BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM THỊ TOÀN
NGÔN NGỮ THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam trung đại
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Lã Nhâm Thìn
HÀ NỘI, 2017
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi.
Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực. Kết quả
nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó.
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình.
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Toàn
2
7
13
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
13
5. Phương pháp nghiên cứu
14
6. Đóng góp của đề tài
14
7. Cấu trúc của luận văn
15
NỘI DUNG
16
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ 16
TÀI
1. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ thơ và văn hóa
16
1.1. Ngôn ngữ thơ
16
người Việt
3.3. Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi với sự thể hiện tính linh hoạt “tùy cơ 115
ứng biến” của người Việt
3.4. Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi với sự thể hiện tinh thần “chú trọng 119
thực tiễn” của người Việt
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
125
PHỤ LỤC
136
131
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Về khoa học
Nguyễn Trãi không chỉ là anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới mà
còn là một nhà thơ lớn của dân tộc. Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của ông
được nhiều nhà khoa học nhân văn nghiên cứu và cho thấy trên nhiều phương diện
khác nhau, Nguyễn Trãi đã được định vị bậc vĩ nhân bởi những cống hiến to lớn
cho lịch sử văn hóa nước nhà. Xét về lĩnh vực văn học, có thể nói thơ Nôm Đường
luật nói chung và thơ Nôm Nguyễn Trãi nói riêng là một hiện tượng đặc sắc của nền
văn học trung đại Việt Nam. Việc nghiên cứu và tìm hiểu những giá trị đặc sắc của
thơ Nôm Nguyễn Trãi từ góc nhìn văn hóa như một sự thể nghiệm, biện giải ngôn
ngữ văn chương cổ điển và văn hóa thông qua các mối quan hệ biện chứng giữa
chúng.
1.2. Về thực tiễn
Từ lâu, tác giả Nguyễn Trãi cùng với những kiệt tác của ông, trong đó có thơ
Nôm được đưa vào giảng dạy và nghiên cứu từ bậc trung học đến bậc đại học. Song
để hiểu một cách thấu đáo về giá trị của nó không phải là điều dễ dàng. Vì thế, việc
tìm hiểu một số vấn đề có tính chất lí thuyết về các ngữ liệu văn hóa trong ngôn ngữ
thơ Nôm Nguyễn Trãi, đặc biệt là những ý nghĩa hàm ẩn, các tầng nghĩa văn hóa
của chúng trong những ngữ cảnh cụ thể sẽ góp phần tích cực nâng cao chất lượng
học tập, nghiên cứu, giảng dạy thơ Nôm Nguyễn Trãi trong nhà trường.
2. Lịch sử vấn đề
Những năm đầu thập niên 60 của thế kỉ XX, ở Việt Nam, có một tác phẩm
văn học gây được sự chú ý cho các nhà dịch thuật, nghiên cứu, phê bình văn học
trong và ngoài nước. Đó chính là bản thơ Nôm Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.
Sự phát hiện ra tập thơ này là một mốc quan trọng trong nghiên cứu văn chương Ức
Trai. Quốc âm thi tập đánh dấu sự trưởng thành của ngôn ngữ văn học và văn hóa
dân tộc. Tập thơ không chỉ là tác phẩm đầu tiên viết bằng ngôn ngữ dân tộc hiện
còn mà còn khẳng định vai trò quan trọng của tiếng Việt cũng như văn hóa Việt.
