ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––––
HOÀNG THỊ HƯƠNG LY
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ HỮU ẢNH
THÁI NGUYÊN - 2017
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa được dùng để bảo
vệ một học vị nào khác. Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm
ơn. Các thông tin, trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc./.
Thái Nguyên, ngày
tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG....................................................................................... vii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ...............................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..........................................................................2
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu .................................................................3
5. Kết cấu của luận văn ...............................................................................................3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ ........................4
1.1. Cơ sở lý luận về chất lượng cán bộ công chức cấp xã .........................................4
1.1.1. Khái quát chung về cán bộ công chức cấp xã ...................................................4
1.1.2. Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã .............................................................12
1.2. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................................24
1.2.1. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã ở một số
nước trên thế giới ......................................................................................................24
1.2.2. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở một số
địa phương ở Việt Nam ............................................................................................30
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................................37
2.1. Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................................37
2.2. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................37
2.2.1. Thu thập số liệu và phương pháp xử lý số liệu ..............................................37
2.2.2. Phương pháp xử lý số liệu ..............................................................................38
2.2.3. Phương pháp phân tích ...................................................................................38
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu về chất lượng cán bộ, công chức cấp xã .............38
HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN .................................................................................72
4.1. Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ công chức
cấp xã tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên ...........................................................72
v
4.1.1. Quan điểm về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã,
thị trấn .......................................................................................................................72
4.1.2. Định hướng xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
cấp xã, thị trấn ...........................................................................................................73
4.2. Những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp
xã, thị trấn của huyện giai đoạn hiện nay .................................................................74
4.2.1. Chuẩn hóa các chức danh và xác định cơ cấu của đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã ...............................................................................................................74
4.2.2. Xác định cơ cấu của đội ngũ CBCC cấp xã ...................................................77
4.2.3. Tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện hệ thống chế độ, chính sách
đối với cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn ................................................................77
4.2.4. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cán bộ công chức cấp xã, thị trấn .......79
4.3. Kiến nghị ............................................................................................................84
4.3.1. Đối với Trung ương ........................................................................................84
4.3.2. Đối với địa phương .........................................................................................84
KẾT LUẬN ..............................................................................................................86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................88
PHIẾU ĐIỀU TRA ..................................................................................................90
vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ATK
QLNN
: Quản lý nhà nước
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
UBND
: Ủy ban nhân dân
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số lượng CBCC cấp xã của huyện ...........................................................45
Bảng 3.2: Phẩm chất đạo đức của đội ngũ CBCC cấp xã của huyện năm 2015 .......46
Bảng 3.3: Chất lượng CBCC cấp xã huyện Định Hóa ..............................................48
Bảng 3.4: Phẩm chất chính trị của đội ngũ CBCC cấp xã năm 2015 .......................50
Bảng 3.5: Phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức cấp xã năm 2015 ...................51
Bảng 3.6: Năng lực của đội ngũ CBCC cấp xã năm 2015 ........................................53
Bảng 3.7: Đánh giá của người dân về khả năng làm việc của đội ngũ CBCC cấp
xã theo độ tuổi người dân năm 2015 ......................................................54
Bảng 3.8: Đánh giá của người dân về khả năng làm việc của đội ngũ CBCC cấp
xã theo trình độ người dân năm 2015 .....................................................55
dù còn nhiều điều kiện khó khăn, nhưng toàn thể cán bộ và nhân dân trong huyện
cùng nhau đồng lòng, đồng sức quyết tâm xây dựng huyện vững mạnh về mọi mặt.
Cho đến nay đời sống của nhân dân trong huyện đã được nâng cao rõ rệt, tạo thêm
lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đạt được những
thành tựu như vậy chính là do các cấp chính quyền huyện đã coi trọng công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ công chức cấp xã nói riêng.
Tuy nhiên trên thực tế vẫn tồn tại nhiều bất cập, đó là đứng trước yêu cầu
nhiệm vụ mới đội ngũ cán bộ công chức (CBCC) cấp xã còn bộc lộ nhiều yếu kém
về phẩm chất, năng lực còn thấp. Do vậy, việc xem xét, đánh giá một cách khách
quan, toàn diện thực trạng đội ngũ CBCC cấp xã và đưa ra một hệ thống giải pháp
có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã của huyện Định
2
hóa tỉnh Thái Nguyên có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực để thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu cấp bách.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất
lượng cán bộ công chức cấp xã tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” làm luận văn
thạc sĩ, nhằm đưa ra một số giải pháp góp phần giải quyết những yêu cầu nêu trên.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã ở huyện
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian vừa qua, từ đó đề xuất một số giải pháp
nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã ở huyện trong giai đoạn tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về cán bộ công chức và
nâng cao chất lượng cán bộ cán bộ công chức ở cấp xã, phường, thị trấn.
- Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, thị trấn
huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã, thị
nghiên cứu cũng như các xã, thị trấn khác trong huyện.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về cán bộ công chức cấp xã và nâng cao chất lượng
cán bộ công chức cấp xã.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng chất lượng cán bộ công chức cấp xã tại huyện Định
Hóa tỉnh Thái Nguyên.
Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã tại huyện
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Cơ sở lý luận về chất lượng cán bộ công chức cấp xã
1.1.1. Khái quát chung về cán bộ công chức cấp xã
1.1.1.1. Khái niệm về chính quyền cấp xã
Theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân,
chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp cuối cùng trong hệ thống hành
chính 4 cấp. Xã, phường, thị trấn được xác định là cấp cơ sở. Vì vậy, cấp xã chính
là nền tảng của hệ thống chính trị, đóng vai trò thiết thực trong việc xây dựng chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là yếu tố quyết
định sự thành công của sự nghiệp cách mạng nước ta. Chính quyền cấp xã bao gồm
HĐND và UBND, trong đó HĐND "là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa
phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước
cấp trên"1. Còn UBND do HĐND bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ
Chính quyền cấp xã có những đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền
các cấp của Nhà nước ta (Trung ương, tỉnh, huyện, xã); là cấp quản lý hành chính
Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh, quốc phòng
ở địa bàn cơ sở.
Thứ hai, chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức và thực hiện đường lối
chính trị, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong cuộc sống, là cầu nối
giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là cấp gần gũi dân nhất, là nơi trực tiếp đáp ứng
và giải quyết các yêu cầu chính đáng của nhân dân.
Thứ ba, chính quyền cấp xã gồm HĐND và UBND, mà không có cơ quan
Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước
và đại diện cho ý chí, nguyện vọng quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở. UBND là
cơ quan chấp hành, cơ quan quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn cơ sở.
Thứ tư, chính quyền cấp xã là nơi phát huy tính tự quản của cộng đồng dân
cư, là nơi trực tiếp vận động và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.
1.1.1.3. Khái niệm cán bộ công chức
Nước ta khi bước vào thời kỳ mới vừa đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH), hiện
đại hóa (HĐH), vừa xây dựng và hoàn chỉnh Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
6
vừa tiến hành xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chính vì vậy, ta
cần phải xây dựng một đội ngũ CBCC có chất lượng đồng bộ, phù hợp với những yêu
cầu mới đặt ra, đặc biệt là đội ngũ CBCC cấp xã.
Để làm được điều đó trước hết chúng ta cần phải làm rõ khái niệm về đội
ngũ CBCC.
Cán bộ, công chức (CBCC) là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công chức,
công vụ, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở nước ta,
khái niệm “cán bộ”, “công chức” có từ lâu. Nhưng chỉ đến năm 1950, sau 05 năm
giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp
tỉnh, cấp huyện;
d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc
giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
đ) Thẩm phán Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân;
e) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường
xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quan đội nhân dân mà không phải là
sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, làm việc trong các cơ quan,
đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;
g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong
thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; Người
đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn;
h) Những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn, nghiệp
vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã”.
Mặc dù tiến bộ hơn rất nhiều so với Pháp lệnh năm 1998 và sửa đổi năm
2000, Pháp lệnh Cán bộ công chức sửa đổi năm 2003 vẫn chưa phân biệt rạch ròi
giữa khái niệm “cán bộ”, “công chức”.
Tuy nhiên Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã phân biệt khá rõ ràng hai
khái niệm này. Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008. Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Khoản 1 Điều 4 quy định
về cán bộ:
“Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh, ở cấp quận, huyện, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước”.
số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị
trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; Nghị định số
112/2011/NĐ - CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về công chức xã,
phường, thị trấn.
9
- Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:
+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
+ Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
+ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
+ Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
+ Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có
hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
+ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
- Công chức cấp xã có:
+ Trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
+ Chỉ huy trưởng Quân sự;
+ Văn phòng - thống kê;
+ Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc
địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);
+ Tài chính - kế toán;
+ Tư pháp - hộ tịch;
+ Văn hóa - xã hội;
1.1.1.5. Số lượng cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã
- Số lượng cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã quy định tại khoản 1 Điều
4 Nghị định số 92/2009/NĐ- CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về
chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã,
+ Để làm được điều đó, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải tiến hành
nhiều hình thức, biện pháp khác nhau như thông qua các buổi tuyên truyền, nói
chuyện tại cuộc họp thôn, xóm, khu dân cư, tổ đoàn kết, trung tâm học tập cộng
đồng hoặc thông qua các buổi đối thoại trực tiếp với nhân dân để giải quyết các vấn
đề mới phát sinh như liên quan đến việc bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng,
quy hoạch… Đồng thời, nó còn đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải có
những hiểu biết nhất định về lý luận và am hiểu tình hình thực tế của địa phương,
cũng như nắm bắt được đặc điểm, tâm lý của từng lớp dân cư thuộc phạm vi quản lý
của mình.
