BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----------------------------------------------
DƯƠNG THỊ KIM HOÀNG
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
Chuyên ngành
: Tài chính – Ngân hàng
Mã số chuyên ngành
: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học:
TS. DƯƠNG QUỲNH NGA
TP. Hồ Chí Minh, Năm 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn nghiên cứu với nội dung “Các yếu tố ảnh hưởng
đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai
đoạn 2011 - 2015” là bài nghiên cứu của chính tôi.
tôi thực hiện chạy mô hình hồi quy của luận văn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn gia đình, người thân và bạn bè đã ủng hộ và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn và mãi mãi khắc ghi!
TP.HCM, ngày 26 tháng 10 năm 2016
Dương Thị Kim Hoàng
ii
TÓM TẮT
Luận văn này được thực hiện với mục tiêu nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai
đoạn 2011 – 2015. Trong đó, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) được thể hiện bằng
chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi chia cho tổng tài sản của ngân hàng. Ngoài
ra, các biến độc lập gồm có: chỉ số HHI, chỉ số Lerner, thị phần, dự trữ, quy mô ngân
hàng, rủi ro tín dụng và chi phí hoạt động nhằm đánh giá tác động của các yếu tố này
đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.
Luận văn tiến hành kiểm định giả thuyết nghiên cứu dựa trên dữ liệu bảng cân
bằng được lấy từ mẫu nghiên cứu bao gồm 27 ngân hàng thương mại cổ phần Việt
Nam trong giai đoạn 2011 - 2015. Luận văn thực hiện hồi quy với 2 phương pháp
thường được sử dụng với dữ liệu bảng là mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình
tác động ngẫu nhiên (REM). Sau khi thực hiện các bước lựa chọn giữa FEM và REM,
và kiểm định những vi phạm của mô hình, luận văn sử dụng mô hình phù hợp nhất là
mô hình PCSE (mô hình sau khi xử lý vi phạm của mô hình FEM) để phân tích kết
quả thực nghiệm.
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, các yếu tố bao gồm chỉ số HHI, chỉ
số Lerner, dự trữ, chi phí hoạt động có ảnh hưởng cùng chiều lên tỷ lệ thu nhập lãi cận
biên, trong khi yếu tố quy mô ngân hàng có ảnh hưởng ngược chiều lên tỷ lệ thu nhập
2.1.2.2. Giả thuyết Sức mạnh thị trường tương đối (RMP) …………………….10
2.1.3. Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES) …………….……………………………. 10
2.1.4. Hai cách tiếp cận phổ biến mô hình thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng
đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng ……………………………………. 11
2.1.4.1. Theo mô hình lý thuyết công ty ………………………..………...……... 12
iv
2.1.4.2. Theo mô hình đại lý ………..………………………………………..….. 13
2.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng……17
2.2. Các nghiên cứu trước …………………………………………………………. 19
2.2.1. Các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên xuyên
quốc gia ……………………………………………………………………………... 19
2.2.2. Các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của
quốc gia riêng lẻ ……………………………………………………………………..21
2.2.3. So sánh với các nghiên cứu trước ………………………………………….23
