Công tác sử dụng bồi dưỡng cán bộ công chức ở việt nam hiện nay - Pdf 43

Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

A. MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài:
Sinh thời Bác Hồ thường xuyên quan tâm và chăm lo đến việc đào
tạo, huấn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ. Bác nói: “Cán bộ là cái gốc của
mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay
kém”. Trong nhiều văn kiện của Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam đều khẳng
định vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng. Hội nghị Trung ương ba
(khoá VIII) khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách
mạng… là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”.
Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải hoàn
thiện được yếu tố chủ đạo đó là tư tưởng và con người xã hội chủ nghĩa,
trong đó người cán bộ rất quan trọng bởi vì: “Con người xã hội chủ nghĩa là
con người có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, một lòng một
dạ phụ vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”.
Xác định được vị trí và vai trò của cán bộ là tiền vốn của đoàn thể cái gốc của mọi công việc nên Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ
mẫu mực phải có đức, có tài, lấy Đức là chính, phải khắc phụ mọi biểu hiện
của chủ nghĩa cá nhân, xa rời quần chúng, hống hách kiểu quan cách mạng,
quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm dẫn đến chia rẽ, cục bộ địa phương
và kết quả tất yếu là hỏng việc.
Cán bộ và công tác cán bộ là một trong những vấn đề có tầm quan
trọng quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh là một nội dung quan trọng
luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm. Trong đó công
tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức chiếm vị trí then chốt.

1





Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TÁC
TUYỂN DỤNG, SỬ DỤGN CÁN BỘ CÔNG CHỨC.
1.1. Các khái niệm:
1.1.1. Cán bộ, công chức:
1.1.1.1. Cán bộ:
Cán bộ là khái niệm khá quen thuộc trong đời sống chính trị xã hội. Trong đại từ điển Tiếng Việt của của Nhà xuất bản Đại học quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008, trang 185 quy định: “Cán bộ là người
làm việc trong cơ quan nhà nước. Người giữ chức vụ phân biệt với người
bình thường, không giữ chức vụ trong các tổ chức cơ quan nhà nước”
Còm trong luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ là
công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh
theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước”.
1.1.1.2 Công chức:
Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính định nghĩa: “Công
chức là người tuyển dụng và bổ nhiệm vào làm việc trong một cơ quan của
Nhà nước ở trung ương hay địa phương, làm việc thường xuyên, được xếp
vào ngạch của hệ thống ngạch bậc được hưởng lương từ ngân sách nhà
nước”.

3





Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là
cấp huyện);
b) Những người được tuyện dụng, bổ nhiệm hoặc được giao
nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
c) Những người được tuyện dụng, bổ nhiệm vào một ngạch
công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước
ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
d) Những người được tuyện dụng, bổ nhiệm vào một ngạch
viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp
của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
đ) Thẩm phán Toà án nhân dân, kiểm sát viên Viện kiểm sát
nhân dân;
e) Những người được tuyện dụng, bổ nhiệm hoặc được giao
nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân
dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;
g) Người do bầu cử để đảm nhiệm chức vự theo nhiệm kỳ trong
Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng
uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội, phường, thị trấn (sau đây gọi
là cấp xã);
h) Những người được tuyện dụng, giao giữ một chức danh
chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.
1.2. Chủ nghĩa Mác – Lênin về công tác tuyển dụng, sử
dụng cán bộ, công chức


kết quả mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được”(4).

6


Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

1. C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.2,
tr. 181.
2. V.I.Lênin: Sđd, 1975, tr. 44, tr.449.
3. V.I.Lênin: Sđd, 1979, tr. 42, tr.407.
4. V.I.Lênin: Sđd, 1978, tr. 36, tr.217.

