Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
Thực trạng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức ở
Việt Nam hiện nay
Bởi:
Nguyễn Thị Lan Hương
Đánh giá tổng quan về công tác ĐT,BD CB,CC
Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước nói chung, của hệ thống hành chính nói riêng
được quyết định bởi phẩm chất năng lực và kết quả công tác của đội ngũ CB,CC nhà
nước. Phẩm chất của đội ngũ CB,CC ngoài khả năng và tinh thần tự học tập, lại phụ
thuôch rất nhiều vào công tác ĐT,BD thường xuyên kiến thức và kỹ năng thực hành cho
họ. Trong điều kiện đội ngũ CB,CC nhà nước ở nước ta hiện nay đa số đã được đào
tạo trong thời kỳ của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chưa được chuẩn hoá theo tiêu
chuẩn chức danh, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường, mở cửa để hội
nhập vời khu vực và quốc tế, đặc biệt là trong điều kiện khoa học công nghệ và thông
tin phát triển như vũ bão, thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, việc
ứng dụng những thành tựu khia học công nghệ tin học vào hiện đại hoá nền hành chính,
công tác ĐT,BD CB,CC trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.Vấn đề nâng cao chất lượng
ĐT,BD CB,CC là vấn đề cần được quan tâm giải quyếtmột cách thiết thực
Văn bản quy phạm pháp luật và việc thực hiện
Nhìn lại công tác ĐT,BD CB,CC trong thời gian qua, nhất là từ khi có Quyết định số
874/QĐ-TTg ngày 20-11-1996 của Thủ tướng Chính phủ về ĐT,BD CB,CC nhà nước
trong đó nêu rõ mục tiêu, đói tượn, nội dung và hình thức ĐT,BD. Hệ thống các cơ quan
QLNN về ĐT,BD CB,CC ( gồm có Học viện Hành chính Quốc gia, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh, trường ĐT,BD CB,CC các bộ ngành trung ương, trường
chính trị các tỉnhthành phố, trung tâm chính trị các quận huyện) được củng cố và phát
triển, công tác ĐT,BD CB,CC đã có những chuyển biến tích cực. Nhà nước đã dành một
khoảnh kinh phí đáng kể cho công tác ĐT,BD CB,CC ở trong và ngoài nước. Hệ thống
ĐT,BD xây dựng đội ngũ CB,CC trong giai đoạn mới, Khi ban hành Quyết định này
Thủ tướng đã yêu cầu các ngành, các cấp phải coi trọng việc xây dựng kế hoạch và tổ
chức triển khai thực hiện kế hoạch ĐT,BD CB,CC là nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch
phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn 2001-2005 của bộ, ngành, địa phương. Kết
quả nghiên cứu cho thấy đại bộ phận các bộ, ngành, địa phương đã có nhận thức đầy đủ
và triển khai thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ một cách chu đáo và kịp
thời. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã có nghị quyết để triển khai, thực hiện, xây dựng
quy hoạch, kế hoạch cụ thể và tổ chức sơ kết quá trình thực hiện một cách nghiêm túc
với các hình thức khác nhau, vì vậy việc thực hiện đã đạt được những kết quả nhất định,
đối chiếu với mục tiêu chung cũng như các mục tiêu cụ thể, công tác ĐT,BD CB,CC đã
có bước chuyển biến rõ nét về nhiều mặt
Sau 3 năm thực hiện Quyết định 74 đã có 8 văn bản được ban hành, có thể nói, các văn
bản được xây dựng và ban hành chưa nhiều nhưng bước đầu đã xác định và tạo lập được
những cơ sở làm nền móng cho việc xây dựng và ban hành các văn bản khác về lĩnh vự
ĐT,BD CB,CC trong thời gian tới.
