B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
NGUYN TH HNG
VậN DụNG PHƯƠNG PHáP GIảI QUYếT VấN Đề
TRONG DạY HọC PHầN CÔNG DÂN VớI PHáP LUậT
MÔN GIáO DụC CÔNG DÂN LớP 12 ở TRƯờNG THPT Từ SƠN, BắC NINH
Chuyờn ngnh: Lý lun v phng phỏp ging dy Giỏo dc chớnh tr
Mó s :60.14.01.11
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
Ging viờn hng dn: TS. Nguyn vn Phỳc
H NI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân,
tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy TS. Nguyễn văn Phúc,
khoa Giáo dục chính trị, trường Đại học sư phạm Hà Nội, người đã luôn tận tình
hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo trong khoa
Giáo dục chính trị, trường ĐHSP Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi
nhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Bên cạnh đó,tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và
các em học sinh trường THPT Từ Sơn, Bắc Ninh đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo
điều kiện trong suốt quá trình tôi thực nghiệm tại trường.
PPDH
Phương pháp dạy học
PPGQVĐ
Phương pháp giải quyết vấn đề
THCVĐ
Tình huống có vấn đề
TN
Thực nghiệm
ĐC
Đối chứng
SGK
Sách giáo khoa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1.Lý do chọn đề tài. ........................................................................................... 1
2 . Lịch sử nghiên cứu. ...................................................................................... 2
TỪ SƠN, BẮC NINH .................................................................................... 33
2.1 .Những nguyên tắc cơ bản sử dụng phƣơng pháp giải quyết vấn đề
trong dạy học phần “Công dân với pháp luật” môn GDCD 12 ở Trƣờng
THPT Từ Sơn, Bắc Ninh . ............................................................................ 33
2.1.1. Nguyên tắc xây dựng tình huống có vấn đề phù hợp. .......................... 33
2.1.2. Nguyên tắc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. ................. 36
2.1.3. Nguyên tắc đảm bảo mục đích của giáo dục......................................... 38
2.1.4.Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn. ....................................................... 39
2.2. Biện pháp sử dụng phƣơng pháp giải quyết vấn đề trong dạy học
phần “Công dân với pháp luật” môn Giáo dục công dân 12 ở Trƣờng
Trung học phổ thông Từ Sơn, Bắc Ninh ..................................................... 40
2.2.1. Sử dụng kết hợp phương pháp giải quyết vấn đề với các phương pháp
dạy học tích cực khác ..................................................................................... 40
2.2.2. Sử dụng kết hợp với các kỹ thuật dạy học tích cực. ............................. 42
2.2.3.Sử dụng những câu chuyện pháp luật trong giảng dạy . ........................ 43
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 47
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP GIẢI
QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI PHÁP
LUẬT” MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12 Ở TRƢỜNG THPT TỪ
SƠN, BẮC NINH ........................................................................................... 48
3.1. Kế hoạch thực nghiệm. .......................................................................... 48
3.1.1. Mục đích thực nghiệm. ......................................................................... 48
3.1.2. Giả thuyết thực nghiệm. ........................................................................ 48
3.1.3. Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm và đối chứng. .................... 48
3.2. Nội dung thực nghiệm. ........................................................................... 49
3.2.1. Những nội dung khoa học cần thực nghiệm. ...................................... 49
3.2.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm. ............................................................... 49
3.2.3. Tiêu chí đánh giá. .................................................................................. 81
Môn giáo dục công dân trong trường trung học phổ thông là môn học có
vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh,
giúp học sinh trau dồi những phẩm chất và năng lực cần thiết của người công
dân trong thời đại mới .Đặc biệt là chương trình giáo dục công dân lớp 12 đã
đưa nội dung pháp luật vào giảng dạy nhằm cung cấp cho học sinh những
kiến thức cơ bản về pháp luật nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Từ đó giúp các em biết được những
quyền tự do, dân chủ cơ bản của mình, biết được những nghĩa vụ mà các em
phải thực hiện, biết phân biệt được đâu là hành vi trái pháp luật, đâu là hành
vi đúng pháp luật, biết được trách nhiệm pháp lý mà mình phải chịu khi vi
phạm pháp luật. Và qua đó từng bước hình thành cho học sinh thói quen, kỹ
năng vận dụng tri thức đã học vào cuộc sống.giúp nâng cao ý thức pháp luật
cho học sinh.