2.2.3.1. Giống nhau ……………………………………………………………… 23
2.2.3.2. Khác nhau ………………………………………………………………. 23
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU.. 25
3.1. Giả thuyết nghiên cứu ………………………………………………………… 25
3.1.1. Chỉ số sự tập trung thị trường (Herfindahl-Hirschman – HHI) …………. 25
3.1.2. Chỉ số sự cạnh tranh của thị trường (Lerner – LI)………………………...28
3.1.3. Thị phần (Market Share – MS)…………………………………………….. 29
3.1.4. Dự trữ (Reserves – RES)……………………………………………...……..31
3.1.5. Quy mô ngân hàng (SIZE)…………………………………………………. 32
3.1.6. Rủi ro tín dụng (Credit risk – CR)……………………………….………….34
3.1.7. Chi phí hoạt động (Operating cost – OC)………………………………….. 36
3.2. Mô hình nghiên cứu ……………………………………………………………38
3.3. Đo lường các biến ……………………………………………………………... 40
3.3.1. Biến phụ thuộc ……………………………………………………………... 40
4.4.6. Thị phần (MS)………………………………………………………………. 67
4.4.7. Rủi ro tín dụng (CR)………………...……………………………………… 68
vi
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……………………………………... 70
5.1. Kết luận …………………………………………………………………………70
5.2. Kiến nghị ……………………………………………………….……………….71
5.3. Đóng góp của đề tài …………………………………….………………………72
5.4. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo ……………………………………... 73
5.4.1. Hạn chế……………………………………………………………………... 73
5.4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo………………………………………………...74
TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………... 75
PHỤ LỤC …………………………………………………………………………… 82
Phụ lục A: Dữ liệu bảng cân bằng ………………………………………………………… 82
Phụ lục B: Danh sách các NH trong nghiên cứu………………………………………… 85
Phụ lục C: Thống kê mô tả …………………………………………………………………. 87
Phụ lục D: Ma trận hệ số tương quan ……………………………………………………..87
Phụ lục E: Kiểm định VIF …………………………………………………………………...88
Phụ lục F: Mô hình FEM …………………………………………………………………… 88
Phụ lục G: Mô hình REM ……………………………………………………………………89
Phụ lục H: Kiểm định Hausman …………………………………………………………… 90
Phụ lục I: Kiểm định Wald …………………………………………………………………. 90
Phụ lục J: Kiểm định Wooldridge………………………………………………………….. 91
Phụ lục K: Mô hình PCSE ………………………………………………………………… 91
vii
OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development)
PCSE: Linear Regression with Panel-Corrected Standard Errors
Pooled OLS: Mô hình hồi quy kết hợp tất cả các quan sát
REM: Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random effects model)
RMP: Relative Market Power
SCP: Structure – Conduct – Performance
SEE: Đông Nam Châu Âu (South Eastern European)
TMCP: Thương mại cổ phần
ix
Các yếu tố ảnh hưởng đến NIM của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Lý do nghiên cứu
Ngân hàng thương mại là một trong những chủ thể kinh tế có vai trò quan trọng
trong nền kinh tế của một quốc gia. Đặc biệt đối với một nước có nền kinh tế vẫn còn
phụ thuộc vào sự hiện diện của các ngân hàng là nguồn tài trợ chính cho các hoạt
động kinh tế. Ở cấp độ kinh tế vĩ mô, ngân hàng là một trong những phương tiện để
truyền tải chính sách tiền tệ; trong khi đó ở cấp độ kinh tế vi mô, ngân hàng cung cấp
nguồn vốn chính cho các doanh nghiệp và cá nhân (Koch và MacDonald, 2000).