1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tuyển dụng, sử dụng
cán bộ, công chức
Những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán
bộ và công tác cán bộ hợp thành một hệ thống hoàn chỉnh. Cốt lõi của tư
tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ chính là coi trọng và đánh giá đúng
vai trò “quyết định”, “cái gốc của mọi công việc” của người cái bộ; từ đó có
chiến lược để hình thành người cán bộ có đức, có tài; xây dựng một đội ngũ
cán bộ vững mạnh đủ sức đáp ứng được các yêu cầu nhiệm vụ cách mạng
trong mỗi một thời kỳ.
Trong việc lựa chọn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan
tâm tới phẩm chất đạo đức và năng lực của những người được lựa chọn.
Người nói: “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ
vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính” (1). Và
“Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có
đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng
vẻ vang”(2).
Bác đã nêu rõ 4 tiêu chuẩn để lựa chọn cán bộ:

hủ hoá, có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa
không giúp ích gì được ai”(4).

1.

Sđd, t. 7, tr. 480.

2.

Sđd, t. 9, tr. 283.

3.

Sđd, t. 5, tr. 275.

4.

Sđd, t. 8, tr. 184.

Trong việc sử dụng cán bộ, phép dụng người ở Hồ Chí Minh đạt tới
nghệ thuật khoa học, thấm đượm chất nhân văn.
Sử dụng đúng cán bộ “Tài nhỏ có thể hoá ra tài to”. Theo Hồ Chí
Minh, nếu “Dùng cán bộ không đúng tài năng của họ cũng là một cớ thất
bại”; “Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được
việc”(1). “Mục đích khéo dùng cán bộ, cốt để thực hành đầy đủ chính sách
của Đảng và Chính phủ. Nếu cán bộ có ý hoang mang, sợ hãi, buồn rầu, uất
ức hoặc công tác không hợp, chắc chắn không thành công được”(2).

8


9


Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

5. Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi
mình” (5) .
1.

Sđd, t. 5, tr. 273 và tr. 243.

2.

Sđd, t. 4, tr. 246.

3.

Sđd, t. 5, tr. 277.

4.

Sđd, t. 5, tr. 40.

5.

Sđd, t. 5, tr. 270-271.

2. Cơ sở pháp lý về công tác tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công
chức.
2.1. Tuyển dụng cán bộ, công chức

đội ngũ cán bộ, công chức ở vùng dân tộc ít người thì có thể thực hiện thông
qua xét tuyển.
Chính phủ quy định cụ thể chế độ thi tuyển và xét tuyển.
Việc tuyển chọn và bổ nhiệm thẩm phán Toà án nhân dân, kiểm
sát viên viện kiểm sát nhân dân được thực hiện theo quy định của Luật tổ
chức Toà án nhân dân, Pháp lệnh về thẩm phán và hội thẩm toà án nhân dân,
Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân và Pháp lệnh về kiểm sát viên viện
kiểm sát nhân dân. Được quy định trong Điều 24 của Pháp lệnh cán bộ, công
chức.
Theo Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của
Chính phủ về việc tuyển dụng cán bộ, công chức như sau:
* Về điều kiện đăng ký dự tuyển công chức:
1. Người đăng ký dự tuyển vào công chức phải bảo đảm
những điều kiện sau:
a) Là công dân Việt Nam, có địa chỉ thường trú tại Việt
Nam;

11


Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

b) Tuổi của người dự tuyển từ 18 tuổi đến 40 tuổi.
Trường hợp người dự tuyển là sĩ quan, quân nhân chuyển nghiệp, viên chức
trong các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiẹp nhà nước thì tuổi dự tuyển có
thể cao hơn nhưng không quá 45 tuổi;
c) Có đơn vị dự tuyển; có lý lịch rõ ràng; có văn bằng
chứng chỉ đào tạo phù hợp với yêu cầu của ngạch dự tuyển;
d) Đủ sức khoẻ để đảm nhận nhiệm vụ, công vụ;
đ) Không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp

một chuyên môn cụ thể, một lứa tuổi cụ thể và một năng lực, phẩm chất nhất
định. Sử dụng cán bộ, công chức còn thể hiện một khoa học quản lý về bản
lĩnh của các nhà lãnh đạo như thế nào.
Theo Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của Chính phủ
về việc sử dụng cán bộ công chức như sau:
* Bố trí, phân công công tác:
1. Người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức chịu trách nhiệm bố
trí, phân công, giao nhiệm vụ cho công chức, bảo đảm các điều kiện cần
thiết để công chức thi hành nhiệm vụ, thực hiện các chế độ, chính sách đối
với công chức.
2. Khi thực hiện việc bố trí, phân công công tác cho công chức phải
bảo đảm phù hợp giữa nhiệm vụ được giao với ngạch công chức được bổ
nhiệm, công chức ở ngạch nào thì bố trí công việc phù hợp với ngạch đó.
3. Công chức chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành nhiệm
vụ, công vụ của mình; công chức giữ chức vụ lãnh đạo còn phải chịu trách
nhiệm về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của công chức thuộc quyền quản
lý theo quy định của pháp luật.
* Chuyển ngạch:
1. Công chức được phân công nhiệm vụ mới không phù hợp với
ngạch công chức đang giữ thì phải chuyển ngạch cho phù hợp với vị trí và
chuyển môn nghiệp vụ được giao.
13


Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

2. Công chức được chuyển ngạch phải đáp ứng tiêu chuẩn chuyên
môn, nghiệp vụ của ngạch được chuyển và phù hợp với cơ cấu ngạch công
chức của cơ quan.
3. Cơ quan sử dụng công chức khi chuyển ngạch cho công chức

Trung

ương

phương

địa

43,81
%

9,05
%

0,82
%

cấp

C
hưa

qua

đào tạo

20,14
%



đại học

Đại

Trun

học và cao g cấp


cấp

đẳng
Trong 21 Bộ và cơ

11.14

quan ngang Bộ (trừ Bộ Quốc 3 người
phòng và Bộ công an): 158.653
người.

62.38
9 người

Chiế
m 7,03%

51.98
7 người

Chiế

1 người
Chiế

m 42,59%

6.545

326.0
22người

Chiế
m 0,61%

10.51

Chiế
m 30,43%

7.390
người

Chiế
m 31,18%
478.6
14người
Chiế
m 44,68%

Chiế
m 21,92%



26,42%

30,35%

12,34%

ương
địa

phương

- Trong các cơ quan hành chính sự nghiệp:

15


Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

+ Ở các Bộ và cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ: 16,04%
cán bộ, công chức có trình độ lý luận chính trị cao, trung cấp.
+ Ở địa phương, cán bộ, công chức có trình độ lý luận chính trị cao,
trung cấp chiếm 5%.
Theo Bộ trưởng Nội vụ, tính đến ngày 01-9-2007, toàn quốc
có 204.167 cán bộ công chức cấp xã, gần bằng số lượng công chức hành chính ở
Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện cộng lại (Tổng số công chức ở Trung ương và địa
phương 2007, Bộ Nội vụ trình Chính phủ giao là: 239.081 người. Trong đó Trung
ương: 98.827 người, địa phương 140.254 người).
2. Đánh giá thực trạng về công tác tuyển dụng, sử dụng đội ngũ

+ Thứ hai, trên cơ sở những tiêu chuẩn về phẩm chất, chuyên môn,
năng lực công tác, đánh giá cán bộ cũng có thêm cơ sở khách quan để các
cán bộ quản lý, cán bộ tổ chức có căn cứ để đánh giá không sai lệnh, không
thiên vị. Trái lại, tiêu chuẩn cán bộ, công chức cũng có giá trị để đánh giá
năng lực quản lý, sử dụng, sắp xếp cán bộ của công chức lãnh đạo và của
những người làm công tác tổ chức.
+ Thứ ba, việc sử dụng cán bộ, công chức ở nhiều nơi đã có sự kết
hợp giữa thẩm quyền bổ nhiệm với việc thăm dò ý kiến quẩn chúng, ý kiến
cán bộ chủ chốt.
Trên đây đó là một số kết quả đạt được trong những thời gian qua về
việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức. Cùng với ưu
điểm đó vẫn còn một số hạn chế, bất cấp trong việc tuyển dụng, sử dụng và
quan lý cán bộ, công chức.
2.2. Những hạn chế, yếu kém
Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực, nhưng nhìn chung
công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức vẫn chưa
đáp ứng kịp thời yêu cầu của quá trình phát triển nhanh, bền vững và yêu

