Quản lý hoạt động dạy học tiếng nhật ở các trường THCS quận ba đình thành phố hà nội theo hướng xã hội hoá giáo dục - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
---------------

TRẦN THỊ QUỲNH HƯƠNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG NHẬT
Ở CÁC TRƯỜNG THCS QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI THEO HƯỚNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã ngành:6014.01.14

Người hướng dẫn: PGS.TS Dương Thị Hoàng Yến

Hà Nội, tháng 06/2017

0


DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
DÙNG TRONG LUẬN VĂN
1.

BGH

Ban Giám hiệu

2.


CSVC

Cơ sở vật chất

8.

GD - ĐT

Giáo dục - Đào tạo

9.

CMHS

Cha mẹ học sinh

10. THCS

Trung học cơ sở

11. THPT

Trung học phổ thông

1


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nước ta đang bước vào quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa và chịu

một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung
cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong
giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa;
biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.”. Như vậy, việc dạy- học ngoại ngữ nói
chung, tiếng Nhật nói riêng đã và đang được triển khai rộng rãi. Điều đó, đòi hỏi
việc quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật phải được đặt ra để đạt hiệu quả.
Hiện nay, trong xã hội, giao lưu quốc tế đang ngày càng mở rộng trên mọi
lĩnh vực, rất nhiều học sinh Việt Nam và gia đình có xu hướng cho con đi du học
nước ngoài để có cơ hội mở mang nhận thức và tìm kiếm việc làm tốt thì việc học
ngoại ngữ càng được quan tâm. Nếu trước đây, môn ngoại ngữ trong các nhà
trường là một môn phụ, ít được chú trọng thì nay vai trò của nó đã có sự thay đổi.
Ngoài tiếng Anh được coi là ngôn ngữ rất được phổ biến và đang rất được chú
trọng thì tiếng Nhật cũng đang được các nhà trường chú ý. Để triển khai việc dạyhoc tiếng Nhật trong nhà trường thì rất cần các nguồn lực hỗ trợ vì tiếng Nhật hiện
tại đang được triển khai ở một số trường chứ không rộng rãi như tiếng Anh.
Vấn đề quản lý dạy học tiếng Nhật đang được đặt ra với nhiều nội dung,
trong đó có vấn đề xã hội hóa rất cần thiết. Tuy nhiên, trong thực tế, do một số
nguyên nhân như tiếng Nhật chưa phổ biến, tiếng Anh đang được quan tâm
hơn…nên hiện nay, tại quận Ba Đình chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề
này. Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, đề tài “Quản lý hoạt động
dạy học tiếng Nhật ở các trường THCS quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo
hướng xã hội hóa giáo dục” được đặt ra và nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng
Nhật theo hướng xã hội hóa giáo dục ở trường THCS quận Ba Đình, thành phố Hà
Nội, đề xuất biện pháp quản lý nhằm góp phần nâng cao kết quả dạy học tiếng
Nhật theo hướng xã hội hóa của các trường THCS quận Ba Đình, thành phố Hà
Nội.
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3

6.3. Giới hạn về đối tượng khảo sát:

4


- CBQL: 04 hiệu trưởng, 04 hiệu phó phụ trách chuyên môn, 4 tổ trưởng
chuyên môn tổ Ngoại ngữ, 02 chuyên viên phòng GD&ĐT Ba Đình
- GV dạy tiếng Nhật: 08/08 giáo viên tiếng Nhật.
- Học sinh các lớp học tiếng Nhật: 420 học sinh ở 9 lớp học tiếng Nhật khối
6,7,8 của 04 trường ( Thăng Long: 03 lớp, Thành Công: 02 lớp, Nguyễn Công Trứ:
02 lớp, Nguyễn Tri Phương: 1 lớp)
6.4. Giới hạn về thời gian: Thời gian lấy số liệu: Từ năm học 2014- 2015 đến năm
học 2016-2017.
7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích-Tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, cụ thể hóa các các tài liệu
lý luận quản lý dạy học ngoại ngữ tại trường THCS, và các văn kiện, Nghị quyết
của Đảng, các văn bản quy định của nhà nước và của ngành giáo dục và đào tạo.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: dành cho cán bộ quản lý (hiệu
trưởng, hiệu phó, giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh).
- Phương pháp phỏng vấn: với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, các giáo viên
dạy giỏi, học sinh và cha mẹ học sinh và đại diện các tổ chức tham gia dạy và học
tiếng Nhật tại Hà Nội.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm.
7.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.
8. Cấu trúc của luận văn

