MỘT số vấn đề về CÔNG tác đào tạo, bồi DƯỠNG cán bộ, CÔNG CHỨC ở HUYỆN văn yên HIỆN NAY - Pdf 35

Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com

Lời mở đầu
Đất nước Việt Nam sau hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn
diện, đặc biệt dưới ánh sáng của Đại hội Đảng lần thứ VI và lần thứ VII đề ra,
nhân dân ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trên nhiều lĩnh vực đặc biệt
là kinh tế và xã hội, xoá bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, định
hình cơ chế tổ chức quản lý mới phát triển: nền kinh tế nhiều thành phần theo
định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước. Đại hội đại biểu toàn quốc
của Đảng lần này đã xác định phải thiết lập cơ chế quản lý mới, thực hiện một
cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước và nâng cao hiệu
lực quản lý nhà nước là nhiệm vụ cực kỳ trọng đại và cấp bách.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, nhất là nhiệm vụ nâng cao hiệu lực
quản lý nhà nước và quản lý kinh tế - xã hội. Nhà nước phải có đội ngò cán
bộ, công chức giỏi, có năng lực, có kinh nghiệm, có phẩm chất chính trị và
đạo đức cách mạng, công chức hành chính nhà nước các cấp, các ngành phải
là những người hiểu biết nguyên tắc và chế độ quản lý hành chính, hiểu biết
pháp luật, có kỹ năng và hiểu biết chuyên môn. Thực chất đội ngò cán bộ của
chúng ta đã có bước phát triển mới, thể hiện được những tố chất của con
người mới, con người XHCN. Đội ngò cán bộ đã có bước trưởng thành góp
phần thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng và nhà nước, góp phần
cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân khẳng định rõ vai trò lịch sử của đất
nước tiến lên theo con đường xây dựng XHCN mà Đảng và Bác Hồ đã lùa
chọn.
Bên cạnh những ưu điểm, đội ngò cán bộ của chúng ta hiện nay vẫn còn
bộc lé nhiều khuyết điểm, nhược điểm.
Đại hội VI và Đại hội VII của Đảng đã đánh giá: "Công tác cán bộ còn
bộc lé nhiều yếu kém... những khuyết điểm trong công tác cán bộ là nguyên
nhân của mọi nguyên nhân yếu kém". Thực tế khi nghiên cứu xem xét về
công tác cán bộ, nhất là từ sau Nghị quyết Trung ương V (Khoá VI) đến nay
chóng ta nhận thấy những quan điểm đổi mới công tác cán bộ của Đảng chậm

Nội dung và cấu trúc luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm 3
chương:
Chương I:


Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com

Vai trò, vị trí của cán bộ, công chức nhà nước. Chương này xác định
quan niệm, phạm vi công chức, vị trí, vai trò công chức và tầm quan trọng
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.

Chương II
Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở huyện Văn
Yên hiện nay.
Nêu lên tình hình chung của huyện và thực trạng đội ngò cán bộ, công
chức, công tác đào tạo, bồi dưỡng.
Chương III
Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức ở huyện.
Nói lên mục tiêu, yêu cầu, phương hướng và giải pháp...


Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com

Chương I
VAI TRÒ, VỊ TRÍ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC

I. QUAN NIỆM CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC:

Công chức là bộ phận quan trọng của nền hành chính, là nhân tố con

Công chức là toàn bộ những người làm việc trong hệ thống hành pháp từ
Trung ương đến địa phương, được tuyển dụng qua thi tuyển và được bổ
nhiệm vào chính ngạch, dùng toàn bộ thời gian chính thức đảm nhiệm một
chức vụ lâu dài nào đó, làm việc trong các cơ sở hành chính nhà nước, cơ
quan lập pháp, tư pháp, xí nghiệp công.
Công sở hành chính và công sở phục vụ công bao gồm: Trường công
học, bệnh viện công, cảnh sát, an ninh... do chính phủ Trung ương thống nhất
quản lý.
* Đức:
Công chức bao gồm những người trong bộ máy nhà nước có cả các nhà
hoạt động chính trị, cảnh sát an ninh song không tính bộ phận sự nghiệp.
* Mỹ:
Những nhân viên trong ngành hành chính của chính phủ được gọi chung
là công chức bao gồm những người được bổ nhiệm về chính trị như: Bộ
trưởng, thứ trưởng, trợ lý bộ trưởng, người đứng đầu bộ máy độc lập và
những quan chức khác trong ngành hành chính.
* Canada:
Công chức chỉ bao gồm những người làm việc trong bộ máy hành chính
nhà nước, không tính bộ phận sự nghiệp.
* Nhật Bản:
Công chức chia ra làm hai loại: Công chức Nhà nước và công chức địa
phương. Công chức Nhà nước là những nhân viên nhậm chức trong bộ máy


Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com

cán bộ của chính phủ trung ương, ngành tư pháp, quốc hội, quân đội, nhà
trường, bệnh viện quốc lập... Công chức địa phương bao gồm những nhân
viên công tác và lĩnh lương từ tài chính địa phương.
* Trung Quốc:

hình là các nước châu Âu như: Anh, Pháp...
- Hệ thống công chức theo chế độ việc làm (Job System) hay chức vụ:
Đây là hệ thống mà việc tuyển dụng, bổ nhiệm công chức chủ yếu dùa theo
công trạng thực tế. Xếp hạng nhân viên theo một chức vụ cụ thể. Việc thi
tuyển công chức không toàn toàn căn cứ vào bằng cấp. Theo hệ thống này, thì
phải thiết kế hàng nghìn vị trí rất phức tạp. Việc đào tạo không hoàn toàn gắn
với sử dụng. Mỗi vị trí chỉ có một mức lương nhất định nên công chức không
phấn khởi. Trong hệ thống này, các công chức chỉ được tuyển dụng vào một
công việc mà không có con đường chức nghiệp. Hiện nay có Mỹ và Liên Hợp
Quốc sử dụng hệ thống này.
- Chế độ hỗn hợp - Kết hợp chế độ chức vụ và chế độ chức nghiệp. Chế
độ này có ưu điểm là vừa khuyến khích việc tuyển bổ được các nhân tài cho
các chức vụ chỉ huy điều khiển của nền công vụ. Hiện nay trên thế giới không
có một chế độ công vụ nào hoàn toàn theo mét trong hai chế độ trên mà đều
có sự lai tạp, kết hợp mềm dẻo giữa hai chế độ. Công cuộc cải cách nền hành
chính ở Việt Nam đang được tiến hành theo hướng xây dựng nền công vụ lấy
chế độ chức nghiệp làm chính, trong đó có áp dụng những mặt ưu việt của chế
độ việc làm.
Tóm lại:
Quan niệm về công chức mỗi nước mỗi khác song công chức ở mọi quốc
gia đều là những người được bổ nhiệm bởi một cơ quan quyền lực hành chính
vào một công việc thường xuyên, tuân theo một số nguyên tắc nhất định,
được đảm bảo công ăn việc làm và được hưởng lương từ ngân sách.
2. Quan niệm cán bộ, công chức ở Việt Nam
Trước Cách mạng tháng Tám dưới ách thống trị của thực dân phong
kiến. Các công chức người Pháp, người Việt được tuyển dụng theo tiêu chuẩn
của Pháp. Cách mạng tháng Tám thành công đã đánh một mốc son trong lịch


Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com

cán bộ nói trên từ nhiều nguồn bằng nhiều con đường như: Bầu cử, phân công


Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com

sau khi tốt nghiệp các chương trình đào tạo, tuyển dụng, đề bạt cho nên phạm
vi cán bộ rất rộng vì vậy không Ýt trường hợp tuyển dụng, sắp xếp hoặc đề
bạt cán bộ không đúng chuyên môn ngành nghề.
Những căn nguyên trên dẫn tới tình hình khó khăn cho công tác cán bộ.
Vì vậy với mục đích tạo cơ sở để chọn đúng, sử dụng có hiệu quả đội ngò
công chức Nhà nước làm việc trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp của
nhà nước và từng bước xây dựng đội ngò công chức nhà nước có nghiệp vụ
thành thạo ngang tầm với nhiệm vụ và yêu cầu xây dựng bộ máy quản lý nhà
nước vững mạnh, ngày 25/05/1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị
định Số 169/HĐBT về công chức Nhà nước. Điều đầu tiên của nghị định là
xác định: "Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ
thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương
ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch được hưởng lương
do ngân sách Nhà nước cấp gọi đó là công chức nhà nước".
Công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta đòi hỏi chúng ta phải có văn bản
pháp luật quy định hoạt động của đội ngò công chức, trong đó có sự phân loại
đội ngò công chức trong lĩnh vực quản lý nhà nước, hoạt động sự nghiệp
nhằm hình thành đội ngò công chức có chuyên môn, có phẩm chất. Hiện tại
đối tượng và phạm vi của công chức ở nước ta vẫn theo quy định tại Khoản 1,
Điều 2 Nghị định Số 169/HĐBT:
a. Những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở
Trung ương, ở các tỉnh, huyện và cấp tương đương.
b. Những người làm việc trong các Đại sứ quán, Lãnh sự quán của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.
c. Những người làm việc trong các trường học, bệnh viện, cơ quan

những căn cứ cho việc xác định biên chế các công chức một cách hợp lý.
Thông thường việc phân loại công chức được thực hiện theo nhiều tiêu
thức:
3.1. Loại công chức:
Mục đích của việc phân loại là nhằm phục vụ cho quy hoạch công chức,
đáp ứng yêu cầu của các loại công việc, tạo ra sự cân đối trong việc sắp xếp
và quản lý công chức. Xuất phát từ mục đích trên, phân chia công chức thành
4 loại:


Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com

- Công chức lãnh đạo: là những công chức giữ cương vị chỉ huy trong
điều hành công việc của các cơ quan quản lý thuộc bộ máy Nhà nước.
Công chức lãnh đạo là những người được quyền ra quyết định quản lý,
chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động của đơn vị mình phụ trách, tổ chức và
điều hành công chức lãnh đạo được giao những thẩm quyền nhất định, thẩm
quyền đó gắn với chức vụ mà họ đảm nhận.
- Công chức chuyên gia: là những người có trình độ chuyên môn kỹ
thuật, có khả năng nghiên cứu đề xuất những phương hướng, quan điểm và
thực thi công việc chuyên môn phức tạp. Họ là những người tư vấn cho lãnh
đạo, đồng thời cũng là những nhà chuyên môn.
- Công chức thi hành công vụ nhân danh quyền lực Nhà nước: Là những
người là bản thân họ không có thẩm quyền ra quyết định như các công chức
lãnh đạo. Họ là những người thừa hành công việc, thực thi công vụ. Họ được
trao những thẩm quyền nhất định trong phạm vi công tác của mình khi làm
nhiệm vụ.
- Các nhân viên hành chính: là những người thực hành nhiệm vụ do các
công chức lãnh đạo giao phó. Họ là những người làm công tác phục vụ trong
bộ máy Nhà nước.

+ Hạng D: có trình độ tiểu học
Việc phân hạng công chức chỉ mang ý nghĩa định tính mà chưa xác định
rõ thứ bậc của người công chức.
3.3. Ngạch công chức:
Ngạch công chức là khái niệm chỉ trình độ, năng lực khả năng chuyên
môn và ngành nghề của công chức. Theo quyết định Số 414/TCCP - VC ngày
29/5/1993 công chức trong bộ máy Nhà nước ta được xếp theo các ngạch:
Nhân viên, cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp và
cố vấn.
Mỗi ngạch công chức chia thành nhiều bậc. Bậc là các thứ hạng trong
một ngạch. Nếu chuyển ngạch phải được đào tạo, phải qua thi tuyển, thì việc
nâng bậc trong phạm vi ngạch chỉ phụ thuộc vào nhân viên công tác, chất
lượng công tác và kỷ luật của công chức.


Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com
II. VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC:

1. Vai trò của cán bộ, công chức:
Nền hành chính nhà nước được cấu thành bởi ba bộ phận:
+ Cơ cấu vận hành nền hành chính (Thể chế)
+ Cơ cấu tổ chức bộ máy với các cơ quan hành chính (Thiết chế)
+ Cơ cấu bộ máy nhân sự với đội ngò cán bộ, công chức.
Ba bộ phận này có liên hệ chặt chẽ với nhau, quy định lẫn nhau. Nghị
quyết hội nghị trung ương 8 khoá VII đã nhấn mạnh: Vấn đề cán bộ, công
chức là một trong 3 nội dung của trình độ cải cách hành chính ở Việt Nam.
Nghị quyết Trung ương 3 khoá VIII cũng tập trung chủ yếu vào vấn đề cán
bộ, trong đó có đội ngò cán bộ, công chức cua chính quyền cơ sở đặc biệt là
đội ngò cán bộ chủ chốt của chính quyền cơ sở. Đội ngò cán bộ chủ chốt làm
việc tại chính quyền cơ sở (xã, phường, thị trấn) là những người trực tiếp với

cách đó.
Đội ngò cán bộ, công chức nước ta hiện nay là con đẻ của một xã hội
tiến bộ, của chế độ mới và là sản phẩm của quá trình lịch sử hơn 50 năm xây
dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đội ngò cán bộ, công chức đóng
góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân téc, thống nhất đất nước và xây dựng
đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng XHCN làm thay đổi mối quan hệ giữa nhà nước và thị
trường dẫn đến vai trò nhà nước trong cơ chế mới khác hẳn so với trước.
Công cuộc đổi mới kinh tế cho thấy những bước tiến đáng mừng, nó đã đi
trước một bước và đặt ra yêu cầu cải cách hành chính. Trong hoàn cảnh mới
đầy khó khăn. Cán bộ, công chức phải gánh gách những nhiệm vụ mới nặng
nề hơn. Chính họ sẽ đóng vai trò quyết định tính hiệu lực, hiệu quả của nền
hành chính nhà nước phát huy được những yếu tố tích cực, ngăn ngõa những
yếu tố tiêu cực làm cho quá trình này kìm hãm sự phát triển xã hội.
Tóm lại cán bộ, công chức có vai trò đặc biệt quan trọng trong bộ máy
và nền hành chính nhà nước, vừa là người tổ chức lên bộ máy hành chính vừa
là người vận hành nó. Cán bộ, công chức hành chính là người duy trì hoạt
động của bộ máy hành chính, là tấm gương phản ánh nền hành chính nhà
nước.


Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com

2. Vị trí của cán bộ, công chức:
Vị trí của cán bộ, công chức khác nhau được pháp luật quy định khác
nhau. Trong thực tế, pháp luật đã xác định được các yếu tố về vị trí pháp lý
của các loại cán bộ. Vị trí pháp lý chung bao gồm các yếu tố:
- Mối liên hệ với nhân dân. Mỗi cán bộ xuất phát từ nhân dân lao động,
cho nên trong quan hệ xã hội họ thường xuyên liên hệ với nhân dân. Nói cách

