BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN XUÂN THUYẾT
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP NÂNG CAO TÍNH TỰ GIÁC, TÍCH CỰC TRONG
GIỜ HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN
HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN XUÂN THUYẾT
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP NÂNG CAO TÍNH TỰ GIÁC, TÍCH CỰC
TRONG GIỜ HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN
AN NINH NHÂN DÂN
Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Mã số: 60.14.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
PGS. TS Tạ Hữu Hiếu
Đại học – Cao đẳng
GD-ĐT
-
Giáo dục – Đào tạo
GDTC
-
Giáo dục thể chất
HVAN
-
Học viện an ninh nhân dân
NCKH
-
Nghiên cứu khoa học
TDTT
-
-
Mét
“s”
-
Giây
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
TT
Ký hiệu
Nội dung
1
Bảng 2.1
2
Bảng 2.2
3
Bảng 2.3
sinh viên HVAN trong giờ học GDTC.
Kết quả phỏng vấn về biểu hiện ở xúc cảm học tập của sinh
viên HVAN với môn học GDTC.
Kết quả phỏng vấn về biểu hiện chú ý của sinh viên HVAN
trong giờ học GDTC.
Kết quả phỏng vấn về biểu hiện sự nỗ lực ý chí của sinh viên
HVAN trong giờ học GDTC.
Kết quả phỏng vấn về biểu hiện bằng hành vi của sinh viên
HVAN với môn học GDTC.
Kết quả phỏng vấn sinh viên về nguyên nhân ảnh hƣởng đến
tính tự giác tích cực của sinh viên HVAN.
Kết quả phỏng vấn giáo viên về nguyên nhân ảnh hƣởng đến
tính tự giác tích cực của sinh viên HVAN.
Kết quả phỏng vấn xác định nguyên tắc lựa chọn biện pháp
10
Bảng 3.1
nâng cao tính tự giác, tích cực trong giờ học GDTC của sinh
viên HVAN.
11
Bảng 3.2
12
Bảng 3.3
Bảng 3.7
Bảng 3.8
So sánh kết quả học tập môn học GDTC của Nhóm thực
nghiệm và Nhóm đối chứng ở thời điểm sau thực nghiệm
Kết quả kiểm tra thể lực của 2 nhóm đối chứng và thực
nghiệm
Đối chiếu và so sánh nhịp tăng trƣởng về tiêu chí về xúc
Bảng 3.9
cảm, chú ý, ý chí và hành vi của sinh viên đối với môn học
GDTC của Nhóm thực nghiệm và Nhóm đối chứng, trƣớc và
sau thực nghiệm
Đối chiếu và so sánh nhịp tăng trƣởng về kết quả học tập
Bảng 3.10
môn học GDTC của Nhóm thực nghiệm và Nhóm đối
chứng, trƣớc và sau thực nghiệm
Đối chiếu và so sánh nhịp tăng trƣởng về trình độ thể lực của
Bảng 3.11
Nhóm thực nghiệm và Nhóm đối chứng, trƣớc và sau thực
nghiệm
Nhịp tăng trƣởng về tiêu chí về xúc cảm, chú ý, ý chí và
vụ xây dựng con ngƣời và thế hệ trẻ thiết tha gắn bó với lý tƣởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cƣờng xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, có trình độ làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện
đại, có tƣ duy sáng tạo và có sức khoẻ. Cần coi trọng nâng cao chất lƣợng Giáo
dục thể chất trong trƣờng học...”.