sinh, trong đó sự hỗ trợ của giáo viên và của học sinh trùng nhau tạo nên sự cộng
hưởng của chính quá trình dạy học đó”[16, tr 137,138]. Điều đó cũng đặt ra vấn đề
phải quản lý hoạt động dạy học. Có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt
động dạy học hoặc liên quan đến quản lý hoạt động dạy học.
Một số công trình nghiên cứu như: Hoạt động dạy học ở trường THCS,
2000- Nguyễn Ngọc bảo, Hà Thị Đức; Lý luận dạy học ở trường THCS,2005Nguyễn Ngọc Bảo, Trần Kiểm; Một số vấn đề về quản lý giáo dục và khoa học
giáo dục,1986- Phạm Minh Hạc; Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân
lực theo ISO & TQM, 2004- Đặng Quốc Bảo; Giáo dục Việt Nam- Đổi mới và phát
triển hiện đại hóa, 2007- Vũ Ngọc Hải, Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức; Đại
cương khoa học quản lý, 2010- Trần Khánh Đức; Những vấn đề cơ bản về lý luận
quản lý giáo dục, 1989- Nguyễn Ngọc quang; Biện pháp quản lý hoạt động dạy
học của Hiệu trưởng các trường THCS thực hiện chương trình SGK mới tại huyện
Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục- Nguyễn Kim
Phụng; Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường THPT huyện
Ứng Hòa tỉnh Hà Tây, Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục- Vũ Trí Thức, trường

7


ĐHP Hà Nội; “ Quản lý dạy học theo hướng đảm bảo chất lượng tại trường Tiểu
học tỉnh Vĩnh Long”, luận án Tiến sĩ Giáo dục- Phạm Huy Tư…
Hầu hết các công trình nghiên cứu này đều hướng tới việc nêu ra đặc điểm,
cách quản lý hoạt động dạy học có hiệu quả nhất từ các góc độ khác nhau hoặc
ứng dụng cụ thể trong một phạm vi tác giả nghiên cứu.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về quản lý xã hội hóa giáo dục
Mỗi quốc gia muốn phát triển giáo dục đều cần có sự vào cuộc của
các lực lượng xã hội. Vì thế, xã hội hóa giáo dục là vấn đề đã được nhiều người
nghiên cứu, đề cập. Có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học bàn về
XHHGD như: Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật, Lê Quốc Hùng-2004,
Xã hội hóa giáo dục và vai trò của nhà nước- GS, TS Nguyễn Vân Nam; Xã hội

phủ phê duyệt “ Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020” đều xác định rõ “Vai
trò chủ đạo, mang tính toàn diện, thống nhất của nhà nước nhằm thu hút mọi tiềm
năng để phát triển giáo dục. XHHGD có thể coi là một chiến lược của Đảng và
Nhà nước ta, bởi nó mang giá trị chỉ đạo quá trình phát triển giáo dục một cách
lâu dài và căn bản nhằm đạt được mục tiêu giáo dục” [ 14, tr 14]. Các công trình
nghiên cứu chủ yếu theo các hướng: vai trò của quản lý XHHGD; nội dung của
quản lý XHHGD; giải pháp quản lý XHHGD tuy nhiên đều trên tầm vĩ mô và đều
nhấn mạnh đến việc thu hút mọi người dân và toàn xã hội tham gia cũng giáo dục,
xác định rõ vai trò của nhân dân, nhà nước, xã hội trong việc tập hợp nguồn sức
mạnh vật chất và tinh thần cho giáo dục.
Trong luận văn nghiên cứu về XHHGD “ Quản lý thực hiện xã hội hóa giáo
dục ở các trường trung học phổ thông công lập huyện Đức Thọ, tỉnh Lâm Đồng
của Võ Hùng Phi lại chỉ ra việc nghiên cứu vấn đề thực hiện XHHGD ở nước
ngoài như Nhật bản, Hàn Quốc, Hoa Kì và ở Việt Nam qua các thời kì: phong kiến
và Pháp thuộc, trong và sau kháng chiến, thời kì đổi mới…
Nhìn chung, nghiên cứu về XHHGD thì nhiều nhưng XHHGD trong dạy
học tiếng Nhật thì chưa có đề tài nào nghiên cứu.
1.1.3. Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ và
quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật ở trường THCS theo hướng xã hội hóa
giáo dục:

9


Giáo dục phải hướng đến đào tạo những công dân toàn cầu, có trình độ
ngôn ngữ để tiếp nhận kiến thức mới. Vì thế, việc dạy học ngoại ngữ luôn được
các quốc gia rất chú ý, Việt Nam cũng vậy.
Để đảm bảo mục tiêu hội nhập quốc tế theo xu hướng toàn cầu hóa, từ bậc
Tiểu học, vấn đề dạy- học ngoại ngữ đã được Bộ Giáo dục dề cập đến rất nhiều
trong quá tình đổi mới chương trình, sách giáo khoa, hợp tác giáo dục…Nhiều văn

Sau khi đề án dạy tiếng Nhật được triển khai tại một số thành phố, đa số phụ
huynh có nhu cầu cho con theo học tiếng Nhật đều rất phấn khởi nhưng điều băn
khoăn của họ là kinh phí cho việc dạy học tiếng Nhật phụ thuộc phần lớn vào xã
hội hóa. Điều này cũng gây khó khăn cho việc phát triển, mở rộng qui mô dạy
tiếng Nhật trong các trờng phổ thông; mặt khác, một số vấn đề khó khăn khi dạy
tiếng Nhật như giáo viên tiếng Nhật thiếu về số lượng và chưa đạt chuẩn trình độ,
thiết bị, đồ dùng dạy học tài liệu tham khảo cho việc dạy học tiếng Nhật còn nhiều
hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học. Tại các trường Sư phạm đào tạo
giáo viên ngoại ngữ chỉ tập trung vào tiếng Anh. Do đó, giáo viên tiếng Nhật dạy
cho các trường phổ thông lại không được đào tạo theo Sư phạm mà chỉ ở các
trường ngoại ngữ, là việc tại các trung tâm tiếng Nhật.
Vì thế, khi triển khai việc dạy tiếng Nhật ở trường phổ thông thì một vấn đề
đặt ra là quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật thế nào cho hiệu quả. Hiện nay, có
nhiều công trình nghiên cứu về công tác quản lý để nâng cao chất lượng dạy học
trong nhà trường phổ thông. Ngoại ngữ cũng không tách rời hệ thống các môn học
nên đa số các biện pháp quản lý dạy- học nói chung đều có thể áp dụng khi nghiên
cứu biện pháp quản lý hoạt động dạy- học ngoại ngữ nói chung và tiếng Nhật nói
riêng.
Nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ trong
nhà trường có rất nhiều đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục nhưng chỉ tập trung
chủ yếu ở môn tiếng Anh. Ví dụ: Tuyển tập các bài báo khoa học Những vấn đề cơ
bản về dạy học ngoại ngữ, 1995-2005- Nguyễn Thị Thu Phương; Các biện pháp
quản lý hoạt động dạy- học môn ngoại ngữ cho sinh viên tại Học viện hành chính
quốc gia, Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục Trương Thị Thu Thủy-2008; Biện
pháp quản lý hoạt động dạy- học môn ngoại ngữ tại học viện thanh- thiếu niên
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục Đỗ Thị Thu Hà- 2008;

11



12


1.2.1.1 Khái niệm quản lý: Quản lý đã trở thành nhân tố của sự phát triển xã
hội, một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan
đế mọi người. Quản lý phối hợp các bộ phận , các hoạt động riêng lẻ của xã hội tạo
nên hiệu quả mang cấp số nhân cho sự phát triển xã hội. Quản lý là một hoạt động
quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Quản lý đúng tức là con người
đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành
công to lớn. Nghiên cứu về quản lý sẽ giúp cho con người có được những kiến
thức cơ bản nhất, chung nhất đối với hoạt động quản lý. Quản lý là khái niệm rất
chung, dùng cho cả quá trình quản lý xã hội ( xí nghiệp, trường học, đoàn thể…).
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản lý và quản lý ở nhà trường:
Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý
đến đối tượng bị quản lý trong tổ cức để vẫn hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất
định.
Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức
và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ
động và phù hợp với qui luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý
trong tổ chức nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại, ổn
định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động.
F.W Taylor cho rằng: Quản lý là biết chính xác điều muốm người khác là,
sau đó thấy họ hòa thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.
H. Koontz thì khẳng định: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo
phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm
(tổ chức ).
Theo C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo. Một
người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có
nhạc trưởng ”.