Qua những tư liệu hiện có, theo chúng tôi, lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nôm
Nguyễn Trãi có thể khái quát thành các hướng như sau:
2.1. Nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi
7
Với 254 bài thơ trong Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã huy động một vốn từ
phong phú, đa dạng và liên kết chúng thành một hệ thống ngữ liệu đặc sắc tạo nên
những thần cú trong văn học cổ điển Việt Nam. Chính vì vậy, nghiên cứu về
phương diện ngôn ngữ của Quốc âm thi tập có khá nhiều những công trình có giá
có Nguyễn Sĩ Cố, Chu An, Lê Qúy Ly là những người đầu tiên xây dựng lâu đài thi
ca Việt Nam. Nhưng đó là buổi đầu còn sơ sài. Phải chờ đến Nguyễn Trãi, thi ca
mới nở trọn vẹn những cánh hoa muôn màu sắc rực rỡ” [47, 956]. Những cánh hoa
muôn màu sắc rực rỡ đó được kết tinh từ “kho tàng văn chương bình dân cùng hòa
hợp với tinh hoa của văn chương Trung Hoa” [47,967]. Như vậy, tác giả đã khẳng
định Quốc âm thi tập được viết bằng chữ Nôm trên cơ sở một số thi liệu Trung
Quốc đã được Việt hóa và đặc biệt chủ yếu từ tài nguyên phong phú của nền văn
chương Việt Nam là ca dao, tục ngữ của dân gian. Tác giả còn khẳng định Quốc âm
thi tập thể hiện “tinh thần khai phóng….rộng rãi chào đón những nguồn văn
chương…thâu thái những tinh hoa của người làm của mình”[47,959] và quan trọng
hơn là ý thức gìn giữ vốn ngôn ngữ dân tộc của tác giả, xem đó là những đóng góp
đáng quý của Nguyễn Trãi.
Trong bài viết “Một số nhận xét bước đầu về ngôn ngữ trong thơ Nguyễn
Trãi”, sau khi nhận xét ngôn ngữ trong thơ chữ Hán, hai tác giả Nguyễn Tài Cẩn và
Vũ Đức Nghiệu có đánh giá về ngôn ngữ trong thơ Nôm: “Nói đến ngôn ngữ trong
thơ Nôm Nguyễn Trãi, điểm đầu tiên nổi bật là sự phong phú của tác giả về mặt
dùng từ” [4,181]. Các tác giả đã thống kê trong Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã sử
dụng hơn một vạn một ngàn lượt từ (11067) trong đó có tất cả 2235 từ khác nhau.
Các tác giả còn thống kê chi tiết số từ xuất hiện một lần (2112) cho đến những từ
xuất hiện từ mười lần trở lên (272). “Thế là trong kho từ của Quốc âm thi tập, gần
46 trường hợp Nguyễn Trãi đã không dùng từ lặp lại một lần nào- một tỉ lệ khá cao
nếu đem so sánh ngay với cả thể loại truyện kí của các nhà văn hiện đại”[4,182].
Điều đó chứng tỏ khả năng vận dụng phong phú, điêu luyện của Nguyễn Trãi. Cuối
cùng các tác giả còn khẳng định vai trò của Nguyễn Trãi đối với nền thơ ca dân tộc:
“Chúng ta quý Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta khá nhiều thơ Nôm. Nhưng còn
đáng quý hơn nữa là Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta không phải lối thơ Nôm
bác học mà là lối thơ Nôm viết bằng ngôn ngữ đậm đà màu sắc dân tộc”[4,183].
9
10
Bằng việc tìm hiểu vốn từ, những nét đặc trưng về cách sử dụng từ ngữ trong
Quốc âm thi tập trong luận án tiến sĩ Ngôn ngữ và thể thơ trong Quốc âm thi tập
của Nguyễn Trãi, tác giả Phạm Thị Phương Thái đã đưa ra những nhận định về việc
xây dựng ngôn ngữ tiếng Việt văn hóa từ ngôn ngữ thông tục của Nguyễn Trãi: “là
một nhà văn hóa, tư tưởng có tầm nhìn chiến lược, Nguyễn Trãi ý thức sự cần thiết
xây dựng ngôn ngữ văn hóa” và “hạt nhân cơ bản của ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn
Trãi là tiếng Việt” [37,101]. Tác giả đã lí giải nguyên nhân dẫn đến ý thức đó là do
đòi hỏi của xã hội cũng như ảnh hưởng và tiềm năng diễn đạt của ngôn ngữ bình
dân nên đã thôi thúc Nguyễn Trãi đưa khẩu ngữ vào trong tác phẩm của mình. Như
vậy, việc vận dụng lời ăn tiếng nói, lối diễn đạt trong đời sống hàng ngày vào thơ
Nôm đã cho thấy Nguyễn Trãi là người có ý thức đưa khẩu ngữ vào trong văn học
viết. Đồng thời nhà thơ đã đưa tiếng Việt giao tiếp thành tiếng Việt văn hóa. Qua
đó, tác giả cũng khẳng định “với Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã có công rất lớn
trong việc xây dựng ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ văn hóa từ ngôn ngữ giao tiếp
thông thường” [37, 104].