Trong một số năm gần đây, việc đổi mới hình thức tổ chức, quản lý,
phƣơng pháp dạy và học môn GDTC nói riêng đã đạt đƣợc những kết quả
đáng khích lệ. Tuy nhiên, căn cứ vào điều kiện thực tiễn của nhà trƣờng về
yếu tố cơ sở vật chất, nguồn nhân lực... và một số điều kiện khách quan khác,
hiệu quả của các giờ học chính khoá đối với môn học GDTC vẫn còn nhiều
hạn chế. Mặc dù GDTC từ lâu đã trở thành môn học chính thức, bắt buộc
trong chƣơng trình các cấp học, ngành học, nhƣng cho đến nay vẫn còn bị coi
nhẹ. Chƣơng trình môn học chƣa thực sự hợp lý, chƣa phù hợp và đáp ứng
đƣợc yêu cầu của tuổi trẻ học đƣờng, cơ sở vật chất, dụng cụ và sân bãi còn
nghèo nàn và thiếu thốn, sân bãi tập luyện chật hẹp và ngay sát các lớp học
ảnh hƣởng không nhỏ đến chất lƣợng giờ học thể dục, đội ngũ cán bộ giáo
viên có nơi vẫn còn thiếu về số lƣợng và yếu về chất lƣợng; một bộ phận
không nhỏ học sinh có ý thức rèn luyện TDTT chƣa cao, chƣa thực sự tự giác
tích cực trong các giờ học thể dục.
Học viện An ninh nhân dân cũng nằm trong tình trạng chung đó. Công
tác GDTC đôi khi vẫn còn mang tính hình thức, việc đầu tƣ trang thiết bị cơ
sở vật chất chƣa tạo đƣợc điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao chất lƣợng
dạy học thể hiện ở các thiết bị, dụng cụ tập luyện, nhà tập, sân bãi còn thiếu.
Quy trình quản lý, chỉ đạo, tổ chức các hình thức luyện tập chƣa hợp lý,
phƣơng pháp dạy học còn đơn điệu thiếu sinh động chƣa gây hứng thú học tập
cho học sinh, nhiều học sinh coi giờ học thể dục nhƣ giờ vui chơi nên không
chú tâm luyện tập. Kết quả khảo sát trong các giờ học GDTC cho thấy vẫn
còn nhiều học sinh có thể lực chung rất hạn chế làm ảnh hƣởng tới kết quả
4.1. Khách thể nghiên cứu
Giảng viên GDTC, sinh viên Học viện An ninh nhân dân,…
4.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Biện pháp nâng cao tính tự giác, tích cực trong giờ học giáo dục thể
chất cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân.
5. Phạm vi nghiên cứu
Tính tự giác, tích cực trong giờ học giáo dục thể chất cho sinh viên Học
viện An ninh nhân dân.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng những phƣơng pháp
nghiên cứu sau:
6.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.
Đây là phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu.
Trong phạm vi của đề tài phƣơng pháp này giúp chúng tôi tìm hiểu vấn đề
liên quan tới tính tự giác, tích cực cũng nhƣ các yếu tố ảnh hƣởng tới tính tự
giác, tích cực khi học môn GDTC. Qua đó phân tích và lựa chọn các biện
pháp nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực cho học sinh trong giờ học GDTC.
Phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan còn là cơ sở để giúp chúng tôi
lựa chọn các phƣơng pháp nghiên cứu và bàn luận kết quả nghiên cứu. Trong
đề tài chúng tôi đã tiến hành tham khảo tài liệu bao gồm các văn kiện của
Đảng và Nhà nƣớc về TDTT, các chỉ thị, thông tƣ, các chế độ, chính sách đối
với TDTT, các hồ sơ lƣu trữ về TDTT và một số luận văn cao học.
6.2. Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm
Sử dụng phƣơng pháp này nhằm thu thập các tƣ liệu nghiên cứu thông
qua phỏng vấn gián tiếp bằng phiếu hỏi các khách thể nghiên cứu. Các lĩnh
vực mà đề tài quan tâm là: Làm thế nào để nâng cao tính tự giác tích cực
trong giờ học thể dục? Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn hai đối tƣợng: các
giáo viên TDTT, các cán bộ có liên quan trực tiếp đến phong trào TDTT
1. Chạy 100m (s)
1. Chạy 100m (s)
2. Chạy 1500m (s)
2. Chạy 800m (s)
3. Bật xa tại chỗ (cm)
3. Bật xa tại chỗ (cm)
4. Co tay xà đơn (sl)
Mục đích, cách thức thực hiện của từng test nhƣ sau:
* Test chạy 100m(s)
-
Mục đích: Đánh giá tố chất sức nhanh của sinh viên.
