NHU CẦU HỌC NGOẠI NGỮ CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ - Pdf 43

Header Page 1 of 137.

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do và mục đích chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là một loại phương tiện giao tiếp giúp con người
khắp nơi trên thế giới này có thể hiểu nhau hơn.
“Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp con người sử dụng để liên lạc hay giao tiếp với
nhau cũng như chỉ chính năng lực của con người có khả năng sử dụng một hệ thống như
vậy. Ngành khoa học nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ được gọi là ngôn ngữ học.
Ước tính số lượng ngôn ngữ trên thế giới khác nhau giữa 6000 và 7000. Tuy nhiên,
bất cứ ước lượng chính xác nào phụ thuộc vào sự phân biệt khá tùy ý giữa các ngôn ngữ
chính và ngôn ngữ địa phương. Ngôn ngữ tự nhiên được nói hoặc ghi lại, nhưng bất kỳ
ngôn ngữ nào cũng có thể được mã hóa thành phương tiện truyền thông sử dụng các
giác quan thính giác, thị giác, xúc giác hoặc kích thích, ví dụ: Bằng văn bản, đồ họa,
chữ nổi, hoặc huýt sáo. Điều này là do ngôn ngữ của con người là độc lập với phương
thức biểu đạt. Khi được sử dụng như là một khái niệm chung, “ngôn ngữ” có thể nói đến
các khả năng nhận thức để học hỏi và sử dụng hệ thống thông tin liên lạc phức tạp, hoặc
để mô tả các bộ quy tắc tạo nên các hệ thống này, hoặc tập hợp các lời phát biểu có thể
được tạo thành từ những quy tắc”.1
Khi một dân tộc của một quốc gia này, sử dụng một ngôn ngữ của một dân tộc ở
một quốc gia khác, tức là không phải tiếng mẹ đẻ của mình, thì đó gọi là ngoại ngữ.
Nhưng chúng ta đang nói đến ở đây là các ngoại ngữ được dùng phổ biến để giao tiếp
chung cho khu vực và toàn thế giới. Theo nghiên cứu thì 10 ngôn ngữ được sử dụng phổ
biến nhất thế giới là: Tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Hindi, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga,
tiếng Bengali, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Mã Lai và cuối cùng là tiếng Pháp.2
Trong bối cảnh hội nhập và xu thế toàn cầu hóa như hiện nay thì ngoại ngữ đóng
một vai trò vô cùng quan trọng. Vì thế, Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm đặc biệt
đến vấn đề dạy và học ngoại ngữ cho người dân nói chung và thế hệ trẻ nói riêng.
____________________________________________________________________________________________
1


41,24% tổng số các cơ sở dạy văn hóa ngoài giờ của thành phố. Năm 2010, số các cơ sở
dạy ngoại ngữ đã tăng lên 217 và số chi nhánh, loại hình dạy ngoại ngữ cũng tăng đáng
kể. Số học viên học ngoại ngữ năm 2010 là 721.824 lượt người, tăng 62.624 lượt người
(8,68%) so với năm 2009, chiếm 63% lượt người tham gia học các loại hình văn hóa
ngoài giờ (Vũ Chiến, 2010).4
Việt Nam đang trong giai đoạn mở cửa, hội nhập quốc tế. Biết ngoại ngữ để học tập,
nghiên cứu, tìm việc làm, kinh doanh, du lịch... hay vì một số mục đích nào khác thì
cũng là một nhu cầu hết sức chính đáng và cấp thiết trong thời đại ngày nay. Sinh
viên Việt Nam nói chung và sinh viên thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, đang có nhu
cầu và xu thế học ngoại ngữ rất cao. Vì là một thành phố lớn, một đầu tàu kinh tế, một
trung tâm văn hóa, giáo dục của cả nước, nên sinh viên thành phố Hồ Chí Minh càng
____________________________________________________________________________________________
Theo Cổng thông tin điện tử Trường ĐHSP TP. HCM (không ngày tháng), Tầm quan trọng của môn ngoại ngữ,
( />3

Thông tin từ Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh.