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có
mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận
hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất
của nhà trường XHCN Việt Nam, mà điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục
thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên một trạng thái mới về chất”
14


Trong quản lý giáo dục các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, quản lý sự
nghiệp chuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau không tách biệt, tạo thành
hoạt động quản lý thống nhất.
Từ những khái niệm nêu trên, phạm vi nghiên cứu này xác định: Quản lý
giáo dục là quá trình vận dụng nguyên lý, khái niệm, phương pháp chung nhất của
khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục. Quản lý giáo dục là sự tác động có chủ
đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong lĩnh vực giáo dục nhằm đạt
mục tiêu xác định.
1.2.2. Khái niệm hoạt động dạy học
1.2.2.1. Khái niệm hoạt động dạy học
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này, tác giả Hà Thế Ngữ đã
quan niệm: "Hoạt động dạy học là một quá trình hoạt động thống nhất giữa giáo
viên và học sinh, trong đó dưới tác động chủ đạo (tổ chức, điều khiển) của giáo
viên, học sinh tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học nhằm thực
hiện tốt các nhiệm vụ dạy dạy học đã đặt ra" [18, tr11].
Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng “ Nói đến dạy học là nói đến hoạt động
dạy và học của thầy và trò trong nhà trường, với mục tiêu là giúp học sinh nắm
vững hệ thống kiến thức khoa học, hình thành hệ thống kĩ năng, kỹ xảo và thái độ
tích cự đối với học tập và cuộc sống.” [20, tr 10]
Nhìn chung các quan niệm đều thống nhất: Hoạt động dạy học là quá trình
truyền thụ, lĩnh hội những kỹ năng, kỹ xảo và phương pháp nhận thức của con
người. Dạy học là quá trình hoạt động hai mặt do thầy giáo (dạy) và người học

vững tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt
năng lực tư duy sáng tạo, hình thành cơ sở thế giới quan khoa học và những phẩm
chất tốt đẹp của con người mới.
1.2.2.3. Khái niệm hoạt động học
“Hoạt động học của học sinh là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ
chức , tự điều khiển hoạt động nhận thức- học tập của mình nhằm thu nhận, xử lý
và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó, người học thể
hiện mình, tự biến đổi mình, tự làm phong phú những giá trị của mình.” [16-tr135]
Học là hoạt động do được sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển nên nó là hoạt
động nhận thức đặc biệt. Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não
người. Đó là sự phản ánh tâm lý của con người bắt đầu từ cảm giác. Sự học tập của
16


học sinh cũng là quá trình phản ánh như vậy. Sự phản ánh đó là sự phản ánh đi
trước, có tính chất cải tạo mà mức độ cao nhất của tính chất cải tạo đó là sự sáng
tạo. Sự phản ánh đó có tính tích cực thể hiện ở chỗ nó được thực hiện trong tiến
trình phân tích – tổng hợp của não người và có tính lựa chọn. Trong vô số những
sự vật và quá trình của hiện thực khách quan, chủ thể tích cực lự chọn những cái
trở thành đối tượng phản ánh của họ. Vì vậy, với tư cách là chủ thể có ý thức, học
sinh có khả năng phản ánh khách quan về nội dung và chủ quan về hình thức,
nghĩa là về nội dung học sinh có khả năng phản ánh đúng bản chất và những quy
luật của thế giới khách quan, còn về hình thức, mỗi học sinh có phương pháp phản
ánh riêng của mình.Quá trình học tập của học sinh cũng diễn ra theo công thức nổi
tiếng của V.I.Lênin: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy
trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý,
nhận thức hiện thực khách quan”. (Bút ký Triết học – NXB Sự thật, Hà Nội 1963.
Tr 189).
Hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học được sự lãnh đạo,
tổ chức, điều khiển của giáo viên với những điều kiện sư phạm nhất định nên nó có

thức-học tập của học sinh học tiếng Nhật, giúp học sinh tìm tòi, khám phá tri thức
về tiếng Nhật, qua đó thực hiện có hiệu quả việc học của bản thân về môn học
tiếng Nhật. Người giáo viên tiếng Nhật phải suy nghĩ để giúp học sinh tiếp nhận,
sử dụng những kiến thức từ đơn giản nhất về tiếng Nhật và kết hợp với những kinh
nghiệm đã có của mình thu thập được qua các phương tiện thông tin đại chúng,
qua cuộc sống để tạo nên sự hiểu biết của mình về tiếng Nhật cung cấp cho học
sinh.
Hoạt động học của người học tiếng Nhật: Hoạt động học tiếng Nhật của học
sinh là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động
nhận thức- học tập của mình về tiếng Nhật nhằm thu nhận, xử lý và biến đổi thông
tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó, người học thể hiện mình, tự biến
đổi mình, tự làm phong phú những giá trị của mình về một môn ngoại ngữ mới là
tiếng Nhật. Qua việc học tiếng Nhật, học sinh không chỉ hiểu biết về ngôn ngữ mà
còn hiểu thêm về đất nước, con người Nhật Bản. Từ đó biết học hỏi nghị lực, cách
sống của một dân tộc, hiểu hơn những kiến thức đã biết về tiếng Nhật qua các
phương tiện thông tin đại chúng mà học sinh đã tiếp cận. Hoạt động học không chỉ
học ở thầy cô trên lớp mà còn là học ở nhiều nguồn thông tin khác.
18