17


Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

cầu của kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế cũng như sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003 cùng với các
văn bản quy phạm pháp luật vừa được ban hành là bước tiến mới của thể chế quản lý
cán bộ, công chức. Tuy nhiên hệ thống các văn bản pháp luật về tuyển dụng, sử dụng
và quản lý cán bộ công chức chưa đồng bộ, thiếu thống nhất và còn chồng chéo. Các
chế định chưa được lượng hoá cụ thể nên trong quá trình triển khai thực hiện còn nhiều

người được tuyển dụng không thực sự gắn bó với công việc được giao.
- Trong đề bạt cán bộ, công chức vẫn có tình trạng chạy chức
chạy quyền. Chuyển chạy chức chạy quyền làm chất lượng đội ngũ cán bộ
giảm sút, vấn đề này chưa được xử lý nghiêm túc.
- Trong công tác sử dụng, một số cơ quan khi sử dụng cán bộ,
công chức hay xuất phát từ ý chí chủ quan, thiếu sự tìm hiểu, thăm dò, lại vô
hiệu hoá cấp uỷ (Đảng uỷ) bằng sự lấy ý kiến chiếu lệ, hình thức… Đồng
thời, trong việc sử dụng cán bộ, công chức có một số cơ quan còn thiếu quy
hoạch dẫn đến sự lúng túng.
- Đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước ở
cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) chưa được đào tạo, bồi dưỡng về chuyân
môn nghiệp vụ, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, không ổn định…Hiệu lực
và hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã còn nhiều hạn chế, bất
cập, chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu.
- Công tác quản lý cán bộ, công chức còn phân tán chồng chéo,
thiếu tập trung thống nhất, chưa có sự phân công, phân cấp rõ ràng, rành
mạch. Việc phân định thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương, giữa các
cơ quan làm chức năng tham mưu trong việc quản lý cán bộ, công chức chưa
được quy định cụ thể, rõ ràng.
- Mặt khác, vẫn còn một bộ phận cán bộ, công chức bị sa sút về
phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm kém, còn quan liêu, hạch dịch và
tham nhũng.
19


Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trong công
tác tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức
Nguyên nhân của tình trạng bất cập trong công tác tuyển

phục.
Cơ chế quản lý, sử dụng và chế độ chính sách đối với cán bộ,
công chức còn nhiều bất hợp lý, chưa tạo được động lực để khuyến khích
đội ngũ cán bộ, công chức đề cao trách nhiệm, phấn đấu rèn luyện nâng cao
phẩm chất năng lực công tác. Quy chế thưởng, phạt còn thiếu minh bạch, cụ
thể, chậm đổi mới và thực hiện chưa nghiêm. Bên cạnh đó chưa có biến
pháp hữu hiệu (kịp thời và kiên quyết) xử lý số cán bộ, công chức thoái hoá,
biến chất, tham nhũng, hối hộ, chạy quyền, chạy chức, vi phạm chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Chưa xây dựng được hệ thống tiêu chuẩn chung và chậm cụ thể
hoá tiêu chuẩn cho từng chức danh cán bộ, công chức hoặc nếu có thì còn
mang tính hình thức, không phản ánh đúng thực chất yêu cầu về trình độ,
năng lực đối với từng vị trí công tác của cán bộ, công chức. Quyền hạn và
trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị trong việc quản lý
cán bộ, công chức chưa được xác định rõ về mặt thể chế.
III. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC.
1. Phương hướng:
Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu ra vai trò,
phương hướng nhiệm vụ của công tác cán bộ: “Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bộ
các khâu: đánh giá, quy hạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây
dựng và thực hiện chính sách cán bộ. Đánh giá cán bộ phải công khai, minh bạch,
khách quan, toàn diện và công tâm, lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị làm
thước đo phẩm chất và năng lực cán bộ….