4

2
Footer Page 2 of 137.


Header Page 3 of 137.

phải nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc trau dồi học hỏi ngoại ngữ, nâng cao
trình độ, kiến thức chuyên môn, gương mẫu đi đầu. Biết ngoại ngữ để có thể dễ dàng
giao tiếp với bạn bè quốc tế. Biết ngoại ngữ để thuận tiện trong mọi lĩnh vực hợp tác đối
ngoại như: Nghiên cứu- học tập, kinh doanh, du lịch, du học, đi định cư, giao lưu và giới
thiệu văn hóa- phong tục, tập quán tốt đẹp của đất nước mình cho bạn bè quốc tế... . Nên

-

Các giáo viên đang trực tiếp làm công tác giảng dạy tại các trường, các trung tâm
ngoại ngữ không ngừng nâng cao tay nghề, tìm hiểu tình hình thực tế để có giáo
trình, giáo án,... phương pháp giảng dạy phù hợp, sinh động và chất lượng tốt hơn.

3
Footer Page 3 of 137.


Header Page 4 of 137.

2.2.

Ý nghĩa khoa học

Đề tài nghiên cứu có một số ý nghĩa khoa học như sau:
-

Giúp các cơ quan chức năng, các nhà quản lý có được tầm nhìn tổng quát về nhu
cầu học ngoại ngữ của sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế của đất nước. Để
từ đó làm cơ sở xây dựng các đường lối, chính sách sao cho phù hợp trong việc mở
các trường, các trung tâm dạy ngoại ngữ, nhằm đáp ứng đầy đủ và chất lượng đào
tạo tốt nhất cho nhu cầu học ngoại ngữ của học viên và cho toàn xã hội.

-

Kết quả nghiên cứu cũng là cơ sở nền tảng, tài liệu tham khảo giúp gợi mở cho các
công trình nghiên cứu chuyên sâu sau này.



Trong bài viết, tác giả đã làm rõ được một số vấn đề quan
trọng như: Ngoại ngữ là phương tiện để thâm nhập, kết nối mọi người, để “toàn cầu
hóa” chính mỗi người. Ngoại ngữ không là công cụ thuần túy, là chữ vô hồn, ngoại ngữ
là bản thân văn hóa. Học ngoại ngữ tốt nhất là lúc còn trẻ và căn bản là tự học, đặc biệt
là lúc ngồi trên ghế nhà trường.
Nghiên cứu của hai tác giả TS. Vũ Thị Phương Anh và ThS. Nguyễn Bích Hạnh:
”Năng lực tiếng Anh của sinh viên các trường Đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh trước yêu cầu của một nền kinh tế tri thức: Thực trạng và những giải pháp”, Trung
tâm Khảo thí và Ðánh giá chất lượng đào tạo Ðại học Quốc gia- TP. HCM và Trường
Ðại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Ðại học Quốc gia- TP. HCM. Nghiên cứu này
đã đánh giá rất rõ ràng về năng lực tiếng Anh của một số sinh viên tại các trường Đại
học trên địa bàn TP. HCM (gồm: 3 trường thành viên của Ðại học Quốc gia TP.HCM là
Trường Ðại học Khoa học Tự nhiên, Trường Ðại học Bách Khoa, Trường Ðại học Khoa
4
Footer Page 4 of 137.


Header Page 5 of 137.

học Xã hội và Nhân văn và 2 trường ngoài Ðại học Quốc gia –TP. HCM là Trường Ðại
học Kinh tế và Trường Ðại học Sư phạm) qua điều tra khảo sát thực tế bằng bảng hỏi và
kiểm tra trình độ. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng điểm trung bình chung của tất cả
các sinh viên chỉ đạt ở mức trung bình. Khi quy đổi mức trình độ tiếng Anh của sinh
viên Việt Nam sang hệ thống kiểm tra quốc tế, ta thấy mặt bằng trình độ sinh viên trong
mẫu điều tra (tính trung bình là sinh viên bắt đầu năm thứ 3) chỉ mới đạt trong khoảng
360-370 điểm TOEFL, hoặc 3.5 điểm IELTS. Tác giả cho rằng:“Ðây là mức trình độ rất
thấp so với thế giới, vì theo định nghĩa của ALTE (Hiệp hội các nhà trắc nghiệm ngôn
ngữ châu Âu), thì trình độ này sinh viên chưa thể tham gia vào các cuộc trao đổi ý kiến
dù ở mức thấp nhất, mà chỉ mới tiếp nhận những thông tin đơn giản trong những bối