Chính vì vậy việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn giáo dục công dân
lớp 12 hiện nay đang là nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa
chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo con người.Để góp phần
1
thực hiện được mục tiêu đó, yêu cầu đặt ra cho đội ngũ giáo viên là phải đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm.Phương pháp giải
quyết vấn đề là một trong những phương pháp dạy học hiện đại có khả năng
phát huy được tính tích cực của học sinh, đáp ứng được yêu cầu đổi mới của
giáo dục hiện nay.Do đó tôi đã chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp giải quyết
vấn đề trong dạy học phần “ Công dân với pháp luật” môn Giáo dục công dân
lớp 12 ở trường THPT Từ Sơn, Bắc Ninh” làm đề tài nghiên cứu.
2 . Lịch sử nghiên cứu.
2.1. Lịch sử nghiên cứu phƣơng pháp giải quyết vấn đề trong dạy học
nói chung
I.IA. Lecne với “Dạy học nêu vấn đề” [19] cũng đặc biệt quan tâm tới
THCVĐ trong dạy học nêu vấn đề. Ông cho rằng THCVĐ là một khâu quan
trọng của dạy học nêu vấn đề. Không có THCVĐ thì không có dạy học nêu
vấn đề. Ông đã vạch ra các dạng dạy học giải quyết vấn đề và tính giải quyết
vấn đề trong toàn bộ hệ thống dạy học, định ra các chức năng và các tiêu
chuẩn đánh giá của dạy học giải quyết vấn đề. Ông cũng nêu ra những nhiệm
vụ cơ bản và vai trò của GV đối với quá trình dạy học giải quyết vấn đề.
V.Okôn - nhà giáo dục học nổi tiếng của Ba Lan với “Những cơ sở của
việc dạy học nêu vấn đề” [38], đã khẳng định được tác dụng của phương pháp
dạy học giải quyết vấn đề là “kích thích học sinh tích cực suy nghĩ, chủ động
tìm tòi, sáng tạo để giải quyết vấn đề, đạt tới kiến thức mới một cách sâu sắc,
vững chắc”.
M.I Makhơmutôp đã đạt được một số thành tựu về tâm lý học – giáo dục
học, đặc biệt là lý luận dạy học của M.I Macmutov đã chính thức đưa ra cơ sở
lý luận vững chắc của PPDH giải quyết vấn đề – PPDH được kế thừa bởi dạy
học Algorit hóa và Ơrixtic – và đã đưa dạy học giải quyết vấn đề trở thành
một phương pháp dạy học tích cực.
3
Hai tác giả N.G.Kaznsky và T.S.Nazarôva trong “Lý luận dạy học tiểu
học” đã đề cập đến định nghĩa bản chất của dạy học nêu vấn đề, khái niệm
tình huống có vấn đề trong học tập, cấu trúc tâm lý của dạy học nêu vấn đề,
một số thủ thuật xây dựng tình huống có vấn đề trong giờ học, cách sử
dụng tình huống có vấn đề trên lớp, sử dụng dạy học nêu vấn đề với các
nhóm, tổ học tập.
2.1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm
về dạy học giải quyết vấn đề với mục đích nâng cao chất lượng dạy học theo
Giáo sư Trần Bá Hoành là người sớm có những nghiên cứu về mặt lý
luận và vận dụng thành công dạy học giải quyết vấn đề.
Gần đây, Nguyễn Kì đã đưa phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề
vào nhà trường tiểu học và thực nghiệm ở một số môn như Toán, Tự nhiên–
Xã hội, Đạo đức.
GS Vũ Văn Tảo, trong tổng luận “Dạy học giải quyết vấn đề một hướng
đổi mới trong mục tiêu và phương pháp đào tạo” cho rằng “Giải quyết vấn
đề là một ý tưởng xuất hiện trong giáo dục hiện đại, một cách phổ biến và có
hấp dẫn trong vòng hơn một thập kỉ nay”, lấy “vấn đề”, “chủ đề”, “tình
huống có vấn đề” là một hướng cải cách dạy học, lấy “bồi dưỡng năng lực
giải quyết vấn đề” làm một yêu cầu mới của mục tiêu đào tạo.