2.2. Nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi từ góc nhìn văn hóa
Điểm lại các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trong Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi, chúng tôi nhận thấy, các nhà nghiên cứu chủ yếu tìm hiểu đặc điểm
của ngôn ngữ mà chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ
thơ Nôm Nguyễn Trãi từ góc nhìn văn hóa. Tuy vậy, một số bài viết về Quốc âm thi
tập cũng đã ít nhiều đề cập đến yếu tố văn hóa trên phương diện ngôn ngữ. Ở hướng
nghiên cứu này, các bài viết đã phát hiện được những nội dung mới trong thơ quốc
âm của Nguyễn Trãi, chủ yếu khai thác những vấn đề thuộc về bản sắc dân tộc gắn
với văn hóa, văn học Việt Nam.
Đầu tiên phải kể đến công trình “Âm vang tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi
tập của Nguyễn Trãi” của Bùi Văn Nguyên. Tác giả khẳng định ý thức “trân trọng
tiếng nói của tổ tiên”, giá trị lao động nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Trãi “dần dần
lần dùng một từ Hán để thay thế cho một từ tương đương gốc Việt. Hoàng Tuệ cho
rằng, do nước ta bị phương Bắc đô hộ, chế độ phong kiến kéo dài, “sự tiếp xúc giữa
tiếng Việt với tiếng Hán đã diễn ra rất lâu dài. Việc tiếp nhận của tiếng Hán những
ảnh hưởng về từ vựng, về cả những mặt khác, là hiện tượng không thể nào không
xảy ra” [48,825]. Dù Nguyễn Trãi có sử dụng từ vựng Hán, song Hoàng Tuệ vẫn
12
đánh giá rất cao cống hiến của Nguyễn Trãi: “Cống hiến của Nguyễn Trãi đối với
tiếng Việt, đó là cống hiến thật lớn lao! Nếu như về tiếng Việt, đến thế kỉ XIX,
Nguyễn Du sẽ tạo nên được niềm tự hào, thì ở thế kỉ XV, điều mà Nguyễn Trãi đã
xây dựng nên được, là niềm tin. Nguyễn Trãi- người mở đầu gian khổ và xuất sắc
sự nghiệp lớn lao của tiếng Việt văn học” [48,826].
Nhìn nhận lịch sử nghiên cứu, các bài viết liên quan đến thơ Nôm Nguyễn
Trãi, chúng tôi thấy có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau, khai thác trên nhiều khía
cạnh. Tuy ở mỗi mức độ và tính chất khác nhau nhưng nhìn chung các bài viết đều
có xu hướng qua thơ Nôm của ông để khẳng định, ca ngợi những đóng góp của tác
giả Quốc âm thi tập về phương diện ngôn ngữ đối với nền văn học viết bằng tiếng
Việt. Có lẽ trong khuôn khổ và giới hạn của bài viết, các tác giả chưa có điều kiện
đi sâu phân tích cụ thể và làm sáng tỏ tất cả những giá trị ngôn ngữ thơ Nôm
Nguyễn Trãi. Nghiên cứu “Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi từ góc nhìn văn hóa”,
chúng tôi mong muốn góp thêm một cái nhìn mới về phương diện ngôn ngữ của
Quốc âm thi tập - tác phẩm mở đầu của nền thơ ca tiếng Việt nước ta.
