LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, khoa Quản lý đất đai Trường
Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, sau khi hoàn thành khóa học ở trường
tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên với đề tài:
“Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Mỹ,
tỉnh Hưng Yên”.
Đồ án được hoàn thành nhờ sự quan tâm giúp đỡ của đơn vị cơ quan và nhà
trường.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Thạc sĩ Võ Diệu Linh giảng
viên khoa Quản lý đất đai, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi tận
tình trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành đồ án.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Quản lý đất đai tạo
mọi điều kiện giúp đỡ.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND huyện Yên Mỹ, cán bộ
Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Yên Mỹ, các ban ngành đoàn thể cùng
nhân dân trong huyện đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại
địa phương.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới bạn bè và người thân đã động viên, cộng tác
giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này.
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Phạm Thị Quỳnh
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2
Kinh tế - Xã hội
LM
Lúa mùa
LUT
Loại hình sử dụng đất
LX
Lúa xuân
NXB
Nhà xuất bản
QHSDĐ
Quy hoạch sử dụng đất
TDTT
Thể dục thể thao
TNHH
Thu nhập hỗn hợp
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên mà tạo hóa đã ban tặng cho con người, trải
qua hàng nghìn năm với những biến động của thiên nhiên, của lịch sử xã hội loài
người, đất đã trở thành tài nguyên vô cùng quý giá. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc
biệt, là nơi tạo ra của cải vật chất, lương thực thực phẩm phục vụ cho cuộc sống của
con người ngoài ra còn là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn
phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc
phòng, là tài sản quan trọng của mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của
con người và vi sinh vật trên trái đất.
Trong nông nghiệp, đất đai là một tư liệu sản xuất không thể thay thế. Vì vậy,
tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý có hiệu quả theo quan điểm sinh
thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính toàn cầu. Nói cách
khác, mục tiêu hiện nay của loài người là phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp
toàn diện về kinh tế, xã hội, môi trường một cách bền vững.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh vị trí
đặc biệt quan trọng của sản xuất nông nghiệp và đã có nhiều chủ trương, chính sách
trong quản lý nông nghiệp, phát huy vai trò chủ động của người nông dân, phấn đấu
đưa nông nghiệp nước ta trở thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa. Trong
những năm gần đây, việc thu hồi đất nông nghiệp để chuyển mục đích sử dụng làm
diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp. Chính vì vậy, để đảm bảo an ninh
lương thực thì nâng cao hiệu quả sử dụng đất là tất yếu.
Thực tế trong những năm qua đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng đất đai như: giao quyền sử dụng lâu dài, ổn định cho người sử dụng đất,
hoàn thiện hệ thống thủy lợi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hóa các giống
cây trồng có năng suất cao đưa vào sản xuất, nhờ đó mà hiệu quả sử dụng đất tăng
lên rõ rệt. Trong đó, việc thay đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng giống mới với năng
suất và chất lượng cao, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu
lục địa có khả năng sản sinh ra sản phẩm của cây trồng. Đất là lớp phủ thổ nhưỡng,
là thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguồn gốc của thể tự nhiên đó là do hợp
điểm của 4 thể tự nhiên khác của hành tinh là thạch quyển, khí quyển, thủy quyển
và sinh quyển. Sự tác động qua lại của bốn quyển trên và thổ quyển có tính thường
xuyên và cơ bản.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm về đất.
Khái niệm đầu tiên của Nhà bác học người Nga Docutraiep (1846-1903) người đặt
nền móng đầu tiên cho khoa học đất cho rằng: “Đất là một vật thể tự nhiên cấu tạo
độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động của 5 yếu tố hình thành đất đó là: đá
mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình và thời gian”. Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập
đến khả năng sử dụng đất và sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi
trường xung quanh. Do đó sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố: nước
của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về
đất nêu trên. Ngoài ra, còn một số học giả khác cũng có những khái niệm về đất như
sau: “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm của cây” (Nhà
nông học người Anh V.R William), “Đất được xem như một thể sống, nó luôn vận
động, biến đổi và phát triển” [8].