Như vậy, phương pháp dạy học giải quyết vấn đề đã được nhiều nhà
khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu nhằm đề cập đến vai trò, tác
dụng của phương pháp dạy học GQVĐ như một phương pháp có hiệu quả
quan trọng không thể thiếu trong việc phát triển tư duy , kích thích học sinh
suy nghĩ tìm tòi, phát hiện ra các mối quan hệ nhân quả, biết cách lựa chọn
những biện pháp tối ưu để giải quyết một vấn đề. vạch ra bản chất, vai trò của
phương pháp này trong việc nâng cao tính tích cực dạy học.
5
2.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trong dạy học môn Giáo dục công dân.
Đối với môn GDCD thì có nhiều luận văn khoa học, sáng kiến kinh
nghiệm viết về phương pháp giải quyết vấn đề như :
Sáng kiến kinh nghiệm của Ngô Thanh Y với đề tài “PPNVĐ trong quá
trình giảng dạy môn gdcd ở bậc THPT”,
Sáng kiến kinh nghiệm của Phạm thị Lan với đề tài “ Sử dụng PPGQVĐ
trong giảng dạy môn GDCD lớp 10 nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
giảng dạy tại trương THPT Quảng Xương 4”,
nghiệm sư phạm để khảo sát tính hiệu quả của phương pháp trong dạy học
phần “ Công dân với pháp luật” môn GDCD 12 cho học sinh Trường THPT
Từ Sơn, Bắc Ninh .
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Với đề tài này chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp GQVĐ.
+ Nghiên cứu thực trạng của việc sử dụng phương pháp GQVĐ ở
trường THPT Từ Sơn.
+ Nghiên cứu những nguyên tắc và biện pháp sử dụng PPGQVĐ trong
dạy học phần “ Công dân với pháp luật” môn Giáo dục công dân lớp 12 ở
trường THPT Từ Sơn..
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề sử dụng phương pháp GQVĐ trong dạy
học phần “ Công dân với pháp luật” môn Giáo dục công dân lớp 12 ở Trường
THPT Từ Sơn, Bắc Ninh.
Phạm vi nghiên cứu: ứng dụng dạy phần “Công dân với pháp luật”
trong chương trình giáo dục công dân lớp 12 với học sinh khối 12 trường
THPT Từ Sơn.
5.Khách thể nghiên cứu.
Qúa trình dạy học môn giáo dục công dân lớp 12 ở Trường THPT Từ Sơn.
7
6. Giả thuyết khoa học
Nếu phương pháp GQVĐ được vận dụng theo đúng nguyên tắc, quy
trình, biện pháp đã nêu trong luận văn thì sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc
giảng dạy phần “ Công dân với pháp luật” môn giáo dục công dân 12, phát
huy được tính tích cực, tính tự lực nhận thức, tính tự giác của học sinh trong
học tập, hình thành ở họ năng lực độc lập giải quyết vấn đề góp phần nâng
cao được chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục, đào tạo.
Đưa ra những nguyên tắc và biện pháp sử dụng phương pháp giải quyết
vấn đề trong dạy học phần “ Công dân với pháp luật” môn giáo dục công dân
12 ở trường THPT Từ Sơn, Bắc Ninh .
Khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy
học môn giáo dục công dân phần “ Công dân với pháp luật” ở trường THPT
Từ Sơn, Bắc Ninh.
Thiết kế giáo án thực nghiệm, tiến hành thực nghiệm đối chứng để làm rõ
tính khả thi của việc sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học môn
GDCD phần “ Công dân với pháp luật” ở trường THPT Từ Sơn, Bắc Ninh.
- Những đóng góp của luận văn:
Luận văn góp phần xây dựng được các luận cứ khoa học về phương pháp
giải quyết vấn đề và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng phương pháp này. Bên
cạnh đó luận văn còn chỉ ra sự cần thiết phải áp dụng phương pháp giải quyết
vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân phần “ Công dân với pháp luật”
ở trường THPT Từ Sơn, Bắc Ninh.