Tập thể tác giả Ban Quốc tế Thanh niên Tỉnh đoàn tỉnh Quảng Ninh có bài viết:
“Giải pháp nâng cao việc học tập ngoại ngữ trong thanh thiếu nhi tỉnh Quảng Ninh”.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Quảng Ninh, tại trang web
/>-phap-nang-cao-vic-hc-tp-ngoi-ng-trong-thanh-thiu-nhi-tnh-qung-ninh&catid=489:h-inh-p-qu-c-t&Itemid=553. Tập thể tác giả đã đưa ra một số giải pháp như sau:”Một là:
Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức trong đoàn viên, thanh niên. Hai
là: Xây dựng các mô hình, loại hình học tập, sử dụng ngoại ngữ phù hợp với các đối
tượng đoàn viên, thanh thiếu nhi. Ba là: Tăng cường tham mưu, phối hợp, tạo môi
trường thuận lợi để thanh thiếu nhi học tập ngoại ngữ” nhằm nâng cao việc học tập
ngoại ngữ trong thanh thiếu nhi của tỉnh nhà.
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Quang Hòa về:”Đo lường sự hài lòng của học
viên tại các trung tâm ngoại ngữ ở Thành phố Hồ Chí Minh”. Luận văn Thạc sĩ Quản trị
5
Footer Page 5 of 137.


Header Page 6 of 137.

Kinh doanh tại Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng năm 2011. Đề tài nghiên cứu của
tác giả đã khảo sát, đo lường sự hài lòng của học viên tại các trung tâm ngoại ngữ trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Để từ kết quả đó, tác giả đã đề ra một số giải pháp
nhằm giúp cho các trung tâm ngoại ngữ nâng cao chất lượng đào tạo, cũng đồng thời
nâng cao sự hài lòng của học viên.
Bài viết trên báo VTC News:”Không biết ngoại ngữ giống như ra trận mà không có
súng”. Bài viết trên báo VTC News online, đăng vào thứ tư, 30/07/2014 tại trang web
Bài viết cho biết tại lễ tổng kết năm học 2013 - 2014, Phó Thủ
tướng Vũ Đức Đam đã dành nhiều thời gian để nói về tầm quan trọng của việc học và thi
ngoại ngữ hiện nay. Phó Thủ tướng nhấn mạnh:“Thi ngoại ngữ bắt buộc là thông điệp
cho toàn xã hội, rằng từ nay, ngoại ngữ quan trọng không kém Toán, Văn. Chúng ta
không được quên là bây giờ Việt Nam thực chất là một bộ phận của nền kinh tế thế giới
rồi. Chúng ta đảm bảo đào tạo con em chúng ta tới đây phải là công dân toàn cầu. Có

Từ những tài liệu tiếp cận được, chúng tôi nhận thấy kết quả của các công trình
nghiên cứu trên là những tài liệu vô cùng quý giá, để chúng tôi có thể kế thừa và phát
triển đề tài nghiên cứu của mình. Chúng tôi muốn thực hiện một đề tài nghiên cứu kỹ
hơn về nhu cầu học ngoại ngữ của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh là như thế nào
trong giai đoạn hội nhập quốc tế của nước nhà. Để từ đó, hiểu rõ hơn về xu hướng học
tập của sinh viên và tình hình đất nước trong tiến trình mở cửa hội nhập vào thế giới. Và
có thể có những phương hướng, giải pháp đáp ứng cho các nhu cầu chính đáng của sinh
viên thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và sinh viên cả nước nói chung, trong việc học
tập để thỏa mãn cho nhu cầu của thời đại.
4. Đối tượng, phạm vi không gian và giới hạn thời gian nghiên cứu của đề tài
4.1.

Đối tượng nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu đối tượng là nhu cầu học ngoại
ngữ của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập Quốc tế (Qua
khảo sát một số trường Đại học).
4.2.

Phạm vi không gian nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu nhu cầu học ngoại ngữ trong bối cảnh hội nhập quốc tế của
các sinh viên Việt Nam đang học từ năm thứ nhất đến năm cuối (tức là khoảng từ 18
tuổi đến 22 tuổi) tại 04 Trường Đại học ở thành phố Hồ Chí Minh là: Đại học Quốc
tế Hồng Bàng, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Nguyễn Tất
Thành, Đại học Sân khấu, Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh. Vì đây là 04 trường
Đại học nằm trong danh sách những trường Đại học tiêu biểu của thành phố Hồ Chí
Minh, có ngành nghề đào tạo đa dạng, phong phú và có liên quan đến cả lĩnh vực kinh
tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, nghệ thuật...cũng như sư phạm. Trong đó có: 02
trường công lập (Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sân khấu,

giải quyết các mục tiêu cụ thể như sau:
-

Xác định rõ nhu cầu học ngoại ngữ của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh nhằm
mục đích gì.

-

Tìm hiểu rõ các yếu tố gây tác động đến việc học ngoại ngữ của sinh viên thành phố
Hồ Chí Minh.