Những năm gần đây trên những tạp chí quốc tế đã xuất hiện một cụm từ mới
“land husbandry” và được hiểu là chúng ta phải nuôi dưỡng đất. Đất là một vật thể
sống cũng tuân thủ theo những quy luật sống, phát sinh, phát triển, thoái hoá và già
cỗi. Tùy thuộc vào thái độ ứng xử của con người đối với đất mà đất có thể trở nên
phì nhiêu hơn, cho năng suất cây trồng cao hơn hay ngược lại.
9
Trong đánh giá đất theo FAO, đất đai được nhìn nhận là một yếu tố sinh thái
(FAO, 1976) có thể hiểu rộng ra rằng: đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học
và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng
sử dụng đất, các thuộc tính đó bao gồm: khí hậu, dáng đất, địa hình, địa mạo thổ
nhưỡng, thực vật, thảm thực vật tự nhiên, cỏ dại trên đồng ruộng, động vật tự nhiên
nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng vào mục đích
nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Khi nói đất nông nghiệp người ta nói đất sử
dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có trường hợp
đất đai được sử dụng vào mục đích khác nhau của các ngành. Trong trường hợp đó,
đất đai được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mới được coi là
đất nông nghiệp, nếu không sẽ là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụng vào mục
đích nào là chính)
Tuy nhiên để sử dụng đầy đủ hợp lý ruộng đất, trên thực tế người ta coi đất đai
có thể tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà không cần có đầu tư lớn
nào cả. Như vậy có thể nói: đất nông nghiệp (ký hiệu NNP) là đất sử dụng vào mục
đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy
sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm: đất
trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; đất trồng
cây lâu năm; đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi
trồng thủy sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác [13].
1.1.2. Sử dụng đất và những nhân tố ảnh hưởng tới việc sử dụng đất
1.1.2.1. Sử dụng đất là gì
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường. Căn cứ vào
quy luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không ngừng ổn định và bền
vững về mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất
hợp lý nhất là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới
hiệu ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất. Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt
động kinh tế của nhân loại. Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng
đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất
11
đai. Với vai trò là nhân tố sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất đai được
thể hiện ở các khía cạnh sau:
chính là các yếu tố khí hậu. Chính vì thế, khí hậu là một trong những yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản lượng cây trồng, ảnh hưởng đến
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên, vì sự khác biệt về vĩ độ
địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét theo từng
vùng. Miền bắc có nhiệt độ trung bình 22,2 - 23,5 0C, lượng mưa trung bình từ 1.500
- 2.400 mm, tổng số giờ nắng từ 1.650 - 1.750 giờ/năm. Trong khi đó, ở miền nam
khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung bình 22,6 - 27,5 0C, lượng mưa trung
bình 1.400 - 2.400 mm, nắng trên 2.000 giờ/năm.
Khí hậu là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc phân bố các loại cây
trồng, cũng như thời vụ cây trồng trong sản xuất nông nghiệp. Nếu như ở trung du
và miền núi phía Bắc có thể trồng mận, hồng, đào, chuối, đậu côve, súp lơ xanh... ở
đồng bằng sông Hồng có thể trồng các loại rau vụ đông có nguồn gốc ôn đới... thì ở
đồng bằng sông Cửu Long có thể trồng cây đặc sản như sầu riêng, măng cụt... hay
miền Đông Nam bộ có thể trồng chôm chôm, trái bơ, và Tây Nguyên trồng cây
công nghiệp lâu năm cao su, cà phê, điều là những cây nhiệt đới điển hình.
Yếu tố khí hậu nhiều khi ảnh hưởng rõ nét đến hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp với các mức độ khác nhau. Ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ, nhiệt
độ thấp vào vụ đông và thời kỳ đầu vụ xuân kèm theo ẩm ướt, mưa phùn, thiếu ánh
sáng làm hạn chế sinh trưởng và phát triển của cây trồng ưa nắng, ưa nhiệt nhưng
lại phù hợp cho cây trồng ưa lạnh có nguồn gốc ôn đới. Trời âm u thiếu ánh sáng
cũng là điều kiện cho sâu bệnh phát triển phá hại mùa màng.
