TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
NGUYỄN THỊ THU HÀ
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG
CHUẨN HÓA BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH XÃ XUÂN LỘC,
HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ
Hà Nội- 2017
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
NGUYỄN THỊ THU HÀ
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG
CHUẨN HÓA BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH XÃ XUÂN
LỘC, HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành
: Quản lý đất đai
Mã ngành
: 52850103
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS. TĂNG THỊ THANH NHÀN
hoàn thành tốt khóa luận.
Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp khó tránh khỏi sai sót, em
mong nhận được ý kiến đóng quý báu của thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Hà
4
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo Hiến pháp năm 2013 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Đồng thời khẳng định đất đai là
tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được
quản lý theo pháp luật. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất
theo quy định.
Để quản lý, sử dụng đất đai một cách hiệu quả, trước hết cần phải nắm chắc
được số lượng, chất lượng của từng loại đất, của từng khu vực khác nhau, do đó
phần sức mình trong việc thành lập bản đồ đồng thời nâng cao, rèn luyện kiến thức
chuyên môn em xin được phép thực hiện đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin
trong chuẩn hóa bản đồ địa chính xã Xuân Lộc huyện Thanh Thủy tỉnh Phú
Thọ” với sự hướng dẫn của Th.S Tăng Thị Thanh Nhàn.
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
- Nghiên cứu quy trình thành lập, chuẩn hóa bản đồ địa chính theo thông tư
25/2013/TT-BTNMT
- Chuẩn hóa bản đồ địa chính xã Xuân Lộc được đo đạc thành lập năm 2013
- Đánh giá kết quả đạt được sau khi chuẩn hóa lại bản đồ.
2.2. Yêu cầu
- Thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội.
- Thu thập toàn bộ 41 tờ bản đồ địa chính tỷ lệ 1/1000 được thành lập năm 2013.
- Nghiên cứu quy trình thành lập, chuẩn hóa bản đồ địa chính trên thông tư
25/2013/TT-BTNMT.
- Nghiên cứu ứng dụng Microstation SE trong biên tập bản đồ địa chính.
- Chuẩn hóa hoàn thiện 5 tờ bản đồ địa chính xã Xuân Lộc.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Bản đồ địa chính
1.1.1. Khái niệm về bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính là bản đồ chuyên ngành đất đai, trên bản đồ thể hiện chính
xác vị trí, ranh giới, diện tích và một số thông tin địa chính của từng thửa đất, từng
9
vùng đất. Bản đồ địa chính còn thể hiện các yếu tố địa lý khác liên quan đến đất đai.
Bản đồ địa chính được thành lập theo đơn vị hành chính cơ sở xã, phường, thị trấn
và thống nhất trong phạm vi cả nước. Bản đồ địa chính được xây dựng trên cơ sở kỹ
thuật và công nghệ ngày càng hiện đại, nó đảm bảo cung cấp thông tin không gian
của đất đai phục vụ công tác quản lý đất.
bản đồ cũ được đưa vào máy tính để xử lý, biên tập, lưu trữ và có thể in ra thành
bản đồ giấy.
Khi nghiên cứu đặc điểm qui trình công nghệ thành lập bẩn đồ địa chính và
phạm vi ứng dụng của từng loại bản đồ địa chính, ta cần làm quen với một số khái
niệm về các loại bản đồ địa chính như sau:
- Bản đồ địa chính cơ sở: Đây là tên gọi chung cho bản đồ gốc được đo vẽ
bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp ở thực địa, đo vẽ bằng các phương pháp có sử
dụng ảnh hàng không kết hợp hay đo vẽ bổ sung ở thực địa hay được thành lập trên
cơ sở biên tập, biên vẽ từ bản đồ địa hình cùng tỷ lệ đã có. Bản đồ địa chính cơ sở
được đo vẽ kín ranh giới hành chính và kín mảnh bản đồ đó.