2/15
Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
Kết quả cụ thể đạt dược
Số lượng CB,CC được đào tạo đã được tăng lên khá nhiều, công tác này đã có được
nhiều thành tích, góp phần vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước. Hàng năm
các cơ sở đã ĐT,BD được trên dưới 300.000 lượt CB,CC về lý luận chính trị, kiến thức
QLNN, về chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ, tin học, tạo ra được một phong trào
học tập rộng khắp trong tất cả các cơ quan, tổ chức đưa công tác ĐT,BD vào đúng vị
rí quan trọng của nó trong các hoạt động của cơ quan, tổ chức.Theo báo cáo, tổng số
CB,CC được ĐT,BD của 63/64 tỉnh, thành phố và 52/60 đầu mối bộ, ngành,trung ương
là gần 1.213.000 lượt người, trong đó khối bộ ngành khoảnh 238.000 lượt người, các
3/15
Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ nguồn cảu các cấp lãnh đạo
chiến lược thuộc các bộ, ngành, địa phương.
• Bốn là, có sự chuyển hướng về nội dung ĐT,BD CB,CC cụ thể là việc ĐT, BD
ngoại ngữ, tin học được chú trọng thực hiện theo yêu cầu công vụ ngày càng đi
vào chiều sâu, tập trung cho đối tượng mang tính chiến lược. Việc đào tạo tin
học và công nghệ thông tin đã chuyển hướng từ phổ cập sang trang bị kiến thức
chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý.
• Năm là, một số bộ, ngành đã sáng tạo chủ động đưa những nội dung mới phù
hợp với đặc thù của bộ, ngành vào ĐT,BD CB,CC. Sáu là, đã thực hiện ĐT,BD
trng bị kiến thức và kỹ năng hoạt động thực thi công vụ chuên sâu theo chức
danh, như các khoá bồi dưỡng kỹ năng theo tác nghiệp cho chủ tịch Hội đồng
nhân dân, chủ tịch Uỷ ban NHân dân xã, nghiệp vụ cho cácn bộ làm công tác
hội nhập….Nếu đối chiếu với chỉ tiêu đề ra tron Quyết dịnh 74 cho các đối
tượng CB,CC thì đã có những chỉ tiêu thực hiện tương đối tốt, như các chỉ tiêu
“ xoá nợ”cề trình độ đại học, về tiêu chuẩn kiến thức QLNN, về lý luận chính
trị cho công tác hành chính; công tác ĐT,BD CB,CC cấp xã và trưởng thôn,
trưởng bản. Tuy nhiên có những chỉ tiêu thực hiện còn chậm như việc đào tạo
trình độ trung cấp cho các chức danh chuyên môn, trang bị kiến thức lý luận
chính trị cao cấp và trình độ đại học về chuyên môn cho cán bộ lãnh đạo cấp
huyện
Việc thực hiện kế hoạch ĐT,BD CB,CC ở ngoài nước thời gian qua cũng có nhiều
chuyển biến tích cực. Việc cử CB,CC đi học đã bước đàu mang tính quy hoạch, gắn với
sử dụng, tập trung vào đội ngũ cân bô quản lý và cán bộ nguồn, đào tạo tập trung vào
những nội dung thực sự cần thiết cho việc nâng cao trình độ, tầm nhìn và kinh nghiệm
• Việc sử dụng kinh phí ĐT,BD chưa hợp lý và chưa có hiệu quả, trong chừng
mực nào đó, có thể nói rằng chúngta chưa thực sự quản lý một cách có hiệu quả
các nguồn kinh phí ĐT,BD CB,CC. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ làm công tác
quản lý ĐT,BD chưa được trang bị đầy đủ kiến thức cần thiết nên kết quả công
tác này chưa cao.