•
Yếu tố đất trồng
Cùng với khí hậu, đất tạo nên môi trường sống của cây trồng. Đất trồng với
các đặc tính như loại đất, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì, có vai trò quan
trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng, ảnh hưởng đến
Con người là nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất. Khi dân
số còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp còn ở mức
hạn chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp
được đảm bảo. Ngược lại, ngày nay khi dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng các
nhu cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác nhiều, triệt để hơn nhằm đạt
năng suất và hiệu quả cao hơn. Vì vậy, quy luật sinh thái và tự nhiên bị xâm phạm,
tính bền vững tài nguyên đất kém hơn . Việc đảm bảo cân bằng giữa sử dụng và bảo
vệ đất trở thành vấn đề cấp thiết.
Đối với các hoạt động kinh tế nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng, dân
số vừa là thị trường của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, vừa là nguồn cung về lao
14
động cho sản xuất. Các hoạt động kinh tế sẽ không thể phát triển nếu không có thị
trường tiêu thụ các sản phẩm do chúng tạo ra. Đặc biệt, đối với một nền sản xuất
nông nghiệp hàng hoá thì điều này lại càng trở nên quan trọng.
Chất lượng nguồn lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động
sản xuất nông nghiệp. Nếu người nông dân có kinh nghiệm, kỹ thuật, có ý thức
trong sản xuất thì việc sử dụng đất nông nghiệp sẽ đạt hiệu quả cao.
•
Yếu tố kinh tế
Đối với mỗi quốc gia, mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân có ảnh
hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói
riêng và ngược lại. Nếu sử dụng đất có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế
phát triển. Khi kinh tế phát triển là tiền đề cho quá trình sử dụng đất đạt được hiệu
quả cao hơn, thông qua việc đầu tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cao, nâng
cao năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng.
•
Đây là một chính sách khuyến khích người nông dân đầu tư vào sản xuất dài hạn,
thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát triển sản xuất hàng hoá một cách có hiệu quả.
Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng pháp luật công nhận quyền sử dụng lâu
dài đối với đất. Người sử dụng đất không chỉ được quyền sử dụng lâu dài mà còn
được quyền thừa kế những đầu tư trên đất. Điều đó đã trở thành động lực quan
trọng trong phát triển nông nghiệp. Nó làm cho người nông dân yên tâm đầu tư trên
đất, sử dụng đất nông nghiệp một cách chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi thế
so sánh của từng vùng, từng miền. Thực tế cho thấy, chính sách về đất đai thông
thoáng sẽ là cơ sở để hình thành các phương thức sản xuất mới như thâm canh, tăng
vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử dụng để sản xuất cây
trồng có giá trị hàng hoá cao. Các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp
cũng là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách
đầy đủ và hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành
tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp.
c. Nhóm yếu tố các biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây trồng
vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình
thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Đây là những vấn đề thể hiện sự hiểu
16
biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những
dự báo thông minh của người sản xuất. Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn
chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh
vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp
hàng hoá. Theo Frank Elli và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác
động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt
ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất. Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản
xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh
kéo/cơ giới hóa; các đặc điểm trồng trọt, đầu tư vật tư, công nghệ được sử dụng
năng suất và sản lượng; thông tin kinh tế có liên quan đến đầu vào và đầu ra.
- Thuộc tính về cơ sở hạ tầng: các yêu cầu về hạ tầng cơ sở.
* Kiểu sử dụng đất: Kiểu sử dụng đất đai là một loại sử dụng riêng biệt trong
sử dụng đất đai và được mô tả dưới dạng tiêu chuẩn chẩn đoán hay đặc trưng chính
có liên quan đến khả năng cho sản lượng cây trồng của đất đai. Phần đặc trưng
chính bao gồm các yếu tố phải được lọc ra mà nó có ảnh hưởng thực sự đến khả
năng sản xuất của đất đai. Vì đặc trưng chính rất quan trọng đến việc mô tả kiểu sử
dụng đất đai và mức độ chi tiết mà nó mô tả tùy thuộc vào hiện trạng của địa
phương cũng như mục tiêu của đánh giá đất đai. [6]
1.1.4 Vai trò của đất nông nghiệp
Đất là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất
trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. Nói về tầm quan
trọng của đất C.Mac viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, kho tàng cung cấp
các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể” (C.Mac
1949). Đất đai là tài nguyên của mỗi quốc gia, đóng vai trò quyết định sự tồn tại và
phát triển của con người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất.