-

Khảo sát thực tế, sau đó lập bảng thống kê loại ngoại ngữ mà sinh viên thành phố
Hồ Chí Minh có nhu cầu học trong bối cảnh hiện tại là những thứ tiếng gì, tỉ lệ bao
nhiêu phần trăm, hình thức và thời gian học, các yếu tố tác động, các yêu cầu liên
quan trong nhu cầu học ngoại ngữ của sinh viên.

-

Đề ra một số phương hướng và giải pháp giúp cho các trường Đại học, các trung
tâm đào tạo ngoại ngữ và các nhà quản lý trong việc mở ra đầy đủ các lớp đào tạo
ngoại ngữ có chất lượng tốt, đáp ứng cho nhu cầu của học viên trong tình hình hiện
tại của xã hội.

6. Giả thuyết nghiên cứu
Các yếu tố gây tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhu cầu học ngoại ngữ của sinh
viên thành phố Hồ Chí Minh, ngoài chương trình đào tạo của nhà trường bắt buộc còn có
8
Footer Page 8 of 137.

động đến nhu cầu học ngoại ngữ của sinh viên. Giả thuyết được đặt ra là: Có mối
quan hệ cùng chiều giữa các sinh viên muốn đi du học- xuất khẩu lao động với
nhu cầu học ngoại ngữ (H3).

-

Học ngoại ngữ vì muốn định cư ở nước ngoài. Các sinh viên có ý định đi định cư
ở nước ngoài cũng có nhu cầu học ngoại ngữ. Giả thuyết được đặt ra là: Có mối
quan hệ cùng chiều giữa các sinh viên muốn định cư ở nước ngoài với nhu cầu
học ngoại ngữ (H4).

-

Học ngoại ngữ vì muốn làm trong các công ty nước ngoài sau khi tốt nghiệp ra
trường. Yếu tố này là một trong những yếu tố có tính tác động tích cực. Giả thuyết
được đặt ra là: Có mối quan hệ cùng chiều giữa các sinh viên muốn có việc làm
trong các công ty nước ngoài sau khi tốt nghiệp với nhu cầu học ngoại ngữ
(H5).
9

Footer Page 9 of 137.


Header Page 10 of 137.

-

Học ngoại ngữ vì muốn đi du lịch- khám phá thế giới. Yếu tố này cũng không ổn
định lắm. Vì đôi khi nhu cầu học ngoại ngữ chỉ để đáp ứng nhu cầu tại một thời
điểm nào đó. Giả thuyết được đặt ra là: Có mối quan hệ cùng chiều giữa các sinh

- Phương pháp phân tích lý thuyết.
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin.
- Phương pháp phân tích Xã hội học thực nghiệm.
- Phương pháp đối chiếu và so sánh các thông tin, dữ liệu.
- Phương pháp xử lý số liệu nghiên cứu bằng thống kê Toán học.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát.
- Phương pháp Giáo dục học.
- Phương pháp Tâm lý học.
- Phương pháp SWOT.

10
Footer Page 10 of 137.


Header Page 11 of 137.

7.2.

Phương pháp thu thập dữ liệu

Cơ sở lý luận đề tài bao gồm các từ khóa: Sinh viên, Thành phố Hồ Chí Minh, nhu
cầu học, ngoại ngữ, hội nhập quốc tế, dạy và học ngoại ngữ, trường Đại học, trung
tâm ngoại ngữ. Trên cơ sở đó, đề tài sẽ tập trung tìm hiểu, phân tích và hệ thống các
nội dung liên quan đến nhu cầu học ngoại ngữ của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh
trong bối cảnh hội nhập quốc tế từ:
- Các sách chuyên ngành, các giáo trình, các Luận văn Thạc sĩ, các Luận án Tiến
sĩ, các bài báo khoa học trong và ngoài nước (tiếng Anh) có liên quan đến nhu
cầu học ngoại ngữ của sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
- Cách thức và quy định về việc mở các lớp ngoại ngữ tại các trường Đại học, các
trung tâm dạy ngoại ngữ.

Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và nhân viên làm việc trong lĩnh vực dạy và
học ngoại ngữ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

-

Học viên – sinh viên.

Phỏng vấn bằng bảng câu hỏi (Questionnaire): Phát 140 PHIẾU KHẢO SÁT về
nhu cầu học ngoại ngữ của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập
11
Footer Page 11 of 137.


Header Page 12 of 137.

quốc tế. Khảo sát ngẫu nhiên, thuận tiện với bất cứ sinh viên Việt Nam đang học từ
năm thứ nhất đến năm cuối tại 04 trường đã định trước. Sau đó tiến hành xử lý 120
phiếu.

