúng ta cần khắc phục một số mặt tiêu cực như thương
mại hoá các hoạt động mê tín dị đoan, tệ nạn đánh bạc tập quán lạc hậu,...
1.2.3.3.
*

Tác động của lễ hội

Đổi với kỉnh tế.

Ngày nay khi xã hội phát triển, đời sống con người được nâng cao thì du
lịch ừở thành quan ừọng nhất ừong ngoại thương nền kinh tế mở cửa và là
một hiện tượng kinh tế phổ biến. Đối với một số quốc gia, du lịch là nguồn
thu ngoại tệ quan trọng ừong ngoại thương. Tại nhiều quốc gia trên thế giới,
du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn hàng đầu. Đặc biệt du lich lễ hội
làm cho nền kinh tế tăng trưởng khá cao, tạo sự thu hút cho khách đi du lịch.
Lễ hội cũng góp phần làm cho cuộc sống của người dân được cải thiện.
Vào mùa hội những mặt hàng dịch vụ được tăng lên cao tạo điều kiện cho
người dân xo á đói giảm nghèo, không những vậy, lễ hội còn tác động đến du
lịch. Lễ hội là loại kinh tế mở, nó vừa giới thiệu quảng bá được những chương
trình du lịch hấp dẫn với du khách, tạo sự giao lưu đan xen giữa các vùng
miền góp phàn làm cho kinh tế phát triển hơn nữa làm giàu cho kho tàng văn
hoá, bản sắc dân tộc, tăng doanh thu cho các công ty du lịch. Lễ hội thay đổi
diện mạo của các điểm du lịch, xóa đi sự nhàm chán đơn điệu của các điểm du
lịch. Hoạt động này còn là nơi trưng bày và trình diễn các sản phẩm truyền

Lễ hội là một công cụ văn hoá đa năng để giới thiệu những cái hay cái
đẹp của đất nước con người trong thời đại mới. Lễ hội ảnh hưởng lớn đến văn
hoá vì khi đến lễ hội con người sẽ sống hòa đồng hơn, vui yẻ hơn, nói năng
lịch sự hơn.
Trong lễ hội, người ta thường khai thác giá trị truyền thống, văn hóa ẩm
thực, thủ công mĩ nghệ nên các văn hoá của lễ hội góp phàn làm cho lễ hội
phong phú hơn, hấp dẫn hơn. Đặc biệt, khi tham gia lễ hội du khách có dịp
tham gia các trò chơi dân gian, họ gặp gỡ giao lưu các nền văn hoá với nhau.
Thông qua nghi thức cúng tế, dâng hương, rước kiệu, du khách có thể hiểu
được nét vãn hoá đặc sắc góp phần làm giàu vốn tri thức của họ.
1.3.

Mối quan hệ giữa lễ hội và du lịch



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status