Sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học bài ôn tập trong SGK Tin học lớp 11 - Pdf 43

CG

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

NGUYỄN THỊ BẢO CHÂU

SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƢ DUY
VÀO DẠY HỌC BÀI ÔN TẬP
TRONG SGK TIN HỌC LỚP 11

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sƣ phạm Tin học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

TS. Lƣu Thị Bích Hƣơng

HÀ NỘI, 2017


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai đề tài “Sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học bài
ôn tập trong SGK Tin học lớp 11”, em đã thƣờng xuyên nhận đƣợc sự giúp đỡ
tận tình, tạo điều kiện của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Công nghệ thông
tin, các thầy giáo, cô giáo trong tổ phƣơng pháp dạy học Tin học, đặc biệt là
cô giáo hƣớng dẫn trực tiếp – TS. Lưu Thị Bích Hương.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tới cô
giáo Lưu Thị Bích Hương đã tận tình giúp đỡ, hƣớng dẫn em hoàn thành
khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong tổ Phƣơng pháp
dạy học Tin học Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em


GV

Giáo viên

HS

Học sinh

Nxb

Nhà xuất bản

PP

Phƣơng pháp

PPDH

Phƣơng pháp dạy học

SGK

Sách giáo khoa

SGV

Sách giáo viên

SĐTD



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ............................................. 6
1.1. Tƣ duy con ngƣời ....................................................................................... 6
1.1.1. Sự hình thành và phát triển tƣ duy con ngƣời ......................................... 6
1.1.2. Năng lực tƣ duy và đặc điểm tâm lý của học sinh THPT ....................... 8
1.2. Sơ đồ tƣ duy ............................................................................................. 12
1.2.1. Khái niệm sơ đồ tƣ duy ......................................................................... 12
1.2.2. Cấu tạo và phân loại sơ đồ tƣ duy ......................................................... 13
1.2.3. Ý nghĩa của việc sử dụng SĐTD trong dạy học Tin học ...................... 18
1.3. Thực trạng về sử dụng SĐTD trong dạy học ........................................... 19
1.3.1. Điều tra thăm dò ý kiến GV .................................................................. 19
1.3.2. Điều tra thăm dò ý kiến HS ................................................................... 22
1.3.3. Đánh giá chung ..................................................................................... 24
Chƣơng 2: DẠY HỌC BÀI ÔN TẬP TRONG SGK TIN HỌC LỚP 11....... 26
CÓ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƢ DUY ................................................................... 26
2.1. Ứng dụng của SĐTD trong dạy học......................................................... 26
2.1.1. Ứng dụng trong ôn tập và tóm tắt nội dung ......................................... 26
2.1.2. Ứng dụng trong làm việc theo nhóm .................................................... 27
2.1.3. Ứng dụng trong nghiên cứu khoa học ................................................... 30
2.2. Vị trí của bài “Ôn tập học kỳ I” trong chƣơng trình Tin học lớp 11 ....... 31
2.3. Mục đích của việc dạy học bài ôn tập học kỳ I trong chƣơng trình Tin học
THPT ............................................................................................................... 31
2.4. Nhiệm vụ và cấu trúc của bài ôn tập, luyện tập ....................................... 31
2.5. Xác định đơn vị kiến thức ........................................................................ 32
2.5.1. Một số khái niệm về lập trình ............................................................... 32
2.5.2. Chƣơng trình đơn giản .......................................................................... 33


những phƣơng tiện dạy học Tin học ở trƣờng phổ thông cũng đã và đang đƣợc
triển khai theo yêu cầu đổi mới đó.
Hiện nay, SĐTD là thuật ngữ đƣợc sử dụng khá phổ biến, đƣợc coi nhƣ
một phƣơng tiện hiện đại trong dạy và học. Cha đẻ của SĐTD là giáo sƣ
ngƣời Anh – Tony Buzan. Khi nghiên cứu về quá trình nhận thức và những
yếu tố giúp con ngƣời ghi nhớ kiến thức khoa học, ông đã giới thiệu phƣơng
tiện giáo dục này vào khoảng những năm 60 của thế kỉ XX. Có thể nói, Tony
Buzan đã khám phá ra sức mạnh ghi nhớ, tƣ duy khi sử dụng SĐTD. Theo
ông: Lập SĐTD là phương pháp cách mạng nhằm tận dụng các nguồn tài
nguyên vô tận của bộ não. SĐTD là phƣơng tiện kết nối mang tính đồ họa có