Đào tạo, bồi dưỡng là hai khái niệm phản ánh cùng một mục đích, trang
bị kiến thức và kỹ năng cho người công chức. Nhưng thực ra hai khái niệm có
những thuộc tính, nội dung, quy trình khác nhau:
Đào tạo được hiểu là một quá trình truyền thụ kiến thức mới để người
công chức thông qua quá trình đó trở thành công chức có văn bằng mới hoặc
cao hơn trình độ trước đó. Như đào tạo cán sự, các cử nhân, các chuyên viên
hoặc chuyên viên chính (trong hệ thống ngạch bậc hiện nay) là việc tuyển
dụng những công chức hoặc những công dân khi họ tróng tuyển trở thành
công chức, sau đó đưa họ vào cơ sở đào tạo để họ học và nhận những văn
bằng tương đương.
Bồi dưỡng hay tu nghiệp là quá trình hoạt động làm tăng thêm những
kiến thức và kỹ năng mới đối với những người đang giữ chức vụ, đang thực
thi công vụ của một ngạch bậc nhất định kết quả của các khoá bồi dưỡng là
người học nhận được những chứng chỉ ghi nhận kết quả.
Thông thường vì đào tạo là một quá trình trang bị kiến thức cơ bản mới
hoặc ở trình độ cao hơn, nên thời gian đào tạo thường dài hơn so với bồi
dưỡng. Khoá đào tạo Ýt nhất phải tương đương với một năm học (9 tháng) trở
lên.
Còn bồi dưỡng với mục đích chủ yếu là bổ sung kiến thức (cũng có thể
là trang bị kiến thức mới nhưng chỉ là một loại, nhóm kiến thức của các
chuyên môn như: Tin học, ngoại ngữ, dân số, môi trường...) hoặc chuyên sâu,
cập nhật những vấn đề liên quan đến chức vụ công chức đang đảm nhiệm. Vì
vậy, bồi dưỡng thường có thời gian ngắn hơn có thể là một, hai tuần hoặc
một, hai, ba tháng. Bồi dưỡng được xác nhận bởi các chứng chỉ.


Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com

Như vậy ta thấy đào tạo, bồi dưỡng có mối quan hệ mật thiết với nhau,
chúng hỗ trợ, củng cố cho nhau để người được đào tạo, bồi dưỡng có kiến


thấu, hoà quyện vào các quy định pháp luật nhà nước. Nó có vai trò hết sức
quan trọng trong quá trình xây dựng một nền hành chính hiện đại đối với mọi
quốc gia.
4. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được thực hiện dưới nhiều
hình thức
- Nhà nước đào tạo: Nhà nước mở các líp các trường như đại học, học
viện chính trị, trung tâm chính trị để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
trong cơ quan nhà nước của mình. Bắt buộc mọi cán bộ, công chức sau khi
được đào tạo, mỗi năm phải đi bồi dưỡng để củng cố kiến thức và kỹ năng
chuyên môn nghề nghiệp, cập nhật những kiến thức mới cho phù hợp với sự
phát triển của thế giới và khu vực.
- Cán bộ, công chức tự học để từ đó nâng cao năng lực và trình độ của
mình, theo kịp sự biến đổi của sự phát triển tránh sự hẫng hụt về mọi mặt để
từ đó có thể đề ra những chính sách mới, hoạch định chính sách có hiệu quả
và phù hợp với thời kỳ mới.
IV. TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC:

Cải cách hành chính là công việc thường xuyên, liên tục của mọi quốc
gia nhằm khắc phục những khuyết tật của nền hành chính nhà nước, đáp ứng
yêu cầu phát triển liên tục, ổn định của nền hành chính và thường xuyên đáp
ứngn gày càng cao của xã hội. Ở Việt Nam, nội dung của công cuộc cải cách
hành chính được đại hội Đảng toànquốc lần thứ VIII chỉ rõ: "Cải cách nền
hành chính nhà nước là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước
trong những năm trước mắt, công cuộc cải cách hành chính phải dùa trên cơ
sở pháp luật và tiến hành đồng bộ trên các mặt: Cải cách thể chế hành chính,
tổ chức bộ máy và xây dựng, kiện toàn đội ngò cán bộ, công chức nhà nước".
Trong đó, xây dựng, phát triển đội ngò cán bộ, công chức nhà nước được coi
là nội dung mang tính quyết định đối với công cuộc cải cách hành chính.

chính nhà nước luôn được đặt ra đối với mọi quốc gia và đối với quốc gia thì
yêu cầu cũng đặt ra cho từng địa phương cơ sở (như tỉnh, thành phố, huyện,
xã..). Khi xã hội càng phát triển thì những mối quan hệ chỉ huy, phối hợp liên
kết ngày càng phức tạp, thì người quản lý, điều hành phải có trình độ ngày
càng cao. Do đó phải luôn luôn bồi dưỡng đào tạo lại những cán bộ lãnh đạo,
nhà chức trách điều hành bộ máy hành chính nhà nước, để bổ sung kiến thức


Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com

cho họ, đào tạo mới những công chức tương lai có năng lực và tri thức một
cách có hệ thống, chính quy để bổ sung vào bộ máy đó.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay rất
quan trọng bởi vì:
1. Quá trình xây dựng kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng XHCN
Quá trình trên đòi hỏi phải có một đội ngò cán bộ, công chức đủ trình độ,
đủ năng lực và phẩm chất để có thể quản lý nền kinh tế vận hàng theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp trước đây do điều kiện
đất nước có chiến tranh nên cán bộ công chức của ta Ýt được đào tạo một
cách có hệ thống hoặc đào tạo theo mô hình kinh tế kế hoạch tập trung bao
cấp chuyển sang kinh tế thị trường, họ cần phải được đào tạo lại, được bồi
dưỡng để bổ sung và cập nhật kiến thức mới.
Việc đào tạo mới cũng phải theo hướng xây dựng và quản lý nền kinh tế
thị trường. Cán bộ, công chức phải được đào tạo, bồi dưỡng để có thể nâng
cao hiểu biết về mọi mặt như pháp luật, làm luật, đề ra luật phù hợp điều kiện
tình hình của chúng ta hiện nay.
Cán bộ, công chức có đủ năng lực và trình độ hoạch định và thực hiện
chính sách kinh tế: hoạch định được những chính sách đưa ra những chính

nhanh chóng trên mọi lĩnh vực.
Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước có năng lực,
phẩm chất, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn là một vấn đề một
nhiệm vụ mang tính then chốt, một bộ phận không thể tách rời của công cuộc
cải cách nền hành chính nhà nước, của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước và của quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và
công chức nhà nước, trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước ngày càng
quan tâm hơn đến công tác này. Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (Khoá VIII) đã ra nghị quyết về chiến lược cán bộ trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Tiếp đến, quyết định


Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com

874/TTg ngày 20/11/1996 của Thủ tướng Chính phủ một lần nữa khẳng định
rõ tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà
nước.


Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com

Chương II
Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở huyện Văn
Yên hiện nay

I. Tình hình phát triển chung của huyện Văn Yên

1. Tình hình phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội

chiến lược "diễn biến hoà bình". Và nhiều thủ đoạn thâm hiểm vẫn đang tiềm
Èn nhằm vào mặt trận văn hoá - tư tưởng tác động của những mặt trái của cơ
chế thị trường làm ảnh hưởng đến nhận thức của nhân dân.
Với tình hình trên, đặc biệt sau khi có chỉ thị 58, Nghị định 19/CP của
Chính phủ. Huyện uỷ - HĐND - UBND đã ý thức đầy đủ tình hình của địa
phương, triển khai tích cực hiệu quả nội dung chỉ thị, nghị định. Tăng cường
hiệu lực quản lý Nhà nước về quốc phòng an ninh, nhằm xây dựng cơ sở xã thị trấn - cơ quan vững mạnh toàn diện. Vừa phát triển kinh tế, vừa củng cố
quốc phòng an ninh tạo thế và lực xây dựng cuộc sống bình an - Êm no cho
nhân dân. Được sự quan tâm lãnh đạo - chỉ đạo của cấp uỷ - chính quyền, các
ban ngành của tỉnh, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ, chính quyền địa
phương, những năm qua UBND cùng các cấp, các ngành, các địa phương đã
đồng bộ triển khai tích cực hiệu quả, đẩy mạnh phát triển kinh tế, kết hợp với
củng cố quốc phòng an ninh, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong
xây dựng cơ sở, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ, chính quyền hoàn
thành các mục tiêu kinh tế - văn hoá xã hội - giáo dục - y tế - quốc phòng an
ninh. Tạo niềm tin của nhân dân với Đảng, lực lượng vũ trang trưởng thành
thực sự là lực lượng nòng cốt, lực lượng chính trị hùng hậu cùng toàn Đảng
bộ và nhân dân làm thất bại âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù
địch, xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu trong giai cấp
cách mạng mới.
b) Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện:
Trong những năm vừa qua huyện giữ vững được sự tăng trưởng kinh tế
nhất là lĩnh vực sản xuất lương thực: Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 10,2%



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status