Vì chức năng trung gian tài chính do ngân hàng thực hiện có ảnh hưởng đến sự
tăng trưởng kinh tế và ổn định nền kinh tế của một quốc gia, các ngân hàng thương
mại được yêu cầu phải có một hiệu suất tốt. Ngược lại, các ngân hàng hoạt động kém
dẫn đến thất bại của ngân hàng có thể kích hoạt một cuộc khủng hoảng niềm tin vào
hệ thống ngân hàng và dẫn đến một sự suy giảm trong tăng trưởng kinh tế hoặc dẫn
đến tăng trưởng kinh tế âm. Như vậy, nếu ngành ngân hàng là phát triển mạnh và có
khả năng tạo ra lợi nhuận, nó sẽ có thể chịu được những cú sốc và đóng góp vào sự ổn
định của hệ thống tài chính (Athanasoglou và ctg, 2005). Trong một đất nước mà
ngành tài chính bị chi phối bởi các ngân hàng thương mại, bất kỳ sự thất bại trong lĩnh
sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu là thu từ các khoản cho vay, đầu tư và phí
dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những
khoản vay trên thị trường tiền tệ) (Rose, 1999). Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là một
thước đo quan trọng đối với ngân hàng vì nó thường chiếm từ 70 – 85% tổng thu nhập
của ngân hàng. Tỷ lệ này càng cao, thì lợi nhuận của ngân hàng càng cao (Phạm
Hoàng Ân và Nguyễn Thị Ngọc Hương, 2013). Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học
để các nhà quản trị ngân hàng có thể đưa ra các quyết định hợp lý, mang lại hiệu quả
cao cho ngân hàng của mình, làm cho cổ phiếu ngành ngân hàng có sức hấp dẫn hơn
trên thị trường. Đồng thời, các nhà quản lý chính sách cũng có thể dựa vào kết quả
nghiên cứu để đưa ra các quyết định có lợi ích cho xã hội. Vì vậy, đề tài nghiên cứu
“Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương
mại Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2015” là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu ảnh hưởng của 7 yếu tố bao gồm: chỉ số HHI, chỉ số
Lerner, thị phần, dự trữ, quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng và chi phí hoạt động đến tỷ
lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2015.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
•
Trong các yếu tố bao gồm chỉ số HHI, chỉ số Lerner, thị phần, dự trữ, quy mô
ngân hàng, rủi ro tín dụng và chi phí hoạt động, yếu tố nào ảnh hưởng đến tỷ lệ thu
Dương Thị Kim Hoàng – Lớp MFB5A
Trang 2
Các yếu tố ảnh hưởng đến NIM của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015
nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2011 2015?
•
Dương Thị Kim Hoàng – Lớp MFB5A
Trang 3
Các yếu tố ảnh hưởng đến NIM của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015
tác động ngẫu nhiên (REM), sau đó thực hiện các kiểm định để lựa chọn mô hình phù
hợp cho phân tích mối quan hệ giữa các biến. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các
báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 27 NHTM Việt Nam được khảo sát trong
thời gian từ 2011 – 2015. Sau khi thu thập dữ liệu cần thiết, tác giả sẽ tính toán và đưa
vào mô hình hồi quy đa biến nhằm xác định các yếu tố cũng như mức độ tác động của
các biến này đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NHTM Việt Nam. Dữ liệu sau khi
được thu thập, tính toán bằng phần mềm Excel sẽ được xử lý bằng phần mềm Stata phiên bản 12 để đưa ra kết luận về mối quan hệ cũng như ý nghĩa thống kê của các
biến.
1.6. Ý nghĩa
Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn.
-
Về mặt lý luận:
Có nhiều nghiên cứu về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đã được thực hiện ở các
nước khác, và cũng đã có một số các nghiên cứu tương tự đã được thực hiện tại Việt
Nam về NIM. Một trong số các nghiên cứu đó, ví dụ, nghiên cứu của Nguyễn Kim
Thu và Đỗ Thị Thanh Huyền (2014) được thực hiện trong giai đoạn 2008 – 2011 với
một số lượng các biến giải thích cụ thể tại thời điểm đó. Vì vậy, nghiên cứu này củng
cố các yếu tố hiện tại và cung cấp thêm về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi
cận biên (NIM) của các NHTM Việt Nam. Bằng cách nghiên cứu thêm các biến mới
chưa được nghiên cứu tại Việt Nam nhưng các biến đó đã được chứng minh có ảnh
hưởng đến NIM ở nước ngoài nhằm kiểm định xem các biến đó có ảnh hưởng đến tỷ
lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) phù hợp với thực tế của các NHTM Việt Nam hay
tố tích cực, khắc phục hay loại bỏ yếu tố tiêu cực, giúp các ngân hàng nâng cao hiệu
quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đáp ứng mục tiêu lợi nhuận và phát triển vững
mạnh của ngân hàng.