3. Đối tƣợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi lấy 254 bài thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn
Trãi làm đối tượng khảo sát và nghiên cứu để đi đến những nhận định khoa học về
các yếu tố văn hóa biểu hiện trên phương diện ngôn ngữ của tập thơ.
Đối tượng văn bản khảo sát và nghiên cứu, chúng tôi sử dụng công trình
6. Đóng góp của đề tài
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ có những đóng góp:
- Phân tích, lí giải những đặc trưng, hiệu quả ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi về
phương diện văn hóa, góp phần làm sáng tỏ thêm giá trị văn chương của Nguyễn
Trãi trong lịch sử văn học dân tộc.
- Việc giải mã những nét đặc sắc văn hóa của người Việt thông qua ngôn ngữ là một
hướng đi khá mới mẻ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy văn chương Nguyễn
Trãi trong nhà trường và giảng dạy các bộ môn khoa học có liên quan như Cơ sở
văn hóa Việt Nam.
14
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung luận văn
gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung có liên quan tới đề tài
Chương 2: Hệ thống ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi từ góc nhìn văn hóa
Chương 3: Đặc sắc văn hóa của hệ thống ngôn ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi.
15
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ thơ và văn hóa
1.1. Ngôn ngữ thơ
Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của nghệ thuật văn chương hay nói cách khác
văn chương là nghệ thuật ngôn ngữ. Ngôn ngữ là yếu tố bao trùm, là chất liệu tạo
mang ý nghĩa một thông báo nghệ thuật. Ngoài yêu cầu các tín hiệu ngôn ngữ trong
thông báo phải đúng, chính xác trên các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, phong
cách dùng từ, thông báo nghệ thuật còn có một yêu cầu quan trọng nữa là phải có
lượng thông tin nghệ thuật. Nghĩa là phải có một nội dung thông báo mới và một
cách nói mới có ý nghĩa thẩm mĩ. Tính khái quát, mục đích nghệ thuật và giá trị của
tác phẩm thơ mà nói chung là ngôn ngữ thơ nói riêng bộc lộ ở đây.
Ngôn ngữ thơ phải mang trong nó cái thẩm mĩ, cái đẹp gợi cảm về nghệ
thuật. Phẩm chất ấy vừa có ý nghĩa cái thẩm mĩ chung tức là khêu gợi đánh thức ở
người cảm thụ một khoái cảm nghệ thuật lại vừa có ý nghĩa riêng mang chất thơ
trong bản thân nó. Chất thơ có khắp nơi trong cuộc sống bởi vì bản chất của sự
sống- sự phát triển của thế giới, các hiện tượng trong dân gian phù hợp với quy luật
chung của nó trong lịch sử.
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ đẹp- cái đẹp của sự đúng, chính xác, hài hòa, gợi
cảm. Nó là ngôn ngữ hình tượng giàu màu sắc, âm thanh làm cho người ta dễ cảm,
gợi nhưng liên tưởng sâu sắc, tinh tế, thú vị. Đó là thứ ngôn ngữ nói ít, gợi nhiều tạo
được một chiều sâu suy nghĩ về nhiều phương diện và một sự linh hoạt nhiều tầng
bậc trong hình ảnh ngữ nghĩa.
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ có tính nhạc tác động vào người đọc, người nghe
bằng những dao động của âm thanh tạo nên những cảm hứng có tính chất đặc thù.