-
Dụng cụ đo: Đồng hồ bấm giây chính xác đến 1% giây, cờ phát lệnh
Trƣớc khi vào kiểm tra, phổ biến cho sinh viên biết cách thực hiện bài
kiểm tra, phân công giáo viên ở các vị trí kiểm tra . Hƣớng dẫn sinh viên khởi
động chung và khởi động chuyên môn thật kỹ để tránh xảy ra chấn thƣơng và
khi đó mới phát huy đƣợc tốc độ cao nhất. Mỗi đợt kiểm tra hai ngƣời ở hai
đƣờng chạy , mỗi ngƣời kiểm tra một lần.
- Phƣơng pháp tiến hành: Từ vạch xuất phát với tƣ thế xuất phát thấp,
Thành tích tính dựa trên tiêu chuẩn:” chiến sĩ công an khỏe”.
- Dụng cụ đo: Đồng hồ điện tử
6.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Để khẳng định tính khoa học và hiệu quả của các biện pháp đề ra chúng
tôi đã tiến hành thực nghiệm sƣ phạm trên hai nhóm: Nhóm thực nghiệm và
nhóm đối chứng. Đối tƣợng thực nghiệm là sinh viên Học viện An ninh nhân
dân
Hai nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng đƣợc chia một cách ngẫu
nhiên. Chƣơng trình thực nghiệm đƣợc kéo dài trong gần 1 học kỳ.
Trong thời gian thực nghiệm chúng tôi luôn tuân thủ những điều kiện
cơ bản cần thiết nhƣ nhau giữa hai nhóm nhƣ:
- Đối tƣợng thực nghiệm có cùng dấu hiệu nhận biết về Lứa tuổi, hình
thái, chức năng cơ thể và đặc biệt là trình độ vận động.
- Điều kiện thực nghiệm tƣơng đối đồng nhất, giống nhau. Nhƣ sân tập,
dụng cụ, giáo viên giảng dạy, phƣơng pháp tập luyện, thời gian luyện tập.
Chỉ có một điều kiện khác nhau giữa hai nhóm, trong đó nhóm đối chứng vẫn
tiến hành lên lớp nhƣ bình thƣờng, còn nhóm thực nghiệm đƣợc áp dụng các
biện pháp nâng cao tính tự giác, tích cực do chúng tôi đƣa ra.
6.6. Phương pháp thống kê toán học
Để xử lý đƣợc các số liệu sẽ thu thập đƣợc trong quá trình nghiên cứu.
Đề tài dự kiến sẽ tiến hành sử dụng các công thức tính số trung bình cộng,
phƣơng sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến sai, công thức tính tQS, tĐC và công thức
tính nhịp độ tăng trƣởng.
7. Tổ chức nghiên cứu.
7.1. Thời gian nghiên cứu
Giai đoạn 1: Từ 10/2016 đến 11/2016: Đọc tài liệu tham khảo, xác định
hƣớng và lựa chọn tên đề tài, xây dựng đề cƣơng và kế hoạch nghiên cứu,
bảo vệ đề cƣơng nghiên cứu.
(khoá VII) giao trách nhiệm cho Bộ Giáo dục & Đào tạo và Tổng cục TDTT
thƣờng xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC. Cải tiến chƣơng
trình giảng dạy, tiêu chuẩn RLTT, đào tạo giáo viên TDTT cho trƣờng học
các cấp, tạo điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ GDTC
bắt buộc ở tất cả các trƣờng học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp
sống hằng ngày của hầu hết học sinh - sinh viên, qua đó phát hiện và tuyển
chọn đƣợc nhiều tài năng thể thao cho đất nƣớc [6].
Hiến pháp nƣớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Năm 1992 tại điều
41 quy định: "Nhà nƣớc thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển TDTT, quy định
chế độ GDTC bắt buộc trong trƣờng học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các
hình thức tổ chức TDTT tự nguyện của nhân dân, tạo điều kiện cần thiết để
không ngừng mở rộng các hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dƣỡng các tài
năng thể thao".