1


tác dụng lƣu trữ, sắp xếp và xác lập ƣu tiên đối với mỗi loại thông tin trên
giấy, bằng cách sử dụng từ hay hình ảnh then chốt hoặc gợi nhớ nhằm làm
“bật lên” những kí ức cụ thể và phát sinh các ý tƣởng mới. Mỗi SĐTD là chìa
khóa khai mở các sự kiện, ý tƣởng và thông tin, đồng thời khơi nguồn tiềm
năng của bộ não kì diệu. Cũng từ những nhận thức đó, ông đã cho ra những
công trình khoa học có giá trị về phƣơng tiện hữu dụng này. Có thể nhắc tới
một số cuốn sách tiêu biểu của ông nhƣ: Sơ đồ tư duy trong công việc
(Mindmaps at word); Lập sơ đồ tư duy (How to mindmap); Sơ đồ tư duy
trong kinh doanh; Cách mạng hóa tư duy về lối kinh doanh của bạn (Tony
Buzan và Chirs Griffiths); Bản đồ tư duy cho trẻ thông minh; Bí quyết học
giỏi ở trường; Các kĩ năng học giỏi… Sau Tony Buzan, nhận thấy ƣu điểm,
sức mạnh vƣợt trội của SĐTD, nhiều nhà nghiên cứu khác cũng có những
công trình nghiên cứu về cách thức và hiệu quả của việc sử dụng SĐTD.
Những công trình khoa học đó đã đem đến cho ngƣời đọc cái nhìn đa chiều,
phong phú, sâu rộng về phƣơng tiện này. Tiêu biểu là tác giả Bobide Porter
với hai cuốn sách: “Phương pháp học tập siêu tốc”, “Phương pháp tư duy

nhóm nghiên cứu giới thiệu về SĐTD trong một chuyên đề đổi mới PPDH tới
cán bộ quản lí và giáo viên THCS. Tuy nhiên đây chỉ là những định hƣớng
chung, còn việc nghiên cứu chuyên sâu về phƣơng tiện dạy học này và ứng
dụng nó trong giảng dạy phải đến sau này.
Sơ đồ tƣ duy (SĐTD) đƣợc sử dụng trong quá trình dạy học là một trong
những phƣơng tiện dạy học hiện đại, gắn liền với đặc điểm nhận thức trong tƣ
duy con ngƣời. Hiện nay, phƣơng tiện dạy học này đã đƣợc sử dụng rộng rãi
và cũng tạo ra hiệu quả học tập khá cao. Bởi lẽ nó tạo ra những thuận lợi nhất
định cho quá trình nhận thức và tƣ duy của HS, giúp HS ghi nhớ rất hiệu quả.
Không chỉ có vậy, việc sử dụng SĐTD có khả năng phản ánh dòng chảy tƣ
duy tự nhiên ấy làm cho việc tiếp thu, ghi nhớ một cách hiệu quả, giảm áp lực
học tập của ngƣời học. Sử dụng SĐTD vào quá trình dạy học môn Tin học nói

3


chung, dạy học bài ôn tập trong SGK Tin học lớp 11 nói riêng sẽ giúp cho HS
không chỉ biết vận dụng những kiến thức và kỹ năng cơ bản, các em biết khái
quát chúng để rèn luyện nhằm tạo ra năng lực riêng cho bản thân mỗi cá nhân
HS.
Từ những lý do trên và đƣợc sự gợi ý của giáo viên hƣớng dẫn, em đã
chọn đề tài: “Sử dụng sơ đồ tƣ duy vào dạy học bài ôn tập trong SGK Tin
học lớp 11” làm đề tài khóa luận của mình.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu tƣ duy con ngƣời.
- Tìm hiểu sơ đồ tƣ duy trong dạy học.
- Tổng hợp nội dung ôn tập học kỳ I.
- Đề xuất cách sử dụng SĐTD vào dạy học bài ôn tập học kỳ I.
- Tổ chức thực nghiệm.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm.