Bài thơ không phải là nhạc phẩm nhưng có nhiều yếu tố âm nhạc như vần, điệu
thường tạo ra một mạch âm hưởng gây cho ta một xúc động riêng, những suy cảm
âm nhạc riêng theo nhiều cung bậc khác nhau khi sâu lắng, dịu dàng, sôi nổi, nhiệt
tình, khi ngọt ngào, khi cay đắng….bởi những vần, nhịp lúc êm ái, thâm trầm, lúc
âm vang, dồn dập.
17
Ngôn ngữ trong thơ rất quan trọng, biến động và đa dạng tạo nên sức sống
cho tác phẩm thơ. Tuy nhiên, một đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ là “nhà
(1998), nhà nghiên cứu Nguyễn Lai khi bàn về mối quan hệ giữa văn học và ngôn
ngữ với văn hóa cho rằng “ở đây có một vấn đề gì đó nằm trong chiều sâu hơn cần
đặt ra. Đó là sự hình thành ngôn ngữ là tiền đề nhiều mặt của sự hình thành văn
hóa, mặc dù xếp theo hình thức thì ngôn ngữ nằm trong phạm trù văn hóa”[19,5].
Còn nhà nghiên cứu F. Engels cho rằng ngôn ngữ phát triển cùng với sự phát triển
của “con người xã hội”. Như vậy, theo cách đánh giá này thì ngôn ngữ không chỉ là
phương tiện, là tiền đề tạo ra văn hóa mà nó có còn có tác động lớn đến sự hình
thành và phát triển của văn hóa đặc biệt là trong việc phát triển “con người xã hội”.
Trong quá trình phát triển của ngôn ngữ trong văn học cổ điển nói chung và
trong thơ ca cổ điển nói riêng gắn với sự hình thành và phát triển văn hóa của cộng
đồng trong thời kì tương ứng. Thế kỉ XV, ngôn ngữ thơ xuất hiện rất nhiều nhưng
thuật ngữ của Nho giáo như nhân nghĩa, trung hiếu, thiên mệnh…. Qua ngôn ngữ
thơ này cho thấy sự du nhập và ảnh hưởng, hình thành nên nét văn hóa của người
Việt từ những ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa.
Ngôn ngữ được coi là phương tiện duy nhất có khả năng giải mã cho tất cả các
loại hình gắn liền với các phạm trù văn hóa. Ngôn ngữ có thể tạo nên những bước
trưởng thành về mặt văn hóa của cộng đồng. Ngôn ngữ thơ cũng là ngôn ngữ biểu
hiện trực tiếp của tư duy, “là ý thức thực tại, thực tiễn”, vì thế ngôn ngữ thơ cũng có
khả năng giải mã các phạm trù văn hóa gắn với từng thời đại cụ thể. Theo nhà
nghiên cứu Lã Nhâm Thìn, hệ thống ngôn ngữ từ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi
đến thơ Hồ Xuân Hương có cả thành phần ngôn ngữ dân tộc và thành phần ngôn
ngữ ngoại nhập, điển cố, thi liệu Hán học. Tuy nhiên tỉ lệ từ Hán Việt thấp hơn
nhiều so với từ Thuần Việt và cùng với điển cố, thi liệu Hán học đã giảm dần từ
Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương[40,121]. Điều đó cho thấy ý thức dân tộc của các
nhà thơ theo từng thời kì đã được nâng lên và phản ánh xu hướng văn hóa của các
nhà thơ hướng tới sự dân dã, bình dị, hài hòa với thiên nhiên, với con người, với
cộng đồng. Bên cạnh đó, trong sáng tác của Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn đã
được vận dụng uyển chuyển hệ thống ngôn ngữ biểu trưng, ước lệ, cổ kính. Đó
không chỉ thể hiện đặc trưng nghệ thuật, tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ mà
ngôn ngữ. Hơn thế, nhờ ngôn ngữ mà văn hóa có thể bảo tồn và phát huy triển qua
tiến trình lịch sử của dân tộc. Nhà nghiên cứu Trần Trí Dõi trong Ngôn ngữ và sự
phát triển văn hóa xã hội [8] cho rằng khảo sát mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn
20
ngữ sẽ góp phần đi sâu lí giải về bản chất xã hội và chức năng văn hóa đích thực
của ngôn ngữ. Ngôn ngữ không chỉ có chức năng lưu giữ, bảo tồn mà còn đóng vai
trò quan trọng trong quá trình sáng tạo, thúc đẩy sự phát triển của văn hóa.