Đối với các bộ, ngành, địa phương điểm yếu trong công tác ĐT,BD CB,CC là công tác
quy hoạch chưa làm tốt, ĐT,BD chưa thực sự gắn với sử dụng còn có tình trạng người
không trong quy hoạch lại được cử đi ĐT,BD hoặc CB,CC đi học xong lại không bố
trí được công việc phù hợp. Một số bộ, ngành, địa phương chưa quan tâm đầy đủ đến
việc xây dựng và củng cố cơ sở ĐT,BD CB,CC. Sự phối hợp giữa các đợn vị chức năng
thực hiện nhiệm vụ quản lý với cơ sở đào tạo ở một số bộ, ngành, địa phương chưa
chặt chẽ và hiệu quả chưa cao.ĐT,BD còn chưa gắn với nhu cầu và kế hoạch sử dụng,
chưa nhằm vào mục tiêu, đối tượng cụ thể, nhiều trường hợp đi học để đối phó với yêu
cầu tiêu chuẩn hoá CB,CC . Việc xây dựng hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật, hệ
thống chương trình, giáo trình thống nhất việc phục vụ ĐT,BD ,việc triển khai nghiên
cứu, sắp xếp tổ chức và đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở ĐT,BD CB,CC còn
nhiều hạn chế. Nội dung, chương trình phương pháp giảng dạy và học tập chậm đổi mới,
chất lượng ĐT,BD chưa cao, quản lý dào tạo còn lỏng lẻo. Đánh giá chung là công tác
ĐT,BD CB,CC còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đổi
mới.
ĐT,BD cán bộ quản lý
ĐT,BD tăng cường năng lực làm việc cho cán bộ quản lý đưcợ xác định là một trong
những nhiệm vụ quan trọng trong xây dựn, phát triển đội ngũ CB,CC tại các cơ quan, tổ
chức. Trong những năm qua chúng ta đã thực hiện công tác ĐT,BD đội ngũ cán bộ quản
lý ở các đơn vị, bộ, ngành, địa phương, mỗi năm có mmọt ssó lượng khá lớn các cán
bộ quản lý được tham gia vào các khoá ĐT,BD để nâng cao năng lực công tác và hoàn
thiện các tiêu chuẩn của ngạch, của từng vị trí, chức danh mà họ đang nắm giữ. Hoạt
động này ngày càng được củng cố và đi vào nề nếp. Tuy nhiên công tác ĐT,BD còn gặp
không ít khó khăn, vướng mắc cần phải giải quyết để từng bước nâng cao hiệu quả của
tiễn hay đưa vào môi trường hoặc hoàn cảnh mới, khả năng định dướng thay
đổi, phát triển cơ chế học tập, đó là những thứ trự tiếp liên quan đến hiệu quả
làm việc của cá nhân.
• Kỹ năng quan hệ: kả năng phối hợp, hợp tác thông tin giao tiếp, hiểu biết về
con người, công bằng, quản lý xung đột, đó là những thứ quan trọng quyết định
đền s hiệu quả của tổ chức.
• Kỹ năng nghiệp vụ: vai trò và khả năng giải quyết mmọt số vấn đề noà đó, khả
năng phấn đấu vươn lên, khă năng phân tách, sáng kiến rút ra kết luận, kiểm
soát, ra quyết định. Đó là tập hợp những thứ có tầm quan trọng quyết định đến
sự sáng tạo và năng suất của đơn vị.