Bản đồ địa chính cơ sở là tài liệu cơ bản để biên tập, biên vẽ và đo vẽ bổ sung
thành bản đồ địa chính theo đơn vị hành chính cơ sở xã, phường, thị trấn, để thể
hiện hiện trạng vị trí, hình thể, diện tích và loại đất của các ô thửa có tính ổn định
lâu dài và dễ xác định ở thực địa.
- Bản đồ địa chính gốc: Là bản đồ thể hiện hiện trạng sử dụng đất và thể hiện
trọn và không trọn các thửa đất, các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo thành
thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa lý có liên quan; lập
theo khu vực trong phạm vi một hoặc một số đơn vị hành chính cấp xã, trong một
phần hay cả đơn vị hành chính cấp huyện hoặc một số huyện trong phạm vi một
tỉnh hoặc một thành phố trực thuộc Trung ương, được cơ quan thực hiện và cơ quan
quản lý đất đai cấp tỉnh xác nhận. Bản đồ địa chính gốc là cơ sở để thành lập bản đồ
địa chính theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã). Các
nội dung đã được cập nhật trên bản đồ địa chính cấp xã phải được chuyển lên bản
đồ địa chính gốc.
- Bản đồ địa chính: Là bản đồ thể hiện trọn các thửa đất và các đối tượng
chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các
yếu tố địa lý có liên quan; lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ
quan thực hiện, Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh xác
nhận.
Bản đồ địa chính được lập cho từng đơn vị hành chính cấp xã, là tài liệu quan
- Chọn tỷ lệ bản đồ địa chính phù hợp với từng vùng đất, loại đất.
- Bản đồ địa chính phải có hệ thống toạ độ thống nhất, có phép chiếu phù hợp
để các yếu tố trên bản đồ biến dạng nhỏ nhất.
12
- Thể hiện đầy đủ và chính xác các yếu tố không gian như vị trí các điểm, các
đường đặc trưng, diện tích các thửa đất….
- Các yếu tố pháp lý phải được điều tra, thể hiện chuẩn xác và chặt chẽ.
1.1.2. Chức năng của bản đồ địa chính
- Chức năng kỹ thuật: Bản đồ địa chính thể hiện chính xác vị trí, kích thước,
diện tích các thửa đất trong các đơn vị hành chính và các yếu tố địa lý có liên quan
trong một hệ tọa độ thống nhất.
- Chức năng tư liệu: Địa chính là nguồn cung cấp tư liệu phong phú về đất đai,
các công trình gắn liền với đất, hạng đất, thuế... Đó là các tư liệu dạng bản đồ, sơ đồ
và các văn bản phục vụ cho các yêu cầu của cơ quan nhà nước và nhân dân.
- Chức năng pháp lý: Đây là chức năng cơ bản của địa chính. Sau khi có đủ tư
liệu xác định hiện trạng và nguồn gốc đất đai, thông qua việc đăng ký và chứng
nhận thì tư liệu địa chính có hiệu lực pháp lý và là cơ sở pháp lý về quyền sở hữu,
quyền sử dụng đất đai và bất động sản.
- Chức năng định thuế: Đây là chức năng nguyên thuỷ và cơ bản của địa
chính. Trước hết là nhận dạng vị trí, ranh giới, sau đó là xác định nội dung, đánh
giá, phân hạng, định giá nhà đất, xác định mức thuế, tính toán các khoản thuế.
1.2. Nội dung và phương pháp của Bản đồ địa chính
1.2.1. Nội dung Bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính là tài liệu chủ yếu trong bộ hồ sơ địa chính, vì vậy trên bản
đồ cần thể hiện đầy đủ các yếu tố đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai.
a) Các yếu tố nội dung chính thể hiện trên bản đồ địa chính gồm:
- Khung bản đồ;
hồ sơ địa giới hành chính; các văn bản pháp lý có liên quan đến việc điều chỉnh địa
giới hành chính các cấp;
+) Đối với các đơn vị hành chính tiếp giáp biển thì bản đồ địa chính được đo
đạc, thể hiện tới đường mép nước biển triều kiệt trung bình tối thiểu trong 05 năm.