Đã từ lâu, ngôn ngữ được xem là yếu tố thứ nhất của nghệ thuật văn chương
hay nói ngược lại văn chương là nghệ thuật ngôn từ. Không có ngôn từ thì không
thể có văn chương. Ngôn ngữ có vai trò to lớn, quyết định đến văn chương như màu
sắc đối với hội họa, tiết tấu đối với âm nhạc. Ngay từ khi chưa có chữ viết, văn học
dân gian đã ra đời và phản ánh những tâm tư, tình cảm, ước muốn, những đặc trưng
văn hóa của dân tộc được thể hiện dưới hình thức văn học truyền miệng. Sau này
khi chữ viết được xác lập, văn học viết ra đời đã tạo điều kiện để văn hóa dân tộc
được bảo tồn và phát triển một cách tốt hơn. Xét về mặt thể loại văn chương, thơ ca
là thể loại có lợi thế ở bản chất trữ tình, ở tiết tấu, nhịp điệu nên thơ ca vẫn là thể
loại chủ đạo được người sáng tác lựa chọn nhiều hơn cả. Ngôn ngữ thơ có khả năng
diễn đạt những rung cảm của tâm hồn nghệ sĩ và tìm được sự đồng cảm đồng điệu
với tâm hồn độc giả. Vì thế mà những đặc trưng văn hóa của dân tộc có điều kiện
lan tỏa trong cộng đồng đến với thế hệ sau. Ta có thể nhận thấy trong kho tàng văn
hóa dân gian của mỗi dân tộc đã lưu giữ hàng vạn những câu ca dao từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Đến khi văn học viết được hình thành, thơ ca vẫn là thể loại chủ
đạo thực hiện những chức năng văn học. Thậm chí có những sáng tác thể hiện
những câu chuyện về cuộc đời con người nhưng vẫn tìm đến hình thức thơ ca như
thể loại truyện thơ dân gian như Tiễn dặn người yêu hoặc truyện thơ Nôm như
Truyện Kiều, Hoa Tiên, Sơ kính tân trang….
Như vậy, có thể nói ngôn ngữ văn chương nói chung và ngôn ngữ thơ nói riêng
học chữ Nôm. Trong quá trình phát triển, văn học chữ Nôm được khẳng định bằng
rất nhiều những tên tuổi lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du,
Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyễn….Quốc âm thi tập của Nguyễn
Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du là những kiệt tác trong dòng chảy của văn học
chữ Nôm.
Chữ Nôm xuất hiện và trở thành ngôn ngữ của thơ đã tạo điều kiện thuận lợi
cho văn học dân tộc phát huy những tinh hoa văn học dân tộc đồng thời là chiếc cầu
nối giữa văn học bác học và văn học bình dân. Với ngôn ngữ thơ Nôm, các nhà thơ
thời trung đại đã có thể đưa vào trong tác phẩm của mình những ngôn từ mộc mạc,
22
những hình ảnh dân dã gắn với thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam mà
không hề gò ép, gượng gạo. Ngôn ngữ thơ Nôm trở thành một phương tiện đắc lực
để các nhà thơ thể hiện được đầy đủ những nét văn hóa của người Việt- điều mà
ngôn ngữ thơ chữ Hán không thể chuyển tải hết.
Xét theo định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm thì chữ Nôm là một sản
phẩm của văn hóa trên cả phương diện vật chất và tinh thần do ông cha ta sáng tạo
ra trong quá trình hoạt động sáng tác văn học. Phương diện vật chất của chữ Nôm là
hệ thống kí tự của chữ viết, phương diện tinh thần là chữ Nôm đem lại cho con
người những giá trị thẩm mĩ mới trong văn chương.