Thời gian qua, với những thành công đáng kể của sự nghiệp đổi mới và công cuộc cải
cách hành chính, chúng ta đã khẳng định được con đường đi lên, khẳng định năng lực
cạnh tranh và năng lực tổ chức quản lý kinh tế, xã hội của mình, những thắng lợi đó đều
nổi lên vai trò to lớn của công tác cán bộ, công tác đào tạo phát triển đội ngũ cán bộ
quản lý của các ngành, các cấp, Đảng và nhà nước luôn quan tâm trú trọng tới công tác
6/15
Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
ĐT,BD cho cán bộ quản lý, ở hầu hết các cơ quan,tổ chức đều xây dựng các kế hoạch
phát triển và tăng cường nhận thức đối với ĐT,BD cán bộ quản lý. Đội ngũ cán bộ quản
lý phát triển được trên một khung pháp lý đồng bộ, thống nhất và có định hướng phát
triển một cách tương đối rõ ràng. Để công việc ĐT,BD có kết quả chúng ta đã xá định
rõ chức năng nhiệm vụ, công việc của từng vị trí cũng như quyền hạn và nghĩa vụ công
tác cho cán bộ quản lý một cách cụ thể, nhằm xác định những kỹ năng làm việc cần thiết
cho từng vị trí và từ đó mới xác định được những thiếu hụt trong kỹ năng làm việc của
cán bộ quản lý, đó cũng là cơ sở để đánh giá nhu cầu ĐT,BD để từ đó xây dựng các
chương trình ĐT,BD cho từng nhóm đối tượng khác nhau. Các khoá bồi dưỡng ngắn
ĐT,BD CB,CC xã, phương, thị trấn đến năm 2010. Bộ nội vụ và các ngành liên quan
đã kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành. Cấp uỷ đảng và chinhs quyền các
7/15
Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
địa phương đã tích cực thực hiện chủ trương kiện toàn, củng cố đội ngũ CB,CC cơ sở ,
trong đó đặc biệt chú trọng công tác quy hoạch và ĐT,BD. Nhờ đó, đội ngũ CB,CC cơ
sở đã có bướ phát triển mới cả về lượng và chất, góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu
lựccủa hệ thống chính trị cơ sở.
Về số lượng và cơ cấu
Việc quy định số lượng cơ sở phải phù hợp với đặc điểm, tính chất của các vùng, miền
và điều kiện phát triển kinh tế –xã hội của từng loại hình cơ sở. Điều kiện, hoàn cảnh
của các đơn vị hành chính cấp cơ sở ở nươc ta rất khác nhau: có xã diện tích chỉ vài km2,
dân số chưa đến 1000 người, nhưng có xã diện tích bằng một huyện, hoặc có phường
dân số lên đến 60-70 ngàn dân , nguồn thu ngân sách ở các xã cũng khác nhau. Do đó,
việc quy định số lượng và bố trí CB,CC cơ sở cũng như áp dụng các chế độ,chính sách
phải căn cứ vào việc phân loại đơn vị hành chính cấp cơ sở , trong đó yếu tố quyết định
là quy mô dân số và diện tích. Cơ cấu CB,CC phải đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ, thiết
thực. Các tổ chức cơ sở vừa có các mối quan hệ ngang, vừa có mối quan hệ dọc từ trung
ương đến. Do đó, một mặt, việc xây dựng đội ngũ CB,CC cơ sở không thể tiến hành một
cách độc lập mà phải được đặt trong mối quan hệ tổng thể các mối quan hệ đó, mặt khác
cần quán triệt quan điểm hạn chế khuynh hướng “hành chính hoá” “định biên hoá ” bộ
máy các tổ chức chính trị, xã hội.
Thực trạng ĐT,BD CB,CC cơ sở hiện nay
Ưu điểm
Đại bộ phận CB,CC cơ sở vẫn giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu chủ nghĩa
xã hội , vẫn giữ được phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh, giản dị, gắn
bó với nhân dân. Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thi trường, đội ngũ CB,CC cơ
chuyên môn ở cấp xã trong một thời gian nhất định
• Về lâu dài, tính đến việc xây dựng các chương trìnhd riêng các chức danh
CB,CC cơ sở , kể cả chức danh chủ chốt và chức danh chuyên môn
• Cán bộ do bầu cử là những cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của các tổ chức
trong hệ thống chính trị ở cấp cơ sở chỉ làm việc không quá hai nhiệm kỳ, đã có
các phương án luân chuyển hợp lý và bố trí kiên nhiệm trong những điều kiện
cho phép
• Các chức danh chuyên môn nghiệp vụ là những công chức làm việc kgông theo
nhiệm kì, dược sử dụng ổn định, lâu dài, o đó họ cần phải có trình độ văn hóa
cơ bản và phải qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ thấp nhất là trình độ trung
cấp
• Hiện nay chương trình đào tạo trung cấp hành chính đã được phê duyệt để cấp
bằng theo hệ giáo dục quốc dân. Tiến hành thí điểm đào tạo trung cấp theo
hướng thống nhất chương trình lý luận chính trị và chương trình quản lý hành
chính Nhà nước với thời gian đào tạo 2 năm, được cấp bằng theo hệ giáo dục
quốc dân
• Phương thức ĐT,BD linh hoạt, đa dạng phù hợp với từng loại đối tượng CB,CC
cơ sở. Tích cực đổi mới phương pháp ĐT,BD, gắn lý thuýet với thực hành,
quan điểm lý luận với hoạt động thự tiễn thông qua các chính sách và việc xử
lý các công việc cụ thể, trang bị kiến thức và các kỹ năng làm việc, phát huy
tính tích cực, chủ đông, sáng tạo của học viên
• Xây dựng củng cố đội ngũ giảng viên chuyên cho việc ĐT,BD CB,CC cơ sở.