5


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Tƣ duy con ngƣời
1.1.1. Sự hình thành và phát triển tƣ duy con ngƣời
Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần,
đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt
động vật chất, làm cho người ta có nhận thức đúng về sự vật và ứng xử tích
cực với nó [19]. Bàn về tƣ duy, cho đến nay các nhà khoa học đã đƣa ra nhiều
cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này.
Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ Việt Nam, tập 4 (Nxb Từ điển Bách
khoa Hà Nội, 2005): Tƣ duy là sản phẩm cao nhất của vật chất đƣợc tổ chức
một cách đặc biệt – bộ não ngƣời. Tƣ duy phản ánh tích cực hiện thực khách
quan dƣới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lí luận. Còn theo triết học duy
vật biện chứng, tƣ duy là một trong các đặc tính của vật chất phát triển đến
trình độ tổ chức cao. Karl Marx cho rằng: Vận động kiểu tƣ duy chỉ là sự vận
động của hiện thực khách quan đƣợc di chuyển và đƣợc cải tạo/ tái tạo trong
đầu óc con ngƣời dƣới dạng một sự phản ánh. Với cách hiểu này, có thể nhận
thấy, tƣ duy xuất hiện trong quá trình sản xuất xã hội của con ngƣời. Trong
quá trình đó, con ngƣời so sánh các thông tin, dữ liệu thu đƣợc từ nhận thức
cảm tính hay các ý nghĩ với nhau. Trải qua các quá trình khái quát hóa và trừu
tƣợng hóa, phân tích và tổng hợp để rút ra các khái niệm, phán đoán, giả
thuyết, lí luận… kết quả của quá trình tƣ duy bao giờ cũng là sự phản ánh
khái quát các thuộc tính, các mối liên hệ cơ bản, phổ biến, các quy luật không
chỉ ở một sự vật riêng lẻ mà còn ở một nhóm sự vật nhất định. Vì vậy, tƣ duy
bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua những tri thức đã nắm đƣợc từ

học…
Tƣ duy là kết quả của nhận thức đồng thời là sự phát triển cấp cao của

7


nhận thức. Xuất phát điểm của nhận thức là những cảm giác, tri giác và biểu
tƣợng… đƣợc phản ánh từ thực tiễn khách quan với những thông tin về hình
dạng, hiện tƣợng bên ngoài đƣợc phản ánh một cách riêng lẻ. Giai đoạn này
đƣợc gọi là tƣ duy cụ thể. Ở giai đoạn sau, với sự hỗ trợ của ngôn ngữ, hoạt
động tƣ duy tiến hành các thao tác so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp,
khu biệt quy nạp những thông tin đơn lẻ, gắn chúng vào mối liên hệ phổ biến,
lọc bỏ những cái ngẫu nhiên, không căn bản của sự việc để tìm ra nội dung và
bản chất của sự vật hiện tƣợng, quy nạp nó thành những khái niệm, phạm trù,
định luật… Giai đoạn này đƣợc gọi là tƣ duy trừu tƣợng.
1.1.2. Năng lực tƣ duy và đặc điểm tâm lý của học sinh THPT
Theo tâm lí học lứa tuổi, HS THPT ở vào thời kỳ mà sự phát triển thể
chất của con ngƣời đang đi vào giai đoạn hoàn chỉnh. Bên cạnh sự phát triển
về thể lực, sự phát triển của hệ thần kinh cũng có những thay đổi quan trọng
do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng não phát triển. Sự
hình thành hệ thống cấu trúc tế bào ở bán cầu đại não và số lƣợng dây thần
kinh liên hợp tăng lên, liên kết các phần khác nhau của vỏ đại não lại dẫn tới
kết quả là bộ não của HS ở độ tuổi học THPT có những cấu trúc nhƣ trong
cấu trúc tế bào não của ngƣời lớn. Điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức
tạp hóa hoạt động phân tích, tổng hợp… của vỏ bán cầu đại não trong quá
trình học tập [7, tr.67]. HS ở tuổi này trƣởng thành hơn, sở hữu nhiều kinh
nghiệm sống hơn, các em nhận ra đƣợc vị trí, vai trò của mình. Do vậy, thái
độ có ý thức của các em trong hoạt động học tập ngày càng đƣợc phát triển.
Đặc biệt ở lứa tuổi này, tính chủ động trong suy nghĩ của các em phát triển
mạnh mẽ. Quan sát của HS trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện

niên, 18 – 25 là giai đoạn thứ hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên).
Ở độ “tuổi thanh niên”, con ngƣời sống trong những đặc trƣng của một
thế giới mà ở đó có sự tồn tại giữa tuổi trẻ em và ngƣời lớn. Cũng vì thế, tâm
sinh lý của con ngƣời ở lứa tuổi thanh niên khá phức tạp với biểu hiện nhiều