Xây dựng một số nguyên tắc và biện pháp nhằm sử dụng có hiệu quả
phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 12
phần “ Công dân với pháp luật” ở trường THPT Từ Sơn, Bắc Ninh.
Luận văn có tính ứng dụng cao nên có thể được sử dụng làm tài liệu
nghiên cứu cho các sinh viên chuyên ngành phương pháp dạy học,hoặc có thể
làm tài liệu tham khảo cho các giáo viên đang giảng dạy môn giáo dục công
dân lớp 12 trên cả nước nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn giáo dục
công dân nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung.
9
9. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
kết cấu của luận văn gồm có 3 chương 9 tiết.
1.1.1.1.2.Khái niệm phương pháp dạy học giải quyết vấn đề.
Một số quan điểm về dạy học giải quyết vấn đề như sau:
Nhà giáo dục học Ba Lan V.Okôn cho rằng: “DH NVĐ là toàn bộ các
hoạt động như tổ chức tình huống có vấn đề, biểu đạt các vấn đề, chú ý giúp
đỡ cho học sinh những điều cần thiết để giải quyết vấn đề, kiểm tra cách giải
quyết đó và cuối cùng là quá trình hệ thống hoá và củng cố các kiến thức tiếp
thu được” [39, tr.103].
I.Ia.Lecne cho rằng: “DH NVĐ là phương pháp dạy học trong đó học
sinh tham gia một cách hệ thống vào quá trình giải quyết các vấn đề và các
bài toán có vấn đề được xây dựng theo nội dung tài liệu học trong chương
trình”. [19, tr.56]
12
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo: “Dạy học nêu vấn đề là hình thức dạy
học dựa trên những quy luật của sự lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động
một cách sáng tạo, bao gồm sự kết hợp các phương pháp dạy và học có những
nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học. Nhờ vậy, nó đảm bảo cho học sinh lĩnh
hội vững chắc những cơ sở khoa học, phát triển tính tích cực, tính tự lực và
năng lực sáng tạo và hình thành cơ sở thế giới quan cho họ” [4, tr.41].
Qua các định nghĩa của các tác giả trong và ngoài nước về phương pháp
dạy học giải quyết vấn đề, mặc dù cũng có sự khác biệt nhưng các tác giả đều
coi phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là việc tổ chức quá trình dạy học
bằng cách sáng tạo ra các tình huống có vấn đề, tạo ra ở học sinh nhu cầu phát
hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh, lôi cuốn học sinh tự lực trong hoạt động
nhận thức.
Từ những ý kiến trên,chúng ta có thể nêu ra định nghĩa về phương pháp
dạy học giải quyết vấn đề như sau: Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là
phương pháp dạy học đặt học sinh trước một nhiệm vụ nhận thức thông qua
những tình huống có vấn đề do giáo viên đặt ra, học sinh ý thức được vấn đề
đích là giải được bài toán và ghi nhớ kiến thức đã học được, trong dạy học
giải quyết vấn đề thì việc xây dựng các bài toán nhận thức là mục đích quan
trọng. Chính các bài toán nhận thức đó sẽ gây ra nhu cầu và động cơ nhận
thức, thúc đẩy sự tìm tòi sáng tạo của HS. Mục tiêu của dạy học giải quyết
vấn đề là giúp HS nắm vững nội dung và có được các kĩ năng giải quyết các
vấn đề có thực trong cuộc sống.
1.1.1.3. Ưu, nhược điểm của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề .
1.1.1.3.1. Về ưu điểm .
Con người đặc biệt là lứa tuổi thanh thiếu niên- lứa tuổi có những biến
đổi mạnh cả về thể chất và tâm lý, luôn phải đối mặt với những khó khăn, thử
thách, với những tình huống đa dạng trong cuộc sống. Phương pháp giải
quyết vấn đề giúp học sinh biết cách giải quyết tích cực, hiệu quả đối với
14
những khó khăn, thách thức của cuộc sống thực tiễn để có một cuộc sống có
chất lượng, an toàn , lành mạnh.
Bên cạnh đó, PPDH GQVĐ là một trong những PPDHTC, vì thế ưu
điểm của nó là mang các tính chất đặc trưng của PPDH này.