1.2.4. Quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật theo hướng XHHGD
1.2.4.1. Quản lý hoạt động dạy học- Quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật
Quản lý HĐDH chính là các biện pháp tác động của chủ thể quản lý đến tập thể
giáo viên, học sinh, … nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vốn có,
tạo động lực đẩy mạnh quá trình dạy học của nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu
giáo dục của nhà trường theo yêu cầu trong năm học.
Quản lý hoạt động dạy học chính là sự tác động lên đội ngũ giáo viên, học
sinh qua việc thực thi các chức năng quản lý kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra,
điều chỉnh nhằm thực hiện mục tốt nhất mục tiêu giáo dục. Trong đó, người thầy
đóng vai trò hướng dẫn, dẫn dắt học sinh đi tìm chân lý. Người học chủ động tiếp

Theo tác giả Lê Quốc Hùng trong “Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp
luật” thì “ Xã hội hóa giáo dục là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân
dân, của các tổ chức kinh tế- xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, đầu tư vào
hoạt động giáo dục trên cơ sở phù hợp với khả năng tài chính và trình độ chuyên
môn nhằm xây dựng xã hội học tập.” [5- Tr 17].
Xã hội hóa giáo dục được hiểu trên phương diện rộng là toàn thể nhân dân,
toàn thể xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục. Xã hội hóa giáo dục là làm cho
hoạt động giáo dục trở thành hoạt động chung của toàn xã hội. Trong điều 1 Nghị
định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ định nghĩa như sau: “ Xã
hội hóa hoạt động giáo dục là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân
dân, của toàn xã hội vào sự phát triển sự nghiệp giáo dục nhằm từng bước nâng
cao mức hưởng thụ về vật chất và tinh thần của nhân dân.”
Tuy nhiên, không nên hiểu xã hội hóa giáo dục một cách đơn giản dưới góc độ
huy động nguồn vốn đầu tư mà phải mở rộng ra nhiều góc độ, phạm vi khác nhau.
Trước hết, là dưới góc độ của người đi học. Xã hội hóa giáo dục ở đây có nghĩa
tạo điều kiện để làm sao cho người đi học được tham gia vào việc quản lý của
trường cũng như xây dựng chương trình học tập, giảng dạy.
Xã hội hóa giáo dục nhìn từ phía thầy giáo, nhà trường chính là nhằm mục tiêu
đảm bảo quyền tự do giảng dạy của họ hơn nữa.
Dưới góc độ phụ huynh, xã hội hóa giáo dục là nhằm đảm bảo cho họ quyền tự
do lựa chọn nơi học tập cho con em của họ.
Như vậy, xã hội hoá giáo dục không chỉ bó hẹp trong việc huy động nguồn vốn
đầu tư mà còn ở nhiều góc độ và phạm vi khác nhau, như: Tạo điều kiện cho người
20


đi học được tham gia vào quản lý của nhà trường cũng như chương trình học tập
và giảng dạy. Bằng hình thức đó là sự tham gia của các hội đồng đại diện cho học
sinh; họ kết hợp với nhà trường, giảng viên trong việc xét chọn, đánh giá, góp ý về
chương trình và phương pháp giảng dạy… Đối với giảng viên, xã hội hoá giáo dục

nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lưc trong xã hội
(kể cả nước ngoài), phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này.”[31]
Xã hội hóa giáo dục gồm 2 thành phần chính:
+ Xây dựng một xã hội học tập trong đó mọi người học tập thường xuyên, học tập
suốt đời để là việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và có cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho
xã hội ta trở thành xã hội học tập.
+ Vận động toàn xã hội tham gia đóng góp cho giáo dục, tạo môi trường giáo dục
tốt lành, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục gia đình
và ngoài xã hội, tăng cường trách nhiệm của các cấp đối với sự nghiệp giáo dục.
Về xây dựng một xã hội học tập, nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này. Trong
giai đoạn hiện nay, khi sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông dang
rất mạnh mẽ, cong người phải có năng lực nhận thức, xử lý và chọn lựa những
thông tin có ích và từ đó biết vận dụng sáng tạo nó. Như vậy, giáo dục của xã hội
phải xây dựng cho con người năng lực đón nhận, xử lý, sản xuất , truyền bá, sử
dụng những thông tin để xã hội có những tri thức mới. Nền giáo dục phải hướng
vào đào tạo con người năng động, sáng tạo. Muốn vậy, bản thân họ phải học tập
suốt đời và mỗi quốc gia phải xây dựng một xã hội học tập. Theo Phạm Tất Dong,
trong “ Xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam”, khái niệm “xã hội học tập”
được tiếp cận bằng nhiều phương pháp khác nhau. Trong đó, theo tiếp cận lịch sửxã hội thì “ Thực chất bên trong của mô hình xã hội học tập là xây dựng và phát
triển một phong trào học tập rộng rãi trong nhân dân” [4, tr45] và “Xét trên bình
diện toàn cầu, xã hội học tập là sản phẩm tất yếu của kinh tế tri thức” [4, tr47].
Xây dựng xã hội học tập để mọi người trong xã hội được học tập suốt đời.
1.2.4.3. Nội dung của XHHGD trong hoạt động dạy học:
Theo công trình nghiên cứu trong “Xã hội hóa giáo dục” của Viện Khoa học
giáo dục [8]: các quốc gia đều có nét chung là sự cần thiết có sự tham gia của toàn
xã hội vào phát triển giáo dục để mọi người được hưởng thụ cơ hội giáo dục và
tham gia dưới nhiều hình thức đóng góp cho sự phát triển giáo dục.

22



23


Lực lượng xã hội đầu tiên tham gia vào hoạt động dạy học ở nhà trường là
gia đình. Gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng với lứa tuổi học sinh phổ thông,
gia đình là trường học đầu tiên và cha mẹ là thầy giáo đầu tiên. Gia đình sẽ quyết
định cho con học ở đâu, theo mô hình giáo dục nào. Trong hoạt động dạy học ở
nhà trường đều cần có sự hỗ trợ của gia đình để tạo điều kiện về vật chất, tinh thần
cho hoạt động dạy học trong nhà trường tiến hành.
Gia đình không chỉ ủng hộ về vật chất và tinh thần mà còn giúp hoạt động
dạy học đạt hiệu quả bằng việc kiểm tra, đôn đốc việc học của con em. Hoạt động
dạy học của nhà trường muốn phong phú, các hoạt động trải nghiệm của học sinh
chỉ có được khi được gia đình đồng thuận, ủng hộ, hỗ trợ.
Gia đình còn có thể tham gia vào góp ý chương trình, kế hoạch dạy học qua
các ý kiến, kiến nghị cho phù hợp thực tế học sinh ở từng môi trường cụ thể. Nhà
trường tiếp nhận các đóng góp đó để điều chỉnh kế hoạch hoạt động cho phù hợp
nếu thấy hợp lý. Học sinh, ngoài giờ học ở trường thì thông thường sẽ có nhiều
thời gian nhất ở gia đình, do đó giáo dục gia đình góp phần không nhỏ trong việc
giáo dục đạo đức và trí tuệ cho học sinh. Mọi hoạt động của nhà trường đều có sự
tham gia của cha mẹ học sinh qua Ban đại diện cha mẹ học sinh lớp, trường. Thực
tế cho thấy, trường nào làm tốt công tác cha mẹ học sinh thì các phong trào của
trường đều được ủng hộ, đạt hiệu quả cao.
Gia đình tham gia cùng nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục, thực
hiện chương trình ngoại khóa, chương trình giáo dục dịp hè, giáo dục trên địa bàn
dan cư thông qua các hoạt động như tham quan dã ngoại, lễ hội, phong trào từ
thiện tình nguyện, tổ chức vui chơi, thể dục thể thao…Những hoạt động này sẽ
không thực hiện được nếu không có sự ủng hộ của gia đình. Hàng năm, hoạt động
dạy học ở nhà trường không chỉ có sự cung cấp từ nguồn kinh phí giáo dục do nhà
nước và một phần lớn còn nhờ vào sự đóng góp của gia đình học sinh, nhất là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status