TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH LÂM ĐỒNG
BÁO CÁO
Nghiên cứu thực tế
Nội dung:
THỰC TRẠNG TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ GIÁO
VIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LIÊNG TRANG
Người thực hiện: Phan Văn Diễn
Lớp trung cấp lý luận chính trị - hành chính
K4 huyện Đam Rông
MỞ ĐẦU
Chúng ta đang bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ của nền kinh tế tri thức với sự
phát triển như vũ bão của khoa học kỷ thuật và văn minh công nghệ thông tin.
Để đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới và yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất
nước, Đảng ta đã khẳng định vai trò hết sức quan trọng của sự nghiệp giáo dục,
trong đó chú trọng đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên trong
nhà trường. "Giáo dục là quốc sách hàng đầu" Hội nghị TW 4 khoá VII đã
khẳng định "Giáo dục - Đào tạo là chìa khoá để mở cửa tiến vào tương lai".
Nghị quyết TW 2 khoá VIII đã tiếp tục khẳng định "Muốn tiến hành CNH, HĐH
thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con
người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững". Đại hội đảng lần thứ
X (2006) tiếp tục nhấn mạnh Đảng ta coi con người vừa là động lực vừa là mục
tiêu của sự phát triển. Đội ngũ giáo viên là lực lượng trực tiếp thực hiện các
nhiệm vụ giáo dục, có một vai trò vô cùng quan trọng để làm cho giáo dục thực
hiện được sứ mệnh cao cả đó. Hồ Chủ tịch đã từng nói "Không có thầy thì
không có giáo dục". Rõ ràng phát triển đội ngũ giáo viên là yêu cầu cấp thiết, là
1.1.1 Một số khái niện
* Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, định hướng của chủ thể lên
khách thể về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng hệ thống các luật lệ,
các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo
ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.
* Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp qui luật của
chủ thể quản lý các cấp đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm bảo đảm sự vận
hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục
phát triển và mở rộng hệ thống về mặt số lượng cũng như chất lượng.
* Quản lý nguồn nhân lực trong nhà trường là quản lý con người, quản lý đội
ngũ trong hội đồng sư phạm nhà trường.
Trong nhiều trường hợp, có thể sử dụng hai thuật ngữ quản lý nguồn nhân
lực và quản lý nhân sự thay thế cho nhau. Nhưng nếu đi sâu vào ý nghĩa của hai
cụm từ quản lý nguồn nhân lực và quản lý nhân sự, thì có những sự khác nhau.
* Quản lý nhân sự là một khái niệm được sử dụng từ lâu khi các nhà quản lý
phải quản lý người trong tổ chức. Quản lý nhân sự trong tổ chức được hiểu
nhiều hơn về khía cạnh hành chính. Đó là những hoạt động áp dụng các nguyên
tắc quy định của tổ chức, cơ quan như tiền lương, tiền thưởng, nghỉ phép, nghỉ
lễ để quản lý con người nhằm làm cho họ thực hiện các hoạt động của họ một
cách tốt nhất.
Như vậy, quản lý nhân sự đặt vấn đề đến từng con người cụ thể trong tổ
chức, muốn chỉ các khả năng tác động đến đội ngũ hiện có để họ đáp ứng được
đòi hỏi của tổ chức.
Trong khi đó, quản lý nguồn nhân lực mang ý nghĩa rộng hơn quản lý nhân
sự. Quản lý nguồn nhân lực mang tính chất khái quát và xem tổ chức như là một
thực thể cần có tác động từ bên ngoài và kết hợp với bên trong để quản lý.