Trường hợp chưa xác định được đường mép nước biển triều kiệt thì trên bản đồ địa
chính thể hiện ranh giới sử dụng đất đến tiếp giáp với mép nước biển ở thời điểm đo
vẽ bản đồ địa chính;
+) Khi phát hiện có sự mâu thuẫn giữa địa giới hành chính thể hiện trên hồ sơ
địa giới hành chính và đường địa giới các cấp thực tế đang quản lý hoặc có tranh
chấp về đường địa giới hành chính thì đơn vị thi công phải báo cáo bằng văn bản cho
cơ quan tài nguyên và môi trường cấp huyện và cấp tỉnh để trình cơ quan có thẩm
quyền giải quyết. Trên bản đồ địa chính thể hiện đường địa giới hành chính theo hồ
14
sơ địa giới hành chính (ký hiệu bằng màu đen) và đường địa giới hành chính thực tế
quản lý (ký hiệu bằng màu đỏ) và phần có tranh chấp.
Trường hợp đường địa giới hành chính các cấp trùng nhau thì biểu thị đường
địa giới hành chính cấp cao nhất;
+) Sau khi đo vẽ bản đồ địa chính phải lập Biên bản xác nhận thể hiện địa giới
hành chính giữa các đơn vị hành chính có liên quan theo mẫu quy định tại Phụ lục
số 09 kèm theo Thông tư này. Trường hợp có sự khác biệt giữa hồ sơ địa giới hành
chính và thực tế quản lý thì phải lập biên bản xác nhận giữa các đơn vị hành chính
có liên quan.
- Mốc giới quy hoạch; chỉ giới hành lang bảo vệ an toàn giao thông, thuỷ lợi,
đê điều, hệ thống dẫn điện và các công trình công cộng khác có hành lang bảo vệ an
toàn: các loại mốc giới, chỉ giới này chỉ thể hiện trong trường hợp đã cắm mốc giới
trên thực địa hoặc có đầy đủ tài liệu có giá trị pháp lý đảm bảo độ chính xác vị trí
điểm chi tiết của bản đồ địa chính.
- Đối tượng thửa đất
đất. Trường hợp có quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
vào mục đích khác với hiện trạng mà việc đưa đất vào sử dụng theo quyết định đó
còn trong thời hạn quy định tại điểm h và i khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai thì thể
hiện loại đất trên bản đồ địa chính theo quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển
mục đích sử dụng đất đó.
Trường hợp loại đất hiện trạng khác với loại đất ghi trên giấy tờ pháp lý về
quyền sử dụng đất và đã quá thời hạn đưa đất vào sử dụng quy định tại điểm h và i
khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai thì ngoài việc thể hiện loại đất theo hiện trạng
còn phải thể hiện thêm loại đất theo giấy tờ đó trên một lớp (level) khác; đơn vị đo
đạc có trách nhiệm tổng hợp và báo cáo cơ quan tài nguyên và môi trường cấp có
thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận về những trường hợp thửa đất có loại đất theo
hiện trạng khác với loại đất trên giấy tờ tại thời điểm đo đạc.
Trường hợp thửa đất sử dụng vào nhiều mục đích thì phải thể hiện các mục
đích sử dụng đất đó. Trường hợp thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở đã được
Nhà nước công nhận (cấp Giấy chứng nhận) toàn bộ diện tích thửa đất là đất ở thì
thể hiện loại đất là đất ở.