Luật Giáo dục đƣợc Quốc hội khoá IX, nƣớc Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩaViệt Nam thông qua ngày 02/12/1998 và Pháp lệnh TDTT đƣợc Uỷ ban
thƣờng vụ Quốc hội thông qua tháng 09/2000 quy định: Nhà nƣớc coi trọng
TDTT trƣờng học, nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh
thiếu niên và nhi đồng. GDTC là nội dung giáo dục bắt buộc đối với SV đƣợc
thực hiện theo hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại học. TDTT
trƣờng học bao gồm việc tiến hành chƣơng trình GDTC bắt buộc và tổ chức
hoạt động TDTT ngoại khoá cho ngƣời học. Nhà nƣớc khuyến khích và tạo
điều kiện cho học sinh, sinh viên đƣợc tập luyện TDTT phù hợp với đặc điểm
lứa tuổi và điều kiện từng nơi. GDTC là một bộ phận quan trọng để thực hiện
mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân
lực, bồi dƣỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa [12].
Văn kiện Đại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ: Giáo dục - Đào tạo cùng với
khoa học công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, chuẩn bị tốt
29/12/2005, hƣớng dẫn phối hợp quản lý và chỉ đạo công tác thể dục thể thao
trƣờng học giai đoạn 2006 - 2010, xác định "Thể thao trường học là một bộ
phận đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao sức khoẻ và thể lực, bồi dưỡng
phẩm chất đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh, SV góp phần đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển TDTT trường
học theo hướng đổi mới và nâng cao chất lượng giờ học GDTC nội khoá, đa
dạng hoá các hình thức hoạt động ngoại khoá, đồng thời tổ chức chặt chẽ
việc kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đối với người học...".
Luật Thể dục, thể thao đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 mục 2 điều 20 quy định
Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chƣơng trình giáo dục nhằm
cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho ngƣời học thông qua các bài
tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
[15].
1.1.2. Giáo dục con ngƣời toàn diện theo quan điểm Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một danh nhân văn hóa thế giới và đƣợc thế
giới công nhận danh hiệu anh hùng giải phóng dân tộc. Suốt đời Bác đã hy
sinh vì độc lập dân tộc, lãnh đạo tài tình cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thành công. Bác là ngƣời
trung thành với học thuyết Mác – Lênin. Trong chỉ đạo công tác cách mạng
và lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Bác cũng rất quan tâm đến công tác
TDTT, coi đó là mục tiêu quan trọng trong sự nghiệp giáo dục cộng sản Chủ
nghĩa cho thanh niên.
Tháng 3 năm 1941, trong chƣơng trình cứu nƣớc của mặt trận Việt
Minh, Bác Hồ đã nêu rõ: “Khuyến khích và giúp đỡ nền TDTT quốc dân, làm
cho nòi giống thêm khỏe mạnh” và ngay sau khi giành chính quyền tháng 8
năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến việc chăm lo sức khỏe của
nhân dân. Trong lời kêu gọi toàn dân tập GDTC tháng 3 năm 1946 Ngƣời
chất cƣờng tráng, có dũng khí kiên cƣờng để kế tục sự nghiệp của Đảng
và nhân dân một cách đắc lực. Cùng với các mặt hoạt động khác, quá
trình giáo dục thể chất giúp cho học sinh – sinh viên hoàn thiện nhân cách
và các phẩm chất khác, nhằm đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống và nghiệp vụ
chuyên môn.
Các Mác và Ăng ghen đã chứng minh sự phát triển của giáo dục phụ
thuộc vào điều kiện sống vật chất, khám phá ra bản chất xã hội, bản chất giai
cấp, đồng thời còn chỉ ra rằng trong xã hội chủ nghĩa cộng sản tƣơng lai con
ngƣời phát triển toàn diện là một tất yếu khách quan, bởi vì đó là nhu cầu của
xã hội. Nhấn mạnh vấn đề này Mác đã viết: “...kết hợp lao động sản xuất với
trí dục và thể dục...”. Đó không những là biện pháp để tăng thêm sức sản xuất
của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con ngƣời toàn diện [5].