2
3
Hồ Chí Minh toàn tập, 2011, Nxb CTQG, Hà Nội, tr269
Ban chấp hành Trung ương khóa 8, 1997, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3
11
- Hai là, cán bộ, công chức cấp xã là người có vai trò rất quan trọng trong
việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi khả năng phát
triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư:
+ Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được nhân dân nắm bắt,
nhận thức mới chỉ là khởi đầu, điểm xuất phát để kiểm nghiệm được tính đúng đắn
của chủ trương, đường lối đó; điều kiện đủ là phải tổ chức thực hiện trong thực tiễn;
muốn làm được điều đó không có ai khác là cán bộ, công chức cấp xã, bởi cán bộ,
công chức cấp xã là người tiếp xúc nhiều nhất, hiểu rõ nhất, giải quyết nhiều việc
nhất của nhân dân.
+ Để thực hiện tốt vị trí, vai trò này; đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã phải có khả năng tổ chức, bố trí, sử dụng, tập hợp và lôi cuốn mọi người vào hoạt
động; phải có khả năng xử lý các tình huống phát sinh, đó là các tình huống về tài
Chất lượng là một phạm trù được sử dụng khá phổ biến, là đối tượng nghiên
cứu của nhiều chuyên ngành, nhiều môn khoa học và được xem xét dưới nhiều góc
độ khác nhau, tuỳ thuộc nhu cầu tiếp cận và khai thác. Theo từ điển tiếng Việt của
Viện Ngôn ngữ học do nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2000 định nghĩa:
“Chất lượng: Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”.
Khi nói về chất lượng đội ngũ cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Cán
bộ phải có cả “Đức” và “Tài”, trong đó “Đức” là gốc. Người chỉ rõ: “Nếu có đức
mà không có tài ví như ông bụt ngồi trong chùa không giúp ích gì được cho ai” 4,
“người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng
không lãnh đạo được nhân dân”5 .
Phẩm chất và năng lực của người cán bộ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo
điều kiện cho nhau. Phẩm chất của người cán bộ là cơ sở tiền đề cho năng lực phát
triển đúng hướng. Người cán bộ có năng lực thì phẩm chất sẽ được củng cố và phát
huy, phẩm chất và năng lực của người cán bộ được biểu hiện ra ở kết quả thực hiện
chức trách được giao.
Mỗi CBCC không tồn tại một cách biệt lập mà phải được đặt trong một chỉnh
thể thống nhất của đội ngũ CBCC. Vì vậy, quan niệm về chất lượng đội ngũ CBCC
phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng của từng CBCC với
chất lượng của cả đội ngũ. Chất lượng của cả đội ngũ không phải là sự tập hợp giản
4
Hồ Chí Minh Toàn tập 2001,Nxb CTQG, Hà Nội, tr.184.
5
Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr. 252, 253
13
đơn số lượng mà là sự tổng hợp sức mạnh của toàn bộ đội ngũ. Sức mạnh này bắt nguồn
14
ngũ cán bộ, cũng như hiểu rõ những yếu tố tác động đến chất lượng của đội ngũ
CBCC cấp xã.
1.1.2.2. Đặc điểm của đội ngũ cán bộ cấp xã
- Cán bộ cấp xã phần lớn được bầu, lựa chọn trong số người dân địa phương
làm nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nên trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, vi
tính, kỹ năng làm việc rất hạn chế; số khác thì trưởng thành từ nhiều lĩnh vực khác
nhau và làm việc do kinh nghiệm là chính.
- Cán bộ cấp xã phần nhiều là người chưa có trình độ chuyên môn cao, chưa
được đào tạo một cách bài bản, chính quy về chuyên môn nghiệp vụ, tỷ lệ đạt chuẩn
còn thấp so với yêu cầu, ít được bồi dưỡng thường xuyên nên sự thuyết phục trong
giải quyết công việc chưa cao.
- Năng lực quản lý điều hành chưa ngang tầm với nhiệm vụ, nhất là nhiệm vụ
phát triển kinh tế, xã hội. Nhận thức trong đội ngũ cán bộ, công chức không đồng
đều, thiếu chủ động sáng tạo. Việc vận dụng các chủ trương, chính sách của cấp
trên vào điều kiện cụ thể của từng địa phương chưa linh hoạt, nhiều nơi còn sao
chép một cách máy móc.