- Các đối tượng nhân tạo, tự nhiên có trên đất
+) Ranh giới chiếm đất của nhà ở và các công trình xây dựng trên mặt đất
được xác định theo mép ngoài cùng của tường bao nơi tiếp giáp với mặt đất, mép
ngoài cùng của hình chiếu thẳng đứng lên mặt đất của các kết cấu xây dựng trên cột,
16
các kết cấu không tiếp giáp mặt đất vượt ra ngoài phạm vi của tường bao tiếp giáp
mặt đất (không bao gồm phần ban công, các chi tiết phụ trên tường nhà, mái che).
Ranh giới chiếm đất của các công trình ngầm được xác định theo mép ngoài
cùng của hình chiếu thẳng đứng lên mặt đất của công trình đó.
+) Hệ thống giao thông biểu thị phạm vi chiếm đất của đường sắt, đường bộ (kể
cả đường trong trong khu dân cư, đường trong khu vực đất nông nghiệp, lâm nghiệp
phục vụ mục đích công cộng) và các công trình có liên quan đến đường giao thông như
một chủ sở hữu hoặc một chủ sử dụng nhất định. Trong mỗi thửa đất có thể có một
hoặc một số loại đất. Đường ranh giới thửa đất ở thực địa có thể là con đường, bờ
ruộng, tường xây, hàng rào... hoặc đánh dấu bằng các dấu mốc theo quy ước của các
chủ sử dụng đất. Các yếu tố đặc trưng của thửa đất là các điểm góc thửa, chiều dài
các cạnh thửa và diện tích của nó.
Thửa đất phụ: Trên mỗi thửa đất lớn có thể tồn tại các thửa nhỏ có đường
ranh giới phân chia không ổn định, có các phần được sử dụng vào các mục đích
khác nhau, trồng cây khác nhau, mức tính thuế khác nhau, thậm chí thường xuyên
thay đổi chủ sử dụng đất. Loại thửa này gọi là thửa đất phụ đơn vị tính thuế.
Lô đất: Là vùng đất có thể gồm một hoặc nhiều loại đất. Thông thường lô đất
được giới hạn bởi các con đường kênh mương, sông ngòi. Đất đai được chia lô theo
điều kiện địa lý khác nhau như có cùng độ cao, độ dốc, theo điều kiện giao thông,
thuỷ lợi, theo mục đích sử dụng hay cùng loại cây trồng.
Khu đất, xứ đồng: Đó là vùng đất gồm nhiều thửa đất, nhiều lô đất. Khu đất
và xứ đồng thường có tên gọi riêng được đặt từ lâu.
Thôn, bản, xóm, ấp: Đó là các cụm dân cư tạo thành một cộng đồng người
cùng sống và lao động sản xuất trên một vùng đất. Các cụm dân cư thường có sự
gắn kết mạnh về các yếu tố dân tộc, tôn giáo nghề nghiệp...
Xã, phường: Là đơn vị hành chính cơ sở gồm nhiều thôn, bản hoặc đường phố.
Đó là đơn vị hành chính có đầy đủ các tổ chức quyền lực để thực hiện chức năng quản
lý nhà nước một cách toàn diện đối với các hoạt động về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội trong phạm vi lãnh thổ của mình.
1.2.3. Các phương pháp thành lập Bản đồ địa chính
Để thành lập bản đồ địa chính người ta có thể sử dụng các phương pháp sau:
- Đo vẽ trực tiếp ngoài thực địa.
- Biên tập từ bản đồ địa hình cùng tỷ lệ.
- Đo vẽ trên ảnh hàng không.
18
19
cùng là bản đồ địa chính. Công việc biên tập có thể được làm bằng tay hoặc máy
tính với các phần mềm chuyên dụng.
d) Phương pháp chuẩn hóa dữ liệu địa chính
Đối với công tác quản lý đất đai, dữ liệu bản đồ là thành phần cơ bản trong cơ
sở dữ liệu đất đai, được sử dụng để quản lý vị trí không gian của thửa đất. Thực
trạng quản lý dữ liệu bản đồ ở Bắc Ninh hiện nay cho thấy các bản đồ đang được sử
dụng với nhiều định dạng khác nhau như: dạng giấy, bản kẽm, dạng số.