8. Bố cục của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của Luận văn
gồm 03 chương như sau:
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHU CẦU
HỌC NGOẠI NGỮ CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trong chương này, chúng tôi trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài
nghiên cứu, khung lý thuyết tiếp cận nghiên cứu, tổng quan về đề tài nghiên cứu: Tổng
quan về TP. HCM (tên gọi, lịch sử hình thành, tình hình thực tế...). Tổng quan về sinh
viên, các trường đại học, các trung tâm dạy ngoại ngữ, vị trí, vai trò của sinh viên, của
TP. HCM trong bối cảnh hội nhập quốc tế...
Chương 2: THỰC TRẠNG NHU CẦU HỌC NGOẠI NGỮ CỦA

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1. Cơ sở lý luận về nhu cầu và nhu cầu học
Nhu cầu
Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên
cứu sinh học và xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế- xã hội vấn đề về nhu cầu được tìm thấy
trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như Jeremy Bentham, Benfild, William
Stanley Jevons, John Ramsay McCulloch, Edward S. Herman. Đó là hiện tượng phức
tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật. Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào,
ngay cả ở bất kỳ xã hội nào được xem như cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân
biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh. 5
Như chúng ta đã biết, cho tới nay chưa có bất kỳ một định nghĩa chung nhất nào cho
khái niệm nhu cầu. Các sách giáo khoa dù là chuyên ngành hay các công trình nghiên
cứu khoa học cũng thường chỉ có những định nghĩa mang tính riêng biệt. Ta có thể hiểu
nhu cầu là tính chất của một cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt một điều gì đó
của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống bên ngoài. Nhu cầu tối
thiểu, hay còn được gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được hình thành qua quá trình rất lâu dài
của sự tồn tại, phát triển và tiến hóa.
Nhu cầu được hiểu như là một sự cần thiết về một điều gì đó. Nhưng “điều gì đó” chỉ
là sự biểu hiện bên ngoài của nhu cầu. Sau hình thức biểu hiện ẩn chứa bản chất của nhu
cầu mà có thể tạm gọi là “nhu yếu”. Nhu yếu có thể được xem là hình thức biểu hiện của
một nhu yếu khác căn bản hơn. Như thế khái niệm nhu cầu và nhu yếu mang tính tương
đối với nhau. Điều đó đã cho chúng ta thấy rằng nhu cầu của cơ thể sống là một hệ thống
phức tạp, đa tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi có tính mắc xích của hình thức biểu hiện
và nhu yếu liên kết chằng chịt, có khả năng phát triển và đa dạng hóa. Hình thức biểu
hiện nhất định cũng được cụ thể hóa thành đối tượng của một nhu cầu nhất định. Đối
tượng của nhu cầu đó chính là cái mà nhu cầu hướng tới và có thể làm thỏa mãn cái
_____________________________________________________________________
Khái niệm về Nhu cầu từ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia,
( />5

Nhu cầu học tập là một nhu cầu rất cần thiết đối với mỗi con người trong chúng ta
nhằm từng bước tự hoàn thiện bản thân mình, và trang bị cho mình những kiến thức
chuyên môn, các kỹ năng sống. Nhu cầu học tập có mối liên quan mật thiết, khăng khít
với các nhu cầu khác trong xã hội như công nghiệp hóa- đô thị hóa; phát triển tài nguyên
trí tuệ và làm tăng chất lượng của cuộc sống.
Nhu cầu học tập của con người nhằm nâng cao trình độ, tìm những cái mới, sáng
tạo ra những vật chất để phục vụ cuộc sống …Và đối với mỗi quốc gia, việc đầu tư cho
14

Footer Page 14 of 137.


Header Page 15 of 137.