Lênin tiếp tục đi sâu và phát triển sáng tạo học thuyết về giáo dục toàn
diện. Ngƣời nhấn mạnh “...thanh niên đặc biệt cần sự yêu đời và sảng khoái,
cần có thể thao lành mạnh, thể dục, bơi lội, tham quan, các bài tập thể lực,
những hứng thú phong phú về tinh thần: học tập, phân tích, nghiên cứu và cố
gắng phối hợp tất cả các hoạt động ấy với nhau” [5].
1.2. TÌNH HÌNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI
HỌC – CAO ĐẲNG
Giáo dục và đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống
chính trị của mỗi nƣớc, là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi nƣớc. Vì vậy,
ngay từ khi giành đƣợc chính quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “một dân tộc dốt
là một dân tộc yếu”. Do đó xác định Giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ
quan trọng của cách mạng Việt Nam. Bắt đầu từ Nghị quyết của Đại hội lần
thứ IV của Đảng (1979) đã ra quyết định số 14 - NQTƢ về cải cách giáo dục
với tƣ tƣởng: Xem giáo dục là bộ phận quan trọng của cuộc cách mạng tƣ
tƣởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc
trƣởng thành; thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục
phát triển kinh tế - xã hội 2001 -2005 và định hƣớng đến 2025 càng đòi nguồn
lực con ngƣời phải có chất lƣợng cao ngang tầm thời đại. Công nghiệp hoá
nền kinh tế của thời đại xã hội văn minh lại càng không thể coi nhẹ vấn đề
sức khoẻ và thể trạng con ngƣời. Điều đó càng làm sâu sắc về quan điểm của
Đảng là "đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cho phát triển: Đầu tƣ giáo dục thể
chất là đầu tƣ đào tạo toàn diện thế hệ con ngƣời mới có chất lƣợng cao của
nền công nghiệp hiện đại trong mối quan hệ cạnh tranh với các nền kinh tế ở
khu vực và thế giới. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) tiếp tục khẳng
định nhân tố con ngƣời lao động có kiến thức khoa học công nghệ, phẩm chất
chính trị, nhân cách đậm đà bản sắc dân tộc và sự phát triển thể chất cƣờng
tráng. Con ngƣời vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển với chất lƣợng
đào tạo toàn diện mà Đảng - nhà nƣớc đã xác định là nhiệm vụ trung tâm của
sự nghiệp đổi mới [11].
Nhƣ vậy giáo dục thể chất đối với học sinh, sinh viên bao giờ cũng là
mối quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nƣớc. Bộ GD - ĐT đã đặt vấn đề GDTC
là một mặt không thể thiếu đƣợc trong chƣơng trình đào tào đội ngũ cán bộ
khoa học, cán bộ quản lý về kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, để phục vụ
nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, xã hội của đất nƣớc. Bộ GD - ĐT đã coi
trọng công tác GDTC cho học sinh, sinh viên và tổ chức triển khai các quy
hoạch, kế hoạch để đảm bảo các trƣờng học có chƣơng trình giảng dạy thống
nhất, có đội ngũ cán bộ giảng viên, thầy giáo đƣợc đào tạo chuyên ngành, có
cơ sở vật chất sân bãi phục vụ việc học tập TDTT và thi đấu thể thao không
chỉ trong hệ thống toàn quốc mà còn tham gia thi đấu quốc tế góp phần nâng
cao tình đoàn kết, hợp tác, hữu nghị, hoà bình với các SV quốc tế.
1.3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG
1.3.1. Mục đích
Góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ KHKT, quản lý
động TDTT của nhà trƣờng và xã hội.