Nhược điểm
Bên cạnh những chuyển biếm tích cực nói trên, đội ngũ CB,CC cơ sở cũng đã bộc lộ
một số hạn chế và yếu kém.Trình đọ nhìn chung còn thấp, trình độ học vấn thấp đã ảnh
hưởng đến khả năng tiép thu chủ trương, đường lối. Chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước để triển khai thực hiện trong thực tế. Những hạn chế này cũng đã ảnh hưởng
không nhỏ đến kết quả đào tạo CB,CC cơ sở. Mặt khác trong quá trình đào tạo còn tồn
tại một số khó khăn vướng mắc cũng như những vấn đề mới phát sinh cấn f được nghiên
cứu và giải quyết. Đó là số lượng đinh biên CB,CC cơ sở được quy địnhtheo khung quá
23,2
Trung học cơ sở
16,6
18,5
47,9
Chuyên môn sơ cấp
4,7
15,5
4,1
Chưa qua đào tạo về chuyên môn
8,7
40,8
80,3
Trìng độ lý luận chính trị sơ cấp
14,8
thiểu số là rất lớn. Hiện nay số CB,CC dân tộ thiểu số chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tống
số CB,CC cơ sở, trong khi đó cơ cấu CB,CC dân tộc thiểu số lại không đều, còn bất hợp
lý và vhưa đảm bảo tính kế thừa, phát triển. Thời gian qua Đảng và Nhà nước xác định
công tac ĐT,BD CB,CC dân tộc thiểu số là một công tác quan trọng trong chiến lược
phát triển dất nước . Các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều chính sách, chế độ cụ thể
10/15
Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
nhằm khuyến khích đội ngũ này tham gia hoc tập nâng cao trình độ, năng lực công tác
của mình. Hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, các trường dự bị đại học dâ tộc
đã được xây dựng dể đảm đương công tác tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số đồng thời
ban hành nhiều hế độ ưu tiên cho công tác ĐT,BD tạo nguồn cho đội ngũ này . Nhiều
khoá đào tạo đã được tiến hành, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số không nhẽng được đào
tạo về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị mà còn về quản lý hành chính và tin học,
tuy nhiên trên thực tế vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ, ở 34 tỉnh, có khoảng trên 142.600
CB,CC chưa được đào tạo . ông tác ĐT,BD mới hỉ đáp ứng việc hoàn thiện các tiêu huản
của ngạch công chức và chức danh cán bộ. Số lượng CB,CC dân tôch thiểu số cần được
đào tạo được chia nhỏ ra ở cấp tỉnhlà gần 11.200 người cấp huyện là gần 29.400 người,
cấp xã là 103.000 người
Đã có những chính sách , chế độ cho công tác ĐT,BD dân tộc thiểu số, nhưng trên thực
tế chưa có một chính sách chung mà tuỳ thuộc vào điều kiện của từng cơ quan, đơn vị để
có những chính sách, chế độ khác nhau, như hỗ trợ cán bộ đi học đại học là 200.000đ/
người/ tháng, có nơi hỗ trợ gấp hai lần ; hỗ trợ kinh phí cho người học thạc sĩ, tiến sĩ.