Quản lý nguồn nhân lực là bước phát triển cao hơn của quản lý nhân sự khi
nó đề cập đến cả việc quản lý các quan hệ con người sản xuất, lao động, và cả
quan hệ với những người từ bên ngoài sẽ vào làm việc cho tổ chức (nguồn lực
dự trữ hay tiềm năng của tổ chức), đề cập đến yếu tố thị trường lao động của tổ
Đội ngũ giáo viên là lực lượng chủ yếu, quan trọng nhất trong tập thể sư
phạm nhà trường làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, là nhân tố
quyết định chất lượng đào tạo của nhà trường. Vì vậy cần bồi dưỡng để phát
triển đội ngũ giáo viên.
* Xây dựng đội ngũ CBGV (tổ chức nguồn nhân lực) trong trường THCS là
duy trì sự tồn tại đội ngũ CBGV và làm cho nó phát triển theo yêu cầu của sự
nghiệp Giáo dục - đào tạo.
1.1.2 Đặc điểm của đội ngũ giáo viên
Đặc điểm về mục tiêu: Mục tiêu của tập thể sư phạm hoàn toàn thống nhất
với mục tiêu giáo dục của trường THCS là "Nhằm giúp học sinh củng cố và
phát triển những kết quả giáo dục của tiểu học, hoàn thiện học vấỏctung học cơ
sở và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện
phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học trung học
phổ thông, học nghề, hoặc đi vào cuộc sống lao động" (Mục 3, Điều 27, Luật
Giáo dục 2005).
Trong quá trình hoạt động thực hiện mục tiêu đó, tập thể sư phạm nhà trường
đảm bảo được sự thống nhất giữa nhu cầu lợi ích của từng thành viên với mục
tiêu của tập thể và mục tiêu xã hội. Sự thống nhất và hài hoà ba lợi ích đó là điều
kiện tiên quyết trong sự tồn tại và phát triển của tập thể. "Trong thực tiễn của
tập thể sư phạm, mỗi bước đều có sự đối chọi giữa mục tiêu cá nhân và tập thể
và vấn đề hoà hợp các mục đích đó. Nếu trong một tập thể còn cảm thấy mâu
thuẫn giữa mục đích chung và mục đích riêng thì có nghĩa là tập thể đó chưa
được tổ chức đúng đắn. Chỉ ở nơi nào mục đích chung và mục đích riêng hoà
hợp, nơi nào không có sự lạc điệu thì ở đấy tập thể là tập thể vững mạnh"
(Macarencô).
4
Đặc điểm về tổ chức: tập thể sư phạm đa dạng về cơ cấu tổ chức, bao gồm:
Các tổ chức hành chính, tổ chức Đảng và các tổ chức đoàn thể.
ngoài nhà trường. Bởi vì sự hình thành và phát triển nhân cách của người học
sinh cũng chịu sự chi phối của "tổng hoà các mối quan hệ xã hội" trong tập thể
sư phạm nhà trường là lực lượng giáo dục chuyên biệt, có hệ thống, thường
xuyên và cơ bản nhất.
Các yếu tố tâm lý xã hội: Tâm lý tập thể sư phạm được thể hiện ở các quá
trình, trạng thái và thuộc tính tâm lý xã hội được diễn ra trong mỗi tập thể sư
phạm nhất định.
Quá trình tâm lý xã hội của tập thể sư phạm thường biểu hiện ở sự giao tiếp,
thích nghi, tìm hiểu, đánh giá, cảm hoá, thuyết phục, bắt chước, lan truyền cảm
5
xúc cho nhau. Các trạng thái tâm lý xã hội của tập thể sư phạm thường thể hiện
ở tâm lý và dư luận lành mạnh của tập thể, truyền thống của tập thể, bầu không
khí tâm lý - đạo đức tập thể.
Khi các thuộc tính này được khơi dậy và phát huy thì sẽ trở thành động lực
và sức mạnh tinh thần của tập thể.