giáo dục là con đường làm tăng tài nguyên trí tuệ, nó cũng là xu hướng phổ cập nghề
cho thanh niên và nhân dân lao động. Các hình thức đáp ứng nhu cầu học tập của con
người: Loại hình: Hiện có 2 loại hình giáo dục: Giáo dục đại chúng nhằm nâng cao trình
độ dân trí. Giáo dục chọn lọc nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên và cũng là
đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân tài cho đất nước. Hệ thống thư viện được nối mạng … vì
thư viện không chỉ là nơi cung cấp kiến thức cho người học mà còn xây dựng phong
cách học tập cần thiết ở đại học là tự học và tự đọc. Tăng GDP hoặc những biện pháp
khác như du học, mời thầy nước ngoài về 6….
Nói về việc học tập, có một danh nhân đã cho rằng:“Học không phải để làm giàu.
Học là để hoàn thiện bản thân mình”(Khuyết danh). Ngạn ngữ Nga có câu:“Rễ của sự
học tập thì đắng, quả của sự học tập thì ngọt”. “Bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm
đẹp con người”. Trong dân gian cũng có rất nhiều câu tục ngữ, ca dao và danh ngôn nói
về chủ đề học tập như :
- Tục ngữ:“Khổ luyện thành tài, miệt mài thành giỏi”,“Học Thầy không tày học
bạn”,”Học hành vất vả, kết quả ngọt bùi”,”Dao có mài mới sắc, người có học mới
nên”,”Học khôn đến chết, học nết đến già”...

Ngôn ngữ
Theo khái niệm về ngôn ngữ từ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì ngôn ngữ là
một đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, “ngôn ngữ” có hai nghĩa chính: Một khái
niệm trừu tượng, và một hệ thống ngôn ngữ cụ thể, ví dụ:“tiếng Việt”. Nhà ngôn ngữ
học Thụy Sĩ Ferdinand de Saussure, người định nghĩa phương pháp nghiên cứu hiện đại
của ngôn ngữ học, trước tiên khẳng định một cách rõ ràng sự khác biệt bằng cách sử
dụng language (từ tiếng Pháp) cho ngôn ngữ khi là một khái niệm; langue như là một ví
dụ cụ thể của một hệ thống ngôn ngữ, và parole cho việc sử dụng cụ thể của lời nói
trong một ngôn ngữ cụ thể.7
Khi nói về ngôn ngữ như là một khái niệm chung, định nghĩa có thể được sử dụng để
nhấn mạnh khía cạnh khác nhau của hiện tượng này. Những định nghĩa này cũng đòi hỏi
cách tiếp cận khác nhau và sự hiểu biết về ngôn ngữ, liên quan đến các trường phái
nghiên cứu khác nhau và thường không tương thích với nhau, của lý thuyết ngôn ngữ
học. Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp con người sử dụng để liên lạc hay giao tiếp với
nhau cũng như chỉ chính năng lực của con người có khả năng sử dụng một hệ thống như
vậy. Ngành khoa học nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ được gọi là ngôn ngữ học.
Ước tính số lượng ngôn ngữ trên thế giới khác nhau giữa 6000 và 7000. Tuy nhiên,
bất cứ ước lượng chính xác nào phụ thuộc vào sự phân biệt khá tùy ý giữa các ngôn ngữ
______________________________________________________________________
Khái niệm về Ngôn ngữ từ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, ( />
7

16
Footer Page 16 of 137.


Header Page 17 of 137.

chính và ngôn ngữ địa phương.
Ngôn ngữ tự nhiên được nói hoặc ghi lại, nhưng bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có thể

Footer Page 17 of 137.


Header Page 18 of 137.

đặc điểm cụ thể. Khái niệm loại hình được hiểu là một đặc trưng (hình thái, ngữ âm, ngữ
pháp). 8
Ngoại ngữ
Khi một dân tộc của một quốc gia này, sử dụng một ngôn ngữ của một dân tộc ở
một quốc gia khác, tức là không phải tiếng mẹ đẻ của mình, thì đó gọi là ngoại ngữ. Hay
gọi đơn giản ngoại ngữ là tiếng nước ngoài. Nhưng chúng ta đang nói đến ở đây là các
ngoại ngữ được dùng phổ biến để giao tiếp chung cho khu vực và toàn thế giới. Theo
nghiên cứu thì 10 ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất thế giới là: Tiếng Trung, tiếng
Anh, tiếng Hindi, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, tiếng Bengali, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng
Mã Lai và cuối cùng là tiếng Pháp.
Ở Việt Nam, thường không có khái niệm ngôn ngữ thứ hai như ở một số quốc gia
phương Tây. Các ngoại ngữ phổ biến ở Việt Nam hiện nay như: tiếng Anh, tiếng Pháp,
tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc, tiếng Hàn Quốc, tiếng Tây Ban Nha....
Những người giỏi về ngoại ngữ hiện nay chủ yếu phần lớn là các giảng viên dạy ngoại
ngữ, những người đã tốt nghiệp Cao đẳng, Đại học, Tu nghiệp sinh nước ngoài về nước.
Và một người có thể sử dụng thành thạo nhiều ngoại ngữ trong thời đại ngày nay là một
hiện tượng không hề hiếm thấy. Học ngoại ngữ cũng đem lại một số lợi ích như: Có cơ
hội làm việc tốt, quan hệ rộng rãi, du lịch dễ dàng, học tập tốt, đa dạng trong phong
cách sống và thêm phần tự tin.
1.1.3. Cơ sở lý luận về văn hóa
Văn hóa là một khái niệm vô cùng tổng quát và có tính trừu tượng. Hiểu theo dân
gian, văn hóa là một cái gì đó đẹp đẽ và tốt lành. Về mặt đánh giá con người, theo quan
niệm dân gian, một người có văn hóa là một người có cách “đối nhân xử thế” tốt đẹp và
chuẩn mực. Ví dụ: Hành động biết nhường chỗ cho người già, phụ nữ mang thai, trẻ em,
người khuyến tật...trên tàu, xe..là một hành động có văn hóa; không xả rác, khạc nhổ,

Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên
quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.Theo khái niệm về văn
hóa của Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:“Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm
của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: Khía cạnh phi vật chất
của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần
áo, các phương tiện, v.v... Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một
phần của văn hóa. Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh
một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học
Mỹ là Alfred Kroebervà Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác
nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Văn hóa được đề cập đến trong
nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, dân tộc học hiện đại theo cách gọi của châu
Âu), dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học...và trong mỗi lĩnh vực
nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau. Vào năm 2002, UNESCO định
nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những
19

Footer Page 19 of 137.


Header Page 20 of 137.

đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người
trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức
chung sống, hệ thống giá trị, truyền thốngvà đức tin. Văn hóa là tất cả những giá trị vật
thể do con người sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên”.9 Thuật ngữ văn hóa bắt
nguồn từ chữ Latinh “Cultus” mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo từ: “Cultus
Agri” là “gieo trồng ruộng đất” hay “Cultus Animi” là “gieo trồng tinh thần”.10
Tóm lại, văn hóa là một sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển
trong quan hệ qua lại giữa con người với xã hội. Chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo
nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này

Tự lập kế hoạch học tập cho bản thân;

-

Tự học và tự nghiên cứu;

-

Dễ trốn học;

_____________________________________________________________________
Khái niệm về Văn hóa từ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia,
( />9

10

Trần Quốc Vượng (chủ biên)(1998), Cơ sở Văn hóa Việt Nam, NXB Giáo Dục.

20
Footer Page 20 of 137.


Header Page 21 of 137.

-

Lớp học có thể rất đông;

-



Khái niệm về sinh viên từ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, ( />
Hồng Hạnh, Thứ Ba, 31/05/2016 - 07:41, 225.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp: Hệ quả của mở trường đại học ồ
ạt, Báo Dân Trí online, ( />12

21
Footer Page 21 of 137.


Header Page 22 of 137.

Coi nhẹ chất lượng, chạy theo số lượng

Theo PGS.TS. Nguyễn Ngọc Quang, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, tình trạng sa
sút của giáo dục đại học có một phần trách nhiệm rất lớn của Đảng ủy, Ban Giám hiệu
các trường Đại học, đặc biệt các trường công lập. Các trường chạy theo số lượng đào tạo
mà coi nhẹ chất lượng. Trong cơ chế tự chủ tài chính nửa vời như hiện nay đã dẫn tới đa
số các trường Đại học chạy theo số lượng quy mô đào tạo để có nguồn tài chính bù đắp
các khoản chi thường xuyên. Hệ quả là một số trường công đua nhau tuyển giảng viên
để tăng số lượng theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà coi nhẹ chất lượng giảng
dạy, để từ đó có điều kiện tuyển số lượng sinh viên mà không quan tâm tới nhu cầu của
xã hội và chất lượng đào tạo, dẫn đến lượng sinh viên tốt nghiệp bị thất nghiệp ngày
càng cao.
1.1.5. Cơ sở lý luận về hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế được định nghĩa theo nghĩa dễ hiểu đó là tham gia vào các tổ
chức, hiệp hội của các quốc gia trên toàn thế giới. Và lẽ dĩ nhiên là sự tham gia, hợp tác
ấy phải mang đến lợi ích cho cả đôi bên.
Theo bài viết của Tiến sĩ Phạm Quốc Trụ về Hội nhập quốc tế thì ông đã định nghĩa,
phân tích, giải thích rất chi tiết về thuật ngữ Hội nhập quốc tế. Ông cho rằng:”Hội nhập
quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ

quốc tế đáng nể, đồng thời xử lý khá thành công các bất lợi và thách thức của quá trình
hội nhập, đó là trường hợp Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Trung Quốc,
Malaixia, Mêhicô, Braxin…
Một số nước tuy vẫn gặt hái được nhiều lợi ích từ hội nhập, song xử lý chưa tốt mặt
trái của quá trình này, nên phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn, có thể kể tới
trường hợp Thái Lan, Phi-líp-pin, Inđônêxia, Việt Nam, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban
Nha… Mặc dù vậy, suy cho cùng lợi ích mà hầu hết các nước đã thu được trên thực tế từ
quá trình hội nhập vẫn lớn hơn cái giá mà họ phải trả cho những tác động tiêu cực xét
trên phương diện tăng trưởng và phát triển kinh tế. Điều này giải thích tại sao hội nhập
quốc tế trở thành lựa chọn chính sách của hầu hết các nước trên thế giới hiện nay”.14
1.1.6. Mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Người Việt Nam ta có câu ca dao:”Chim khôn kêu tiếng rảnh rang. Người khôn
nói tiếng dịu dàng dễ nghe”. Từ “khôn” ở đây cũng có thể được hiểu là có văn hóa, biết
cách ăn nói.
Trong đời sống thường ngày, ngôn ngữ cũng có thể được chia ra thành hai hình thức
thể hiện hay còn gọi là phong cách thể hiện, đó là: Ngôn ngữ nói (Khẩu ngôn) và Ngôn
ngữ viết hay ta cũng có thể gọi là Văn nói và Văn viết.
______________________________________________________________________
TS. Phạm Quốc Trụ, Thứ tư, 31 Tháng 8 2011 09:13 , Hội nhập quốc tế: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn.
Học viện Ngoại giao, ( />13,14

23
Footer Page 23 of 137.


Header Page 24 of 137.

- Ngôn ngữ nói: Có thể hiểu đơn giản là sử dụng miệng để truyền đạt đến người nghe.
Mục đích của việc sử dụng hình thức ngôn ngữ này là làm cho người nghe dễ tiếp thu,
dễ hiểu. Do đó, hình thức này không yêu cầu quá khắc khe như Ngôn ngữ viết. Nếu đảm

nay, Văn hóa-Nghệ thuật đăng Thứ Năm, 17/12/2015 | 11:11 GMT+7, ( />16

24
Footer Page 24 of 137.


Header Page 25 of 137.

Còn theo tác giả Hữu Đạt trong bài viết “Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa và

biểu hiện của nó trong giao tiếp tiếng Việt” được đăng trên trang web
www.vanhoahoc.vn vào lúc 08:31 thứ Sáu, 18/04/2014 thì mối quan hệ giữa ngôn ngữ và
văn hóa gồm có hai biểu hiện như sau: Biểu hiện bên trong của ngôn ngữ và văn hoá:
Từ phương diện này, chúng ta nhận thấy, xét về bản chất, ngôn ngữ bao giờ cũng tham
gia vào cả hai loại văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể tuy cách biểu hiện của nó rất
khác nhau. Nhìn về mặt hình thức, ở các di sản văn hoá vật thể người ta khó nhận thấy
dấu ấn của ngôn ngữ. Nói một cách khác, quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá không nổi
lên trên bề mặt mà ẩn sâu ở quan hệ bên trong giữa chúng. Biểu hiện bên ngoài của mối
quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá: Nói tới mặt biểu hiện bên ngoài của mối quan hệ
giữa văn hoá và ngôn ngữ là nói tới khả năng quan sát được những sự liên quan giữa văn
hoá và ngôn ngữ trên cơ sở những dấu hiệu, ký hiệu cụ thể. Trên cơ sở học thuyết tiến
hoá của Đác Uyn và học thuyết của Pac Lốp về ký hiệu, có thể kết luận rằng, chỉ có con
người mới có ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu được hình thành từ những
phản xạ không có điều kiện. Thực chất nó là ký hiệu của ký hiệu và là hệ thống tín hiệu
thứ hai, chỉ con người mới có được. Hệ thống ký hiệu này chính là các phương tiện tạo
nên các sản phẩm văn hoá mang giá trị tinh thần, gọi là văn hoá phi vật thể. 17
Như thế, dù ở bất cứ nơi đâu thì ngôn ngữ và văn hoá cũng vẫn có một mối quan
hệ gắn bó khăng khít không thể tách rời nhau ra.
1.1.7. Mối liên hệ giữa sinh viên và các nhu cầu học tập văn hóa
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng đến vai trò và nhiệm vụ của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status