Tuy vậy, việc động viên, khuyến khích thông qua phương thức hỗ trợ bằng tiền mới chỉ
tạo ra sự ưu tien về mức chi, về vật chất chứ chưa có những chính sách liên quan đến
những vấn đề lớn hơn như tuyển chọn, tuyển dụng,bổ nhiệm, sử dụng, tăng lương, đề
bạt. Công tác quy hoạch, lập kế hoạch cho công tác ĐT,BD chưa thực sự được quan
quản lý. Cac biệt còn một số CB,CC lợi dụng chức quyền và những khe hở trong cơ chế,
chính sách để làm giàu bất chính, tham nhũng, tiêu xài lãng phí của công. Những hiện
tượng này đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến viêck quản lý và điều hành ở ấp cơ sở ,
làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền
Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC cấp xã ở Quảng Nam:
12/15
Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
• Xây dựng tiêu chuẩn cụ thể đối với các chức danh công chức cấp xã, là căn cứ
đẻ tuyển dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng có hiệu quả đội
ngũ CB,CC trên cơ sở những tiêu chuẩn chung được quy định tại Nghị định số
114/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 và căn cứ vao dặc điểm đội ngũ CB,CC
thực tế ở xã: Tiêu chuẩn về độ tuổi bổ nhiệm lần đầu tuyển dụngtheo hướng trẻ
hoá đội ngũ ; Tiêu chuẩn về trình độ học vấn, đong bằng nhất thiết phải tôt
nghiệp trung học phổ thông, riêng ở miền núi ở một số bộ phận có thể thấp
hơn; Tiêu chuẩn về trình độ chuyên mon nghiệp vụ; Tiêu chuẩn về trình độ lý
luận chính trị
• Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng ĐT,BD CB,CC cấp xã, đay la tiền đề quan
trọng nhằm từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC .
*Tỉnh Điện Biên mới được chia tách và đi vào hoạt đong từ ngày 10-10-2004, gồm 21
dân tộc sinh sống; 88 xã, phường, thị trấn, trong đó có 59 xã đặc biệt khó khăn. Tính đến
tháng 8-2004 tính óc 1.844 CB,CC cấp xã, đa số là người dân tộc thiểu số, họ phải quản
lý trên địa bàn rộng, hiểm trở, dân cư thưa thớt, trình độ dân chí thấp và thường xuyên
phải giải quyết những vấn đề liên quan đến an ninh chính trị, chủ quyền biên giới quốc
gia. Trên thực tế, trình độ của học lại rất kém, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ
và tháp hơn nhiều so với mặt bằng chung.Theo thông kê, cán bộ cơ sở có trình độ văn
hóa tiểu học chiếm 40%, trung học cơ sở chiếm 47%, trung học phổ thông 13%; trình độ
chuyênmôn sơ cấp 7%; cao đẳng, đai học 1%; chưa qua đào tạo 86%; trình độ lý luận sơ
nhân ngoại ngữ chiếm 4,56%, cơ sở chiếm 46,83%. Về tuổi đời, dưới 30 tuổi chiếm
22,84 %; từ 30-50 chiếm 72,61%, trên 50 chiếm16,14 5 . Đại bộ phận được đào tạo
chuyên mon nghiệp vụ, lý luận chính trị, vân đè cần quan tâm là sự thiếu hụt về lý luận
chính trị và trình độ tin học, sự thiếu đồng bộ về một số ngành và lĩnh vực, nhất là đầu
đàn và chuyêngia giỏi. Phâng đông số cán bộ trẻ năng đọng nhưng thiêud kinh nghiệm
trong quản lý điều hành. Đã có hiện tượg chảy máu chất xámdo một số sau khi cho đi
đào tạo sau đại học đã bỏ cơ quan Nhà nước đi lmf viẹc cho những ddơn vị liên doanh
co thu nhập cao.
Trong nhiều năm trở lại đây, việc tuyển dụng viên chức thông qua thi tuyển theo quy
định của Nhà nước, việc ĐT,BD CB,CC để đạt chuẩn được tiến hành thường xuyên nên
chất lượng đội ngũ không ngừng được nâng cao.