1.4. Quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Trãi với thơ Nôm Nguyễn Trãi từ góc
nhìn văn hóa
1.4.1. Cơ sở hình thành quan niệm thẩm mĩ của Nguyễn Trãi
1.4.1.1. Truyền thống văn hóa của gia đình- dòng họ
Ngay từ khi còn nhỏ, Nguyễn Trãi đã được sống trong một môi trường giáo
dục thuận lợi. Cha là Nguyễn Ứng Long từng đỗ Đệ nhất giáp, Đệ nhị danh, tứ bản
nhãn (1374). Mẹ là Trần Thị Thái - vốn là người có học hành đến nơi đến chốn. Đặc
biệt từ lúc sinh ra cho đến khi lên mười, Nguyễn Trãi được ông ngoại Trần Nguyên
làm bài giảng mà ông còn “chuyên chú chép truyện trồng cây để dạy bảo trẻ nhỏ”.
Có lẽ chính những bài giảng đầu tiên của Nguyễn Ứng Long đã bồi đắp, nuôi dưỡng
cho Nguyễn Trãi tình yêu đối với cỏ cây nói riêng và đối với thiên nhiên nói chung.
Ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn (1940), Hồ Qúy Ly lật đổ nhà Trần, dựng ra
nước Đại Ngu. Nguyễn Ứng Long được bổ làm quan. Ông đổi tên thành Nguyễn
Phi Khanh và dũng cảm ra làm quan cho nhà Hồ khi nhà Trần sụp đổ (trái với quan
niệm chính thống “tôi trung không thờ hai chủ”). Một con người hiểu nhân tình thế
thái, kiên trì chí hướng ra làm quan để cứu nước, giúp đời trong suốt 26 năm ròng
đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Nguyễn Trãi. Vì thế cũng trong năm này, nhà
Hồ mở khoa thi đầu tiên. Nguyễn Trãi đã ra thi và đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ), sau đó
ra làm quan cho nhà Hồ cùng cha thực hiện lí tưởng giúp dân, giúp nước.
Năm 1406, giặc Minh do Trương Phụ chỉ huy mở cuộc xâm lược nước Đại
Ngu. Nhà Hồ mang quân ra chống cự nhưng bị quân Minh đánh bại. Cha con Hồ
Qúy Ly và các triều thần bị bắt đưa về Trung Quốc trong đó có Nguyễn Phi Khanh.
Nguyễn Trãi và em là Nguyễn Phi Hùng đã đi tìm cha và theo đoàn xe tù lên ải
24
Nam Quan với ý định sang bên kia biên giới để hầu hạ cha già trong lúc bị cầm tù.
Nhận thức được chuyến đi này sẽ không bao giờ được trở về Tổ quốc và nhận thấy
được năng lực của Nguyễn Trãi, Nguyễn Phi Khanh đã dặn con rằng: “Con là người
có học, có tài nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới là đại
hiếu” rồi bảo Nguyễn Trãi quay trở về. Thấy lời dạy của cha là chí lí, Nguyễn Trãi
gạt nước mắt quay trở lại. Qua bao nhiêu gian khổ, nhọc nhằn, ông cùng Lê Lợi và
nghĩa quân Lam Sơn đánh bại quân Minh xâm lược đưa đất nước bước vào một thời
kì phát triển hưng thịnh.
Nguyễn Trãi không chỉ có ảnh hưởng từ gia đình mà còn có sự ảnh hưởng
không nhỏ từ dòng họ. Trở về với gốc tích cội nguồn họ Nguyễn ở thôn Chi Ngại,
truyền thuyết của dòng họ kể rằng: Tổ tiên dòng họ là Thái Tể triều Đinh- Định