- Góp phần duy trì và củng cố sức khỏe của SV, phát triển cơ thể một cách
hài hòa, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thói quen xấu
(nghiện rƣợu, hút thuốc lá), rèn luyện thân thể đạt những chỉ tiêu thể lực quy
định cho từng đối tƣợng và năm học trên cơ sở tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo
lứa tuổi.
1.3.3. Hình thức giảng dạy
Nội dung chƣơng trình GDTC trong các trƣờng Đại học và Cao đẳng
đƣợc tiến hành trong cả quá trình học tập của học sinh - sinh viên trong nhà
trƣờng bằng các hình thức:
- Giờ học TDTT chính khoá: Là hình thức cơ bản nhất của GDTC đƣợc
tiến hành trong kế hoạch học tập của nhà trƣờng. Đào tạo cơ bản về thể chất,
thể thao cho SV là nhiệm vụ cần thiết, trƣớc hết chƣơng trình phải có cấu trúc
nội dung thích hợp để phát triển các tố chất thể lực và phối hợp vận động cho
SV. Đồng thời, giúp các em có trình độ nhất định để tiếp thu đƣợc các kỹ
thuật động tác GDTC theo chƣơng trình.
Với mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể chất và thể thao
trong trƣờng học là: "Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong
thể chất và thể thao của học sinh, phát triển các tố chất thể lực, phát triển
năng lực tâm lý, tạo ý thức tập luyện TDTT thường xuyên, giáo dục được đức
tính cơ bản và lòng nhân đạo cho học sinh".
Do vậy, giờ học chính khoá môn học GDTC mang tính hành chính
pháp quy, quy định đối với SV và cán bộ giảng dạy. Đó là, giờ học theo
chƣơng trình có quy định thời gian và quy cách đánh giá chất lƣợng, đƣợc bố
trí theo kế hoạch và có sự kiểm tra giám sát của Nhà nƣớc. Giờ học chính
khoá đã đƣợc Luật Giáo dục cũng nhƣ Luật GDTC thể thao quy định bắt
buộc.
- Giờ học ngoại khoá - tự tập luyện TDTT: Là quá trình tập luyện của
quan tâm đến mục tiêu hình thành kiến thức và kỹ năng cho ngƣời học. Trong
việc lựa chọn phƣơng pháp và hình thức tổ chức giảng dạy, cần tăng cƣờng sử
dụng phƣơng pháp, hình thức tổ chức nhằm kích thích đƣợc sự chủ động, tự
giác, tích cực của học sinh, biến quá trình “được học” thành quá trình “tự
học”.
1.4.1.1. Dạy học là một quá trình hai chiều
Dạy - học là hoạt động đƣợc diễn ra dƣới sự lãnh đạo, tổ chức và điều
khiển của giáo viên. Ngƣời học tự giác, tích cực, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt
động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ đề ra. Hoạt động dạy và
học có tác động qua lại lẫn nhau. Nếu thiếu một trong hai hoạt động đó, thì việc
dạy- học không diễn ra. Ngƣời học chủ động tự giác, tích cực sẽ là động lực để
nâng cao hiệu quả học tập.
Giáo viên cần tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của học sinh một
cách khoa học để đạt tới mục tiêu dạy học. Khi ngƣời học chủ động, tự giác, tích
cực tham gia học tập sẽ giúp họ phát triển năng lực tƣ duy, sáng tạo, nghiên cứu
tìm tòi cách thức, phƣơng pháp học tập, tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động học
tập của mình.
1.4.1.2. Mục tiêu dạy học
“Quá trình dạy học có ba mục tiêu gắn bó chặt chẽ, có mối quan hệ
biện chứng với nhau. Mỗi mục tiêu vừa là tiền đề vừa là hệ quả của các mục
tiêu khác - từ đó, tạo nên một vòng tròn khép kín để thực hiện mục đích giáo
dục tổng thể” [13, 17]. Mục tiêu của quá trình dạy học là giúp học sinh nắm
vững hệ thống kiến thức khoa học, cách thức luyện tập để hình thành hệ thống
kĩ năng, kĩ xảo - qua đó, hình thành thái độ tích cực đối với cuộc sống.