1.7. Kết cấu của luận văn nghiên cứu
Luận văn có bố cục như sau:
- Chương 1: Giới thiệu: Chương này nêu ra lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên
cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu,
ý nghĩa và kết cấu của luận văn nghiên cứu.
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan: Nội dung chương
này trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu trước của tác giả
trong và ngoài nước về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân
hàng, làm cơ sở tham khảo cho mô hình và giả thuyết nghiên cứu.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu: Mục đích của
chương nhằm mô tả mô hình nghiên cứu, đưa ra các giả thuyết và giải thích các biến
trong mô hình. Ngoài ra, chương này còn đề cập đến cách thu thập, xử lý các số liệu
Dương Thị Kim Hoàng – Lớp MFB5A
Trang 5
Các yếu tố ảnh hưởng đến NIM của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015
dùng trong nghiên cứu, các bước thực hiện hồi quy và các kiểm định cần thiết cho mô
hình nghiên cứu.
- Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: Trong chương này tác giả trình
bày các kết quả phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan giữa các biến và phân
tích hồi quy đồng thời đưa ra các nhận xét trong quá trình phân tích.
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Chương này nêu lên các kết luận rút ra từ
quá trình phân tích đồng thời đưa ra một số đề xuất, kiến nghị đối với các đối tượng
liên quan dựa trên các kết luận đã nêu. Chương 5 cũng nêu lên những đóng góp và hạn
phải trả cho các khoản nợ và các tài khoản tiền gửi, rồi chia cho tổng tài sản của ngân
hàng đó (Demirguc-Kunt và Huizinga, 1999; Maudos và Guevara, 2004; Abreu và
Mendes, 2003; Horváth, 2009; Fungáčová và Poghosyan, 2009).
Hempel, Coleman và Simonson (1986) cho rằng thu nhập lãi cận biên là rất
hữu ích trong việc đo lường những thay đổi và xu hướng trong biên độ lãi suất và so
sánh thu nhập lãi giữa các ngân hàng. Thông thường, nếu hệ số NIM của ngành ngân
hàng càng cao thì hệ thống trung gian tài chính càng kém hiệu quả (Rudra và Ghost,
2004). Hệ số NIM cao đồng nghĩa với lãi suất tiết kiệm thấp, khiến hạn chế nguồn tiền
gửi, và lãi suất cho vay cao, khiến các doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận với
các nguồn tín dụng (Fungáčová và Poghosyan, 2009).
Vì vậy, để giúp cho các doanh nghiệp và toàn nền kinh tế nói chung, NIM của
các ngân hàng cần được kiểm soát ở một mức thấp, nghĩa là dòng vốn sẽ chảy qua hệ
thống trung gian tài chính với chi phí thấp. Tuy nhiên, nếu hệ số NIM thấp quá thì sẽ
có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của các ngân hàng (Fungáčová và Poghosyan,
2009). Ở đây tồn tại xung đột lợi ích giữa người làm chính sách, có mục tiêu là tối đa
hóa lợi ích của xã hội, và hệ thống ngân hàng thương mại, có mục tiêu là tối đa hóa lợi
nhuận.
Dương Thị Kim Hoàng – Lớp MFB5A
Trang 7
Các yếu tố ảnh hưởng đến NIM của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015
2.1.2. Khung lý thuyết Sức mạnh thị trường (Market Power Framework)
Lý thuyết Sức mạnh thị trường được dựa trên giả thuyết rằng sự tập trung của
ngân hàng và các ràng buộc khác về cạnh tranh tạo ra một môi trường cản trở mà có
tác động đến hành vi và hiệu suất của ngân hàng. Claeys và Vennet (2008) xác định
hai giả thuyết trong khuôn khổ lý thuyết Sức mạnh thị trường: Giả thuyết Cấu trúc Ứng xử - Hiệu suất (SCP: Structure – Conduct – Performance) truyền thống và giả
thuyết sức mạnh thị trường tương đối (RMP: Relative Market Power). Giả thuyết SCP
biến nhất để đo lường cạnh tranh là chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI). Maudos và
Guevara (2004) định nghĩa HHI, còn được gọi là chỉ số tập trung, như là tổng bình
phương của thị phần của năm mươi doanh nghiệp lớn nhất, hoặc tổng của tất cả chúng
nếu chúng ít hơn năm mươi trong ngành công nghiệp. Nó đo lường quy mô của các
doanh nghiệp liên quan đến ngành công nghiệp và là một chỉ số về năng lực cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp. Thị phần cá nhân được thể hiện dưới dạng phân số.