Bản đồ đã lưu ở dạng số hiện nay vẫn còn chưa có định dạng thống nhất, còn
tồn tại nhiều dạng như: dgn, dxf, dwg .v.v. Dữ liệu số được xây dựng từ nhiều
nguồn khác nhau như do can vẽ, do số hóa lại từ bản giấy hoặc do đo vẽ trực tiếp
bằng công nghệ số. Vì vậy, nội dung bản đồ chưa được chuẩn hóa theo một chuẩn
thống nhất theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Vấn đề đặt ra là phải
xem xét biện pháp định chuẩn và chuẩn hoá dữ liệu như thế nào để thu được một
CSDL thống nhất.
Hình 1.1. Quy trình cơ bản cho công tác chuẩn hóa dữ liệu bản đồ
Công tác chuẩn hóa dữ liệu bản đồ được thực hiện theo nhiều công đoạn phức
tạp như : Chuẩn lại các lớp bản đồ thống nhất giữa các mảnh bản đồ, cắt ghép các
mảnh theo ranh giới hành chính xã, tiếp biên giữa các mảnh bản đồ, chuẩn lại cách
đánh số thửa, kiểm tra topology, làm trơn đường, cắt bỏ các đoạn thừa của các
đường tại các điểm giao nhau, xóa đường bị trùng nhau (Duplicate), nối các đoạn hở
của đường, chuyển hệ tọa độ.
1.2.4. Bản đồ địa chính dạng số
20
21
được lưu trữ dưới dạng số.Trong thực tế, bản đồ số địa chính được tạo ra theo hai
phương pháp cơ bản là số hoá các bản đồ địa chính đã vẽ trên giấy hoặc biên tập từ
số liệu đo đạc trên thực địa và số liệu đo ảnh hàng không.Để thành lập bản đồ số địa
chính cần nghiên cứu các chuẩn về bản đồ số và tổ chức dữ liệu. Đó chính là những
quy định nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, tính thống nhất trong mô tả, lưu trữ và hiển
thị nội dung thông tin.
1.2.5. Hệ thống tỷ lệ bản đồ địa chính
Chọn tỷ lệ đo vẽ bản đồ địa chính: Phải căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ của
công tác quản lý đất đai, giá trị kinh tế sử dụng đất, mức độ khó khăn về giao thông,
về kinh tế, về mức độ chia cắt địa hình, về độ che khuất, về quan hệ xã hội của từng
khu vực, mật độ thửa trung bình trên một (01) ha, quy hoạch phát triển kinh tế, quy
hoạch sử dụng đất của từng khu vực trong đơn vị hành chính để lựa chọn tỷ lệ đo vẽ
cho phù hợp. Không nhất thiết trong mỗi đơn vị hành chính xã phải lập bản đồ địa
chính ở cùng một tỷ lệ nhưng phải xác định tỷ lệ cơ bản đo vẽ bản đồ địa chính ở
mỗi đơn vị hành chính xã.
Tỷ lệ cơ bản đo vẽ bản đồ địa chính quy định như sau:
a) Khu vực đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm
muối, đất nông nghiệp khác : tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:2000 và 1:5000. Đối với khu
vực đất sản xuất nông nghiệp mà phần lớn các thửa đất nhỏ, hẹp hoặc khu vực
đất nông nghiệp xen kẽ trong khu vực đất đô thị, trong khu vực đất ở chọn tỷ lệ
đo vẽ bản đồ là 1:1000 hoặc 1:500 và phải được quy định rõ trong thiết kế kỹ
thuật - dự toán công trình.
b) Khu vực đất phi nông nghiệp mà chủ yếu là đất ở và đất chuyên dùng:
- Các thành phố lớn, các khu vực có các thửa đất nhỏ hẹp, xây dựng chưa theo
quy hoạch, khu vực giá trị kinh tế sử dụng đất cao tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:200 hoặc
1:500.