C.Mác đã nhấn mạnh lao động chỉ là cha của của cải vật chất, còn đất là mẹ.
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân
cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Trong sản
xuất nông nghiệp, lâm nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không
thể thay thế với những đặc điểm:
18
- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp
bởi vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất.
Đất đai là đối tượng bởi lẽ nó là nơi con người thực hiện các hoạt động của mình tác
động vào cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm.
diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất với việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật
nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật
nuôi đồng thời giữ gìn bảo vệ và nâng cao độ phì của đất.
- Đất nông nghiệp phải sử dụng đạt hiệu quả cao. Đây là kết quả của việc sử
dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính toán
hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ số sử dụng
đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất. Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất phải
thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế-xã hội trên cơ sở
đảm bảo về lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế
biến và nông lâm sản xuất cho xuất khẩu.
- Đất nông nghiệp cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững. Sự bền
vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai phải
được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho cả
tương lai. Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái môi trường. Vì
vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ
môi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài.
Như vậy, để sử dụng triệt để và có hiệu quả , đảm bảo cho quá trình sản xuất
được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và hết sức
quan trọng với mỗi quốc gia và vùng miền.
1.1.6
Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người về các
sản phẩm được lấy từ đất ngày càng tăng. Mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị
thu hẹp do chuyển sang các mục đích khác. Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước
ta cần hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an
ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới
xuất khẩu. Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở cân
nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội , tận dụng được tối đa lợi thế so sánh
về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những
sống, bình đẳng các thế hệ và hạn chế rủi ro.
*Các nguyên tắc về sử dụng đất nông nghiệp bền vững:
21
- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất
- Giảm thiểu rủi ro trong sản xuất.
- Bảo vệ tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn suy thoái đất và nước.
- Có hiệu quả bền lâu.
- Được xã hội chấp nhận.
Năm nguyên tắc trên là cốt lõi của việc sử dụng đất đai bền vững, nếu sử dụng
đất đai đảm bảo các nguyên tắc trên thì đất đai được bảo vệ cho phát triển nông
nghiệp bền vững.
Để duy trì sự sống của con người, nhân loại đang phải đương đầu với nhiều
vần đế hết sức phức tạp và khó khăn, sự bùng nổ dân số, nạn ô nhiễm và suy thoái
môi trường, mất cân bằng sinh thái...Nhiều nước trên thế đã xây dựng và phát triển
nông nghiệp theo quan điểm nông nghiệp bền vững.
Nông nghiệp bền vững là tiền đề và điều kiện cho định cư lâu dài. Một trong
những cơ sở quan trọng bậc nhất của nông nghiệp bền vững là thiết lập được các hệ
thống sử dụng đất hợp lý.
Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại, vừa đảm
bảo nhu cầu của các thế hệ tương lai. Một quan niệm khác cho rằng: Phát triển nông
nghiệp bền vững là quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm
bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau. Để
phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta cần nắm vững mục tiêu về tác dụng lâu
bền của từng mô hình, để duy trì và phát triển đa dạng sinh học.
Việc quản lý và sử dụng đất bền vững bao gồm tổ hợp các công nghệ, chính
sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế-xã hội với các quan tâm về
môi trường để đồng thời:
- Duy trì nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất)
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống.
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt
động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích
của con người.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt
được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được
23
là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của
nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và
tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó.
- Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí. Mối quan hệ này
là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thương số, nên dạng tổng quát của hệ thống
chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:
H=K-C
H = K/C
H = (K - C)/C
H = (K1 - K0)/(C1 - C0)
Trong đó:
+ H: Hiệu quả
+ K: Kết quả
+ C: Chi phí
+ 1, 0 là chỉ số thời gian (năm)
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 ha đất nông nghiệp
- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm).
- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường
xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử
+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển của vùng.
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân.
+ Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật.
25