- Đội ngũ cán bộ chuyên trách thường không ổn định sau mỗi nhiệm kỳ, do
các chức danh bầu cử khôn trúng cử hoặc các công chức được bầu vào các chức
danh chủ chốt, làm cho vị trí chức danh chuyên môn bị khuyết.
- Không ít cán bộ, công chức cơ sở chưa nắm vững chức năng, nhiệm vụ
thẩm quyền được giao, không nắm vững quy định của pháp luật, vì vậy quá trình
chỉ đạo điều hành, giải quyết công việc còn mang tính chủ quan, tùy tiện theo cảm
tính cá nhân, không căn cứ vào quy định của pháp luật dẫn đến vi phạm.
- Về năng lực thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn còn thấp, chưa có tính
chuyên nghiệp, phần lớn thiếu khả năng độc, quyết đoán trong giải quyết công việc,
thụ động trong thực thi các nhiệm vụ, thiếu khả năng bao quát tình hình, đồng thời
chậm thích ứng với nhiệm vụ mới.
Về phẩm chất chính trị: Phẩm chất chính trị là tiêu chuẩn được đặt lên hàng
đầu, có tính chất quyết định đến chất lượng hoạt động của CBCC. Phẩm chất chính
trị là yêu cầu cơ bản của mỗi CBCC trong các giai đoạn khác nhau. Phẩm chất
chính trị của CBCC cấp xã được biểu hiện trước hết là sự tin tưởngtuyệt đối với lý
tưởng cách mạng, chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà
nước; quyết tâm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tổ chức
thực hiện sát hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương. Phẩm chất chính trị là lòng
16
nhiệt tình cách mạng, lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng của Đảng, với chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần tận tụy với công việc, hết lòng
hết sức vì sự nghiệp của nhândân. Phẩm chất chính trị là bản lĩnh chính trị vững
vàng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và con đường đi lên CNXH.
Người CBCC cấp xã có phẩm chất chính trị tốt là người phải có tinh thần
trách nhiệm cao trong công tác, không thờ ơ, không dửng dưng trước những vấn đề
bức xúc về kinh tế - xã hội, luôn trăn trở trước những yếu kém, hạn chế của địa
phương so với sự phát triển của đất nước; quyết tâm tìm cách tháo gỡ khó khăn và
giải quyết những vấn đề bức xúc của địa phương, đưa địa phương nơi mình công tác
ngày càng phát triển.
Phẩm chất chính trị của CBCC cấp xã còn thể hiện ở ý thức tuân thủ kỷ luật
Đảng, luôn đi đầu trong chấp hành các chính sách, pháp luật của Nhà nước, kiên
quyết chống lại mọi lệch lạc, biểu hiện sai trái trong đời sống xã hội đi trái ngược
với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Về phẩm chất đạo đức: Người cán bộ muốn xác lập được uy tín của mình
trước nhân dân, trước hết đó phải là người cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt. Xây
dựng các tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ và hình thành ở họ các phẩm chất
đạo đức tương ứng với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ là việc
làm cần thiết và cấp bách, nhất là trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước hiện nay.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang có sự chuyển biến nhanh chóng và xã
hệ thống tổ chức đưa ra. Tầm nhìn là một dạng chiến lược mà hệ thống quản lý cần
hướng tới. Nó chỉ ra con đường cần đi; các giai đoạn cần vượt qua. Tầm nhìn là nơi
để huy động sức lực của mỗi cán bộ, công chức, mỗi tổ chức. Tầm nhìn cho phép
mỗi người lãnh đạo, quản lý biết được các đặc điểm của hệ thống tổ chức theo hình
dung của họ; người lãnh đạo, quản lý cần nguồn nhân lực như thế nào cho tổ chức
của mình, cần ở họ những năng lực gì? Khả năng xử trí tình huống, đó là việc người
lãnh đạo, quản lý tìm hiểu để nắm bắt được những việc đảng diễn ra trong lĩnh vực
công tác, hoạt động của mình, cũng như ngay chính trong hệ thống quản lý hành
chính của mình. Khả năng hành động đó là việc người lãnh đạo, quản lý lên kế
hoạch chiến lược đối với nguồn nhân lực cho phép huy động được đúng người,
đúng việc, đúng lúc. Thách thức này phụ thuộc vào khả năng đọc và hiểu đúng môi
trường cũng như hiểu rõ những năng lực cần thiết để thực hiện công việc một cách
có hiệu quả nhất. Người lãnh đạo, quản lý phải biết dung hòa nhu cầu của tổ chức
với mong đợi của mỗi cán bộ, công chức và phải nhìn nhận hoạt động lãnh đạo,
quản lý như một phần tất yếu và là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển năng lực
và quản lý tri thức của hệ thống quản lý hành chính.