21


Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay


Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

1. V¨n kiÖn §¹i héi X - §¶ng Céng s¶n ViÖt Nam, Nxb ChÝnh trÞ quèc
gia, Hµ Néi-2006, Tr. 295-296.

Xây dựng và hoàn thiện các tiêu chí về đánh giá, phân loại cán
bộ công chức phải căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Đặc
biệt, áp dụng thực hiện thi tuyển đối với một số chức danh lãnh đạo gắn với
chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy hành chính nhà nước và các đơn vị sự
nghiệp.
Tiếp tục hoàn thiện việc sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức:
bảo đảm sự phù hợp giữa các thuộc tính của cán bộ, công chức cả về trí thức, năng
lực và phẩm chất với yêu cầu của công vụ (chức danh) mà họ đảm nhận. Hướng
giải quyết việc sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức trước hết, tất cả các cơ
quan Nhà nước kể cả các cơ quan quản lý hành chính tới các cơ quan hành chính sự
nghiệp phải đánh giá nghiêm túc sự phù hợp giữa yêu cầu của các chức danh theo
tiêu chuẩn đã định với phẩm chất và năng lực thực tế của mỗi cán bộ, công chức
của cơ quan mình.
Bố trí cán bộ, công chức phải đúng tiêu chuẩn, phù hợp
với sở trưởng. Đồng thời cần chú ý cả yếu tố khách quan và chủ quan.
Khách quan là: các tiêu chuẩn do Nhà nước quy định, chủ quan là thuộc về
những phẩm chất, năng lực, cá tính, ham muốn phù hợp với công vụ.
Trong sử dụng cán bộ, công chức, đề bạt, cất nhắc phải
đúng lúc, đúng người, đúng việc.
Trọng dụng người có đức, có tài kể cả những người là
đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và những người chưa phải đảng viên
nhưng là người có tinh thần trách nhiệm, ý thức tập thể cao.
Kết hợp một cách hài hoà giữa đóng góp của công chức
và chế độ vật chất mà họ được hưởng nhất là tiền lương và các nhu cầu khác

không hề “khuôn” lại ở tiêu chuẩn chỉ tuyển lựa bằng chính quy.
Thứ tư: Tuyển dụng cán bộ, công chức phải căn cứ vào nhu cầu,
vị trí, cơ cấu và tiêu chuẩn, khắc phục tình trạng vào cơ quan nhà nước rồi
mới đưa đi đào tạo và chủ yếu là đào tạo tại chức.
24


Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

Thứ năm: Yêu cầu phải điều chỉnh chính sách tiền lương, chế
độ đãi ngộ, đủ sức thu hút những người có tài, tạo cơ chế để thay thế những
người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi bộ máy Đảng và Nhà nước.
* Trong công tác sử dụng:
Sử dụng cán bộ, công chức xuất phát từ nhiều yếu tố,
nhưng có hai điều quan trọng nhất. Đó là sử dụng công chức xuất phát từ
yêu cầu của công vụ và xuất phát từ điều kiện nhân lực cụ thể. Phương
hướng sử dụng chủ yếu dựa vào những định hướng có tính nguyên tắc dưới
đầy:
Một là: Sử dụng cán bộ, công chức phải có tiền đề là quy
hoạch.
Hai là: Sử dụng phải căn cứ vào mục tiêu. Mục tiêu của
hoạt động quản lý dẫn đến mục tiêu sử dụng cán bộ, công chức.
Ba là: Bổ nhiệm cán bộ, công chức phải trên cơ sở xây
dựng cơ cấu nhân sự của tổ chức đó.
Bốn là: Bổ nhiệm cán bộ, công chức trên cơ sở sự đòi hỏi
của công vụ và nguồn nhân lực hiện có (để tuyển chọn và bổ nhiệm).
Năm là: Tuân thủ nguyên tắc khách quan, nguyên tắc vô
tư và công bằng khi thực hiện chính sách sử dụng cán bộ, công chức.
Sáu là: Những định hướng về quy hoạch cán bộ, công
chức, về chiến lược kinh tê, chính trị và những chính sách của Nhà nước là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status