Trong những năm qua Tỉnh đã mở được những lớp đào tạo ngắn hạn, nhưng số lượng
chủ yếu là cán bộ khối công chức Nhà nước, hiện nay đang hướng vào bồi dưỡng cho
viên chức ngành giáo dục về trình độ lý luận chính trị, QLNN để đảm boả đến năm 2007
đạt từ 25-30% giáo viên có trình độ lý luận chính trị trung cấp. Đối với CB,CC Nhà
nước ngạch chuyên viên và chuyên viên chính trong độ tuổi đều phải qua chương trình
đào tạo lại theo quy định của ngạch. Đối với số cán bộ trẻ có triển vọng, lớp cán bộ tạo
nguồn cần đào tạo cơ bản, toàn diện để có kiến thức cơ bản, có năng lực thực tiễn và
có kỹ năng thực hành nhất định để có thể đảm đương được nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu
về lâu dài. Đối với CB,CC mới tuyển vào cơ quan phải có trình độ chuyen môn chuyên
ngành, trình độ B ngoại gnữ trở len và thành tahọ vi tính
Tỉnh tiến hành tách chức năng QLNN với chức năng điều hành hoạt động sự nghiệp để
nâng cao hiệu lưc, hiệu quả quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước và hiệu lực hoạt
dộng của các đơn vị sự nghiệp. Công tá ĐT,BD CB,CC được chú trọng ở cả ba cấp và
đạt được kết quả nhất đinh. Công tachính sách đào tạo tập trung vào kỹ năng thực hành,
nâng cao khả năng quản lý thực tiễn, đối phó với những tình huống cụ thể, và đặc biệt t\
rất coi trọng công tác tạo nguồn cán bộ đảm bảo đội ngũ CB,CC nagỳ cang hoàn thiện
về trình độ nghiệp vụ và năng lưc thực thi công việc
ĐT,BD CB,CC ở tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc được tái thành lập và đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới tờ
nhất là đối với cán bộ chính quỳên, Đảng và đoàn thể ở ccấp xã; Các cơ sở đào tạo chưa
thực sự được quan tâm đúng mức. Tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý chưa thống nhất,
dội ngũ giảng dạy chưa đủ cả về số lượng và trình độ; Nguồn tài chính đảm bảo cho
công tác ĐT,BD còn hạn hẹp và phân tán. Các ngành,các địa phương chưa huy đọng
được sức mạnh tổng hợp
Biện pháp khắc phục: Xây dựng kế hoạch ĐT,BD dài hạn và ngắn hạn, cá sở ngành, các
địa phương đều xây dựng đề án cải cách hành chính của ngành và địa phương mình. Từ
kế hoạh đó, Sở Nội vụ tông hợp và báo cáo UBND tỉnh phê duyệt; Việc ĐT,BD có trọng
tâm trọng điểm, chấm dứt tình trạng tràn lan, gắn liền ông tác đào tạo với chiến lược cán
bộ; Huy đọng sức mạnh tổng hợp từ ba nguồn kinh phí (Nhà nước, các cơ quan đơn vị
và cá nhân) dể đầu tư cho công tác ĐT,BD. Gắn trách nhiệm vật chất của ngườ đi học
với nhiệm vụ ĐT, BD cán bộ; Củng cố và sắp xếp lại các cơ sở ĐT,BD, hiện nay ở tinh
có Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm hước nghiệp dạy nghề, trường trung
học kinh tế kỹ thuật, trường trung cấp y, Trường trung học văn hóc nghệ thuật, Trường
chính trị tỉnh. Cần đầu tư cơ sở vật chất và đội ngũ ngang tầm với chức năng, nhiệm vụ;
Thường xuyên kiểm tra các cơ sở đào tạo, kịp thơi phát hiện những vưỡng mắc, những
tồn tại để kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có biện pháp khắc phục.
15/15