9


mặt trong một cá thể.
Ở lứa tuổi học sinh THPT, các em có hình dáng ngƣời lớn, có những
nét của ngƣời lớn nhƣng chƣa phải là ngƣời lớn, còn phụ thuộc vào ngƣời lớn.
Thái độ đối xử của ngƣời lớn đối với các em thƣờng thể hiện tính chất hai mặt
đó là: Một mặt luôn nhắc nhở rằng các em đã lớn và đòi hỏi các em phải có
tính độc lập, phải có ý thức trách nhiệm và thái độ hợp lí. Nhƣng mặt khác lại
đòi hỏi các em phải thích ứng với những đòi hỏi của ngƣời lớn, nghe lời bố
mẹ, GV…
Đặc điểm hoạt động giao tiếp có nhiều biến đổi, mở rộng phát triển các
mối quan hệ cả chất lƣợng và số lƣợng, vị trí của thanh niên trong các mối
quan hệ thay đổi ảnh hƣởng lớn đến sự phát triển tâm sinh lí của lứa tuổi này.
Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPT
nhƣng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các
em. Muốn lĩnh hội đƣợc sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tƣ
duy khái niệm, tƣ duy khái quát phát triển đủ cao. Những khó khăn trở ngại
mà các em thƣờng gắn với sự không muốn học nhƣ nhiều ngƣời nghĩ. Hứng
thú học tập của các em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hƣớng nghề nghiệp
nên hứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn. Cũng vì thế, thái
độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt. HS đã
lớn, kinh nghiệm của các em đã đƣợc khái quát, các em ý thức đƣợc rằng
mình đang đứng trƣớc ngƣỡng cửa của cuộc đời tự lập. Thái độ có ý thức đối
với việc học tập của các em đƣợc tăng lên mạnh mẽ. Học tập mang ý nghĩa

khái quát, thích tìm hiểu những quy luật và nguyên tắc chung của các hiện
tƣợng hàng ngày, của những tri thức phải tiếp thu… Năng lực tƣ duy phát
triển đã góp phần làm nảy sinh hiện tƣợng tâm lí mới đó là tính hoài nghi
khoa học. Trƣớc một vấn đề các em thƣờng đặt những câu hỏi nghi vấn hay
dùng lối phản đề để nhận thức chân lí một cách sâu sắc hơn. Gắn với những
biểu hiện thích tìm tòi, khám phá, HS THPT cũng thích những vấn đề có tính

11


triết lí, vì thế các em rất thích nghe và thích ghi chép những câu triết lí.
Nhìn chung tƣ duy của HS THPT phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ
linh hoạt và nhạy bén hơn. Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn
đề một cách rất nhanh. Tuy nhiên, ở một số HS vẫn còn nhƣợc điểm là chƣa
phát huy hết khả năng độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng
theo cảm tính. Vì vậy GV cần hƣớng dẫn, giúp đỡ các em tƣ duy một cách
tích cực độc lập để phân tích, đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng.
Việc phát triển khả năng nhận thức của HS trong dạy học là một trong những
nhiệm vụ quan trọng của GV.
1.2. Sơ đồ tƣ duy
1.2.1. Khái niệm sơ đồ tƣ duy
Theo Tony Buzan – ngƣời đã dành 30 năm để nghiên cứu về vấn đề này,
thì: “Bản đồ tư duy (MindMap – Bản đồ tư duy, Sơ đồ tư duy) là hình thức
ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Ở
giữa bản đồ là ý tưởng hay hình ảnh trung tâm. Ý tưởng hay hình ảnh trung
tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý tưởng
chính và đều được nối với ý trung tâm” [15, tr.19].
Còn trong cuốn “Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kỹ thuật
dạy học” thì: SĐTD là một công cụ tổ chức tư duy, là con đường dễ nhất để
chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não. Đồng thời