- Các thành phố, thị xã, thị trấn lớn, các khu dân cư có ý nghĩa kinh tế, văn hoá
đọc, không làm lẫn lộn ký hiệu này với ký hiệu khác.
1.2.6.1. Phân loại ký hiệu
Các ký hiệu qui ước của bản đồ địa chính được chia làm 3 loại: ký hiệu theo tỷ
lệ, ký hiệu không theo tỷ lệ và ký hiệu nửa theo tỷ lệ.
Các ký hiệu vẽ theo tỷ lệ: Khi thể hiện các đối tượng có diện tích bề mặt
tương đối lớn ta dùng ký hiệu theo tỷ lệ, phải vẽ đúng kích thước của địa vật theo tỷ
23
lệ bản đồ. Đường viền của đối tượng có thể vẽ bằng nét liền, nét đứt hoặc đường
chấm. Bên trong phạm vi đường viền dùng màu sắc hoặc các hình vẽ, biểu tượng và
ghi chú để biểu thị đặc trưng địa vật. Với bản đồ địa chính gốc thì phép ghi chú đặc
trưng và biểu tượng được dùng làm phương tiện chính. Các ký hiệu này thể hiện rõ
vị trí, diện tích, các điểm đặc trưng và tính chất của đối tượng trên bản đồ. Ví dụ:
Trạm phát sóng, tượng đài, đền miếu...
Ký hiệu không theo tỷ lệ: Đây là những ký hiệu qui ước dùng để thể hiện vị trí
và đặc trưng số lượng, chất lượng của đối tượng, song không thể hiện diện tích, kích
thước và hình dạng của chúng theo tỷ lệ bản đồ. Loại ký hiệu này còn sử dụng cả
trong trường hợp địa vật được vẽ theo tỷ lệ mà ta muốn biểu thị thêm yếu tố tượng
trưng làm tăng thêm khả năng nhận biết đối tượng trên bản đồ. Ví dụ: Đền miếu,
trạm phát sang thông tin, tượng đài…
Ký hiệu theo nửa tỷ lệ: Đó là loại ký hiệu dùng thể hiện các đối tượng có thể
biểu diễn các kích thước thực một chiều theo tỷ lệ bản đồ, còn chiều kia dùng kích
thước qui ước. Ví dụ: Ký hiệu đường sắt, mương nhỏ, đường dây điện …Trong đó
chiều dài tuyến vẽ theo tỷ lệ và dùng lực nét, màu sắc để thể hiện chủng loại, đối
tượng, địa vật.
Ghi chú: Ngoài các ký hiệu, ta còn dùng cách ghi chú để biểu đạt nội dung
của bản đồ địa chính. Các ghi chú có thể chia ra làm hai nhóm là ghi chú tên riêng
và ghi chú giải thích. Ghi chú tên riêng dùng để chỉ các đơn vị hành chính, tên các
cụm dân cư, các đối tượng kinh tế, xã hội, tên sông, hồ, tên núi, đồi, tên xứ đồng
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000
và hệ độ cao quốc gia hiện hành.
Kinh tuyến trục theo từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại
Phụ lục số 02 kèm theo Thông tư 25
b) Khung trong mở rộng của mảnh bản đồ địa chính là khung trong của mảnh
bản đồ địa chính được thiết lập mở rộng thêm khi cần thể hiện các yếu tố nội dung
bản đồ vượt ra ngoài phạm vi thể hiện của khung trong tiêu chuẩn. Phạm vi mở
rộng khung trong của mảnh bản đồ địa chính mỗi chiều là 10 xen ti mét (cm) hoặc
20 cm so với khung trong tiêu chuẩn.
c) Lưới tọa độ vuông góc trên bản đồ địa chính được thiết lập với khoảng cách
10 cm trên mảnh bản đồ địa chính tạo thành các giao điểm, được thể hiện bằng các
dấu chữ thập (+).
25