- Việc sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học sẽ giúp cho học sinh
hiểu sâu sắc, nắm vững kiến thức bài học. Qua đó giúp các em hình thành kĩ
năng, kĩ xảo để vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, phát triển tư duy phê
phán và kỹ năng ra quyết định.
- Phương pháp này tạo điều kiện tốt để đưa HS vào vị trí trung tâm của
hoạt động, phát triển năng lực nhận thức, tư duy sáng tạo cho các em.
- Vì đặc điểm tích cực hóa được hoạt động học tập của SV nên các em
tập trung vào học tập, không chú trọng tới các vấn đề khác, tạo điều kiện
thuận lợi để GV bao quát lớp tốt.
- Giúp học sinh bước đầu làm quen với hoạt động trí tuệ, tránh lối làm
thú cho học sinh.GV đưa ra một vấn đề hay một hệ thống các vấn đề để làm
sao cho HS nhận thấy đó là vấn đề học tập cần thiết (có thể dưới hình thức
câu hỏi) và làm xuất hiện tình huống có vấn đề, HS cần phải tìm câu trả lời và
cách giải quyết vấn đề đó. Mục tiêu của bước này là giới thiệu tình huống
chứa đựng vấn đề, giúp HS tiếp nhận, sẵn sàng và mong muốn tham gia giải
quyết vấn đề dưới sự dẫn dắt của giáo viên. Giai đoạn này được tiến hành
thông qua 3 bước:
* Bước 1a: Giới thiệu tình huống chứa đựng vấn đề
Tình huống có vấn đề là một trong những khái niệm cơ bản trọng tâm
của PPDHGQVĐ, nó có vai trò quan trọng trong quá trình lĩnh hội tri thức và
điều khiển quá trình tư duy. Bàn về tình huống có vấn đề đã có nhiều tác giả
có ý kiến khác nhau.
A.M.Machiuskin cho rằng: “Một tình huống gọi là tình huống có vấn
đề khi xuất hiện sự không tương xứng, sự xung khắc giữa cái đã biết và cái
16
đòi hỏi, cách thức và những yếu tố thực hiện hành động đang đòi hỏi; hoặc
khi con người gặp phải một vài độc lập mới mà không thể thực hiện hành
động đã biết”.
Theo PGS. TS Nguyễn Ngọc Bảo: “Tình huống có vấn đề là trạng thái
tâm lý của sự khó khăn về trí tuệ xuất hiện ở con người khi họ trong tình huống
có vấn đề mà họ phải giải quyết chứ không thể giải thích một sự kiện mới bằng
tri thức đã có trước đây và họ phải tìm cách thức hoạt động mới”. [4, tr.43]
Tóm lại, tình huống có vấn đề là một hiện tượng chủ quan, là một trạng
thái tâm lý của chủ thể, trạng thái lúng túng xuất hiện trong quá trình nhận
thức như một mâu thuẫn giữa chủ thể và khách thể nhận thức trong hoạt động
của con người.
* Những đặc điểm cơ bản của tình huống có vấn đề .
+ Ba là, tình huống bác bỏ.
Đó là tình huống có vấn đề khi phải bác bỏ một kết luận, một luận đề sai
lầm, phản khoa học. Để làm được điều đó học sinh phải tìm ra những điểm
yếu của luận đề, chứng minh tính chất sai lầm của nó.
+ Bốn là, tình huống "Tại sao" .
Đây là tình huống phổ biến đồng thời xuất hiện nhiều trong khi nghiên
cứu khoa học cũng như trong dạy học. Tình huống này người ta gặp phải
những hiện tượng, sự kiện mà con người chưa đủ tri thức để giải thích hiện
tượng đó và con người luôn thốt ra "Tại sao". [4, tr.47]
Như vậy, trong thực tiễn dạy học, điều quan trọng là phải làm thế nào để tạo
nên tình huống có vấn đề. Tuy nhiên, để tạo được những tình huống có vấn đề
người GV cũng phải nắm được và phân biệt được các loại tình huống có vấn đề
nhằm đặt ra hệ thống mâu thuẫn phù hợp với môn học và trình độ SV của mình.
*Cách tạo tình huống có vấn đề.
Đã có nhiều ý kiến khác nhau về việc đưa ra các cách tạo tình huống có
vấn đề. PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo đã đưa ra các cách sau:
18