trong cơ thể con ngƣời, các nhánh của thân cây và những đƣờng gân trên lá.
Đây chính là cách tƣ duy của não. Vì nó không theo trình tự, tuần tự mà phát
triển theo một mạng lƣới hợp lô-gic nên SĐTD là dạng mô phỏng cũng nhƣ
vậy, nó là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ nhƣ bản đồ địa
lí.
Hơn nữa, sử dụng SĐTD giúp ta kích thích cả hai bên não bộ cùng tham
gia tƣ duy. Đặc biệt, với sự nghiên cứu yếu tố tâm lí học của quá trình học và
ghi nhớ: Các nghiên cứu về não đã chỉ ra rằng não có thể dễ dàng nhớ đƣợc
các thông tin nổi bật, độc đáo nhất hay thông tin ảnh hƣởng mạnh mẽ tới một
trong năm giác quan. Nhƣ vậy, sự nhạy cảm về hình ảnh, màu sắc của vỏ não
phải giúp ghi nhớ, tƣ duy tốt hơn. Nhƣ vậy, khai thác đặc điểm tự nhiên này,
SĐTD rất coi trọng sử dụng hình ảnh, màu sắc, đƣờng nét, thông tin nổi bật
liên quan đến vấn đề.
Tóm lại, có thể hiểu SĐTD là một phƣơng pháp kết nối mang tính đồ
họa có tác dụng lƣu trữ, xác lập ƣu tiên đối với mỗi loại thông tin trên giấy,
bằng cách sử dụng từ hay hình ảnh then chốt hoặc gợi nhớ nhằm làm “bật
lên” những kí ức cụ thể và phát sinh các ý tƣởng mới. Mỗi chi tiết trong
SĐTD là chìa khóa khai mở các sự kiện, ý tƣởng và thông tin, đồng thời khơi
nguồn tiềm năng của bộ não kì diệu.
Cụ thể, về mặt cấu tạo, nó giống nhƣ một cái cây với nhiều nhánh lớn,
nhỏ mọc xung quanh. Phần trung tâm của sơ đồ là nội dung chính hay hình
ảnh trung tâm đƣợc thể hiện bằng từ hay hình ảnh nổi bật. Nối với nó là các
nhánh lớn thể hiện các vấn đề liên quan đến ý tƣởng chính (đƣợc gọi là nhánh
cấp 1), các nhánh lớn này sẽ đƣợc phân thành nhiều nhánh nhỏ hơn nữa nhằm
thể hiện chủ đề ở mức độ sâu hơn (nhánh cấp 2, 3, 4…). Cứ nhƣ vậy, những
vấn đề liên quan đến vấn đề chính đƣợc thể hiện và liên hệ với nhau một cách
lô-gic.

14

một cách cô đọng nhất.
Bƣớc 2: Vẽ chủ đề trung tâm.
Bƣớc 3: Vẽ thêm các tiêu đề phụ (nhánh cấp 1).
Bƣớc 4: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính, các chi tiết hỗ trợ
(nhánh bậc 2, 3).
Bƣớc 5: Thêm các hình ảnh minh họa. Ở bƣớc cuối này, hãy để trí tƣởng
tƣợng của bạn bay bổng. Bạn có thể thêm nhiều hình ảnh để giúp các ý quan
trọng trở nên nổi bật cũng nhƣ giúp chúng lƣu vào trí nhớ của bạn tốt hơn.
Tóm lại, có thể thấy cấu tạo của SĐTD mô phỏng cách tƣ duy của não,
giúp tƣ duy tốt hơn dựa trên sự kết hợp từ, hình ảnh, đƣờng nét, màu sắc,
tƣơng thích với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não. Với những đặc
điểm cơ bản của SĐTD nhƣ trên, nhà khoa học Adam Khoo xác định có ba
loại SĐTD giúp con ngƣời có thể sắp xếp kiến thức học tập hiệu quả:
Loại thứ nhất là SĐTD đƣợc xác lập theo đề cƣơng. Cơ sở để tạo ra loại
sơ đồ này đƣợc tạo ra dựa vào phần mục lục trong sách nhằm mục đích mang
lại một cái nhìn tổng quát về toàn bộ môn học, tiết kiệm đƣợc thời gian học
tập.
Loại thứ hai là xây dựng SĐTD theo chƣơng. Đây là loại sơ đồ đƣợc
ngƣời sử dụng tạo ra trên cơ sở tóm tắt toàn bộ kiến thức của chƣơng học. Để
xây dựng loại SĐTD này chúng ta cần phải đọc lƣớt qua toàn bộ chƣơng sách
(nội dung bạn muốn xây dựng SĐTD). Tìm các từ khóa, từ khóa là những từ

16


mang ý nghĩa khái quát cho cả chƣơng. Chúng ta có thể dựa vào tên chƣơng,
nội dung chính của chƣơng để xác định chủ đề trung tâm của SĐTD (thƣờng
tên chƣơng đã bao hàm ý tổng quát của cả chƣơng). Xác định ý lớn, nhỏ,
chính, phụ của chƣơng sách trên cơ sở đó HS có thể dễ dàng phân cấp các
nhánh của SĐTD.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status