Các nghiên cứu gần đây đã đi xa hơn trong việc tổng quát hơn giả thuyết SCP
bằng cách kiểm tra một số mô hình khác nhau của năng lực cạnh tranh. Bên cạnh đó,
nhiều tác giả và các nhà nghiên cứu đã xác định vấn đề bằng phương pháp HHI để đo
lường năng lực cạnh tranh. Kết quả là thước đo thay thế kể từ đó đã xuất hiện, bao
gồm cả các thước đo cấu trúc thị trường có tính đến khả năng rằng các quy mô và các
loại ngân hàng thương mại khác nhau có thể ảnh hưởng đến điều kiện cạnh tranh một
cách khác nhau (Berger, Demirguc-Kunt, Levine, và Haubrich, 2003). Berger và cộng
sự tiếp tục chỉ ra rằng các thước đo mới của ứng xử và hiệu suất trong khuôn khổ SCP
hiện nay bao gồm các chỉ số về hiệu quả, chất lượng dịch vụ, và rủi ro của các ngân
hàng, cũng như tác động của hành vi ngân hàng cho nền kinh tế nói chung.
Berger, Demirguc-Kunt, Levine, và Haubrich (2003) cho rằng, vấn đề mà HHI
là thước đo năng lực cạnh tranh của ngân hàng khả năng áp dụng bị hạn chế để phát
hiện độc quyền, mà phụ thuộc trực tiếp vào định nghĩa thích hợp của một thị trường
cụ thể. Lựa chọn một phạm vi địa lý để xác định mức độ và quy mô của thị trường là
sự trình bày những vấn đề lớn trong việc mô tả một thị trường cụ thể. Ví dụ một ngân
hàng có thể có một thị phần đặc biệt trong một giới hạn địa lý cụ thể, nhưng nó có thể
chênh lệch trong nhiều lĩnh vực khác của quốc gia nơi nó thực thi quyền lực độc
quyền và do đó không cạnh tranh với nhau.
Một chỉ số thay thế của mức độ cạnh tranh là chỉ số Lerner (LI) mà theo
Maudos và Guevara (2004), được sử dụng rộng rãi trong các trường hợp cụ thể của
các ngân hàng. Chỉ số Lerner được đặt theo tên của nhà kinh tế Abba Lerner, mô tả
sức mạnh thị trường của một công ty. Chỉ số Lerner được định nghĩa là sự khác biệt
Dương Thị Kim Hoàng – Lớp MFB5A
hữu ngân hàng (Ministry of Science and Technology, 2005).
2.1.3. Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES)
Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES) đã được thảo luận rộng rãi bởi Berger (1995),
Demsetz (1973) và Peltzman (1977). Nó được thừa nhận như một giả thuyết cạnh
Dương Thị Kim Hoàng – Lớp MFB5A
Trang 10
Các yếu tố ảnh hưởng đến NIM của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015
tranh để thay thế giả thuyết SCP. Giả thuyết này nổi lên như là một kết quả của sự chỉ
trích về những thiếu sót của giả thuyết SCP. Giả thuyết hiệu quả mặc nhiên cho rằng
hiệu suất của một ngân hàng đang liên quan cùng chiều với hiệu quả của nó. Chỉ số
hiệu quả ngân hàng được sử dụng như là một đại diện cho hiệu suất. Điều này có
nghĩa rằng sự khác biệt trong thu nhập lãi cận biên là do sự khác biệt về hiệu quả hoạt
động qua các ngân hàng (Claeys và Vennet, 2008). Điều này được nhìn thấy từ thực tế
sự tập trung thị trường là kết quả của sự cạnh tranh mà các ngân hàng có cấu trúc chi
phí thấp có thể làm tăng lợi nhuận của họ bằng cách giảm giá và tăng thị phần tại chi
phí của các đối thủ cạnh tranh.
Một mối quan hệ thuận giữa lợi nhuận ngân hàng và cấu trúc thị trường là do
đạt được sự tăng lên trong thị phần của các ngân hàng hiệu quả hơn. Nghiên cứu của
Molyneux và Forbes (1995) chỉ ra rằng các ngân hàng có lợi nhuận là lợi nhuận vì
chúng có hiệu quả hơn và không phải vì hoạt động cấu kết, như giả thuyết SCP truyền
thống đề nghị. Al-Muharrami và Matthews (2009) giải thích thêm rằng các ngân hàng
với sự quản lý cao và/hoặc các công nghệ sản xuất có chi phí thấp hơn và do đó có lợi
nhuận cao hơn.
2.1.4. Hai cách tiếp cận phổ biến mô hình thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng
đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng
Các nghiên cứu trước đây (Ví dụ: Ho và Saunders, 1981; Allen, 1988;
tiếp cận chi phí vốn hàng bán. Quan điểm này xem rủi ro của ngân hàng như được gây
ra bởi một yếu tố ngẫu nhiên của các chức năng cung cấp tiền gửi. Kết quả nghiên cứu
của Zarruck (1989) cho thấy thu nhập lãi cận biên của ngân hàng có mối quan hệ cùng
chiều với số vốn cổ phần, và một mối quan hệ ngược chiều với biến tiền gửi. Ông
cũng gặp vấn đề với hình thức ban đầu của mô hình làm ông tin rằng việc phân tích
ban đầu được dành cho các hoạt động kinh doanh của các đại lý bảo hiểm, và rằng nó
không chiếm một số khía cạnh liên quan các hoạt động của ngân hàng. Nghiên cứu kết
luận rằng khi sự không chắc chắn làm tăng về tổn thất, bảo hiểm tiền gửi, và quy định
vốn, một sự không chắc chắn của tổn thất cho vay cao hơn sẽ có một tác động ngược
chiều lên biên độ lãi suất.
Wong (1997) sử dụng các mô hình lý thuyết công ty phát triển bởi Klein (1971)
để giới thiệu nhiều nguồn rủi ro và lo ngại rủi ro đến cách tiếp cận chi phí vốn hàng
bán để điều tra các yếu tố quyết định của biên độ lãi suất ngân hàng tối ưu. Ông kết
luận rằng các điều kiện chi phí, quy định, rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất cùng nhau
quyết định biên độ lãi suất ngân hàng tối ưu. NYS (2003) dựa vào nghiên cứu của
Goyeau, Sauviat và Tarazi (1999) mà áp dụng phương pháp tiếp cận lý thuyết công ty
trong một hồi quy hai bước để nghiên cứu NIM ở Trung và Đông Âu. Trong nghiên
cứu gốc của Goyeau và cộng sự, các yếu tố quyết định NIM được chia thành hai
Dương Thị Kim Hoàng – Lớp MFB5A
Trang 12
Các yếu tố ảnh hưởng đến NIM của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015
nhóm: nhóm đầu tiên có chứa yếu tố giải thích lợi nhuận biên kỳ vọng chịu sự biến
động và nhóm thứ hai của các biến đã được giả định để nắm bắt những tác động của
chi phí hoạt động, quy định, và những ảnh hưởng của các thao tác danh mục đầu tư
chủ động.
2.1.4.2. Theo mô hình đại lý
Các yếu tố ảnh hưởng đến NIM của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015
xem các nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay của ngân hàng thương mại tương tự như
các giao dịch mua bán trên thị trường chứng khoán, trong đó ngân hàng đóng vai trò
trung gian về vốn, tạo nguồn cầu cho người muốn gửi tiền và tạo nguồn cung cho
người muốn vay vốn. Vì việc kinh doanh này hàm chứa nhiều rủi ro, ngân hàng
thường yêu cầu một phần bù rủi ro bằng khoảng chênh lệch giữa tiền lãi nhận được
khi cho vay, hay “giá bán”, và tiền lãi phải trả khi nhận tiền gửi, hay “giá mua”.
rL = r + b
rD = r – a
và biên độ lãi suất: s = rL – rD = a + b
Trong đó: s là biên độ lãi suất, rL là lãi suất cho vay, rD là lãi suất huy động, r là
lãi suất phi rủi ro kỳ vọng, a và b là phí được tính bởi ngân hàng trong việc cung cấp
vai trò trung gian và do phải chịu rủi ro lãi suất.
Ho và Saunders (1981) cũng giả định rằng các ngân hàng tối đa hóa độ thỏa
dụng kỳ vọng của sự giàu có của nó từ đầu đến cuối. Cuối cùng là họ tìm thấy được
giá trị cho tỷ lệ thu nhập lãi cận biên như sau:
s = a + b = α/β + ½ Rσ2iQ
Trong công thức trên, vế thứ nhất là tỷ lệ α/β cung cấp một thước đo của yếu tố
thặng dư sản xuất hoặc độc quyền cho thuê trong chênh lệch lãi suất hay lợi nhuận
ngân hàng. Vế thứ hai là một thuật ngữ của điều chỉnh rủi ro đặt hàng lần đầu và phụ
thuộc vào ba yếu tố: R là hệ số quản lý ngân hàng của sự lo ngại rủi ro tuyệt đối; Q là
quy mô của các giao dịch ngân hàng; và σ2i là phương sai tức thời của lãi suất tiền gửi
và cho vay, nghĩa là sự thay đổi của lãi suất. Vế thứ hai ngụ ý rằng, các yếu tố khác
không đổi, mức độ lo ngại rủi ro lớn hơn thì quy mô giao dịch lớn hơn và phương sai
của lãi suất lớn, do đó thu nhập lãi cận biên của ngân hàng lớn hơn. Trong nghiên cứu
của mình, Ho và Saunders (1981) đã kiểm soát các yếu tố mang đặc tính đặc trưng cho
một ngân hàng cá nhân và thu được một lợi nhuận lãi biên thuần túy trên tất cả các
ngân hàng. Họ kết luận rằng lợi nhuận lãi biên thuần túy này phụ thuộc vào mức độ lo
ngại rủi ro quản lý, quy mô của các giao dịch ngân hàng, khả năng cạnh tranh trên thị
rộng, Angbazo (1997) điều tra ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng,
khoản mục ngoại bảng, chi phí cơ hội dự trữ không sinh lãi, quy mô ngân hàng, hiệu
quả quản lý. Demirguc-Kunt và Huizinga (1999) xem xét các yếu tố của đặc trưng
ngân hàng, chỉ số kinh tế vĩ mô, lãi suất ngân hàng ngầm và minh bạch, cấu trúc tài
chính tổng thể và các chỉ số về quy định thể chế. Saunders và Schumacher (2000)
cũng sử dụng mô hình đại lý để phân tích các yếu tố biến động lãi suất, vốn hóa ngân
hàng, cấu trúc thị trường và yêu cầu điều tiết. Brock và Suarez (2000) điều tra chi phí
hoạt động, thanh khoản, rủi ro vốn, lạm phát và tăng trưởng GDP.
Dương Thị Kim Hoàng – Lớp MFB5A
Trang 15