Giá trị của tập thể sư phạm: Giá trị mang ý nghĩa xã hội to lớn của tập thể sư
phạm đó là nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ, những công dân tương lai của đất
nước. Có thể nói tập thể sư phạm góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trong quá trình lao động sư phạm, để thực hiện sứ mệnh thiêng liêng cao cả của
mình, tập thể sư phạm đã khẳng định những giá trị của tập thể mình và chính
bản thân mỗi giáo viên cũng có điều kiện để thỏa mãn những nhu cầu lợi ích của
mình để không ngừng hoàn thiện nhân cách. Trong tập thể sư phạm phải bảo
đảm tốt nhất mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân - tập thể - xã hội.
Phát triển đội ngũ là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến
hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi
nghề nghiệp của người lao động. Các hoạt động đó có thể được cung cấp trong
vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí tới vài năm, tùy vào mục tiêu học tập; và nhằm
chính ngày càng phụ thuộc vào năng lực và trình độ chuyên môn cũng như sự
thành thạo trong kỹ năng hoạt động. Điều đó xuất phát từ đòi hỏi của sự phát
triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ và quản lý cũng như những biến đổi
nhanh chóng trong môi trường hiện đại. Và do vậy, việc tham gia tích cực vào
môi trường đào tạo, bồi dưỡng ngày càng quyết định đến sự thăng tiến con
đường chức nghiệp của công chức trong nền hành chính.
Mục tiêu và vai trò của phát triển đội ngũ là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân
lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người
lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình và
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt
hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong
tương lai.
Những cơ sở tâm lý học và xã hội học về phát triển đội ngũ tập thể sư phạm
nêu trên sẽ giúp nhà quản lý đưa ra những nội dung và biện pháp xây dựng tập
thể sư phạm, phát triển đội ngũ giáo viên có hiệu quả.
1.2. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
Để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động giảng dạy và giáo dục của nhà
trường và ngành giáo dục, Nhà nước đã ban hành luật giáo dục sửa đổi và bổ
sung năm 2005, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã ban hành điều lệ trường THCS kèm
theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ
GD-ĐT.
- Luật giáo dục.
+ Điều 15 chương I nói rõ "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm
bảo chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu
gương tốt cho người học. Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có
chính sách bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo
thực hiện nhiệm vụ của mình…".
+ Về nhiệm vụ nhà giáo, luật giáo dục yêu cầu nhà giáo phải có nhiều tiêu
chuẩn trong đó có các tiêu chuẩn "Có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt. Đạt trình
độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ" ( Điều 70).
K
TB
Y
11
3
4
3
1
14
1
6
7
0
Ghi
chu
- Tổ chức phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm và làm đồ dùng dạy học.
vẫn còn lấn át tư tưởng tập thể, hay đòi hỏi quyền lợi, thường gắn nhiệm vụ với
hưởng thụ, trả công.
Đội ngũ quản lý chưa có biện pháp giáo dục đối với bộ phận này, nhiều lúc tỏ
ra chưa kiên quyết trong phê bình, đấu tranh.
b. Về lòng nhân ái sư phạm.
Bên cạnh đại bộ phận giáo viên rất yêu thương học sinh, gần gũi thương yêu,
hết lòng vì học sinh, thì có một số giáo viên chưa hết lòng với học sinh. Điều đó
có thể nhận ra trong tinh thần trách nhiệm, của giáo viên đối với công việc của
mình. Có nhiều lúc giáo viên chưa thật sự tôn trọng và yêu cầu cao, khoan dung,
vị tha đối với học sinh mà còn tỏ ra thờ ơ, vô tình. Bộ phận quản lý chưa có biện
pháp bồi dưỡng.
c. Về năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm.
Đây là một tồn tại nhức nhối, là bài toán nan giải mà mấy năm vừa qua, nhà
trường đã tập trung để giải quyết. Tuy có gặt hái được một số thành tựu nhưng
rõ ràng nó chưa đáp ứng được yêu cầu của đất nước trong giai đoạn hiện tại và
tương lai.
c.1) Về năng lực chuyên môn.
Cùng với sự phát triển về số lượng học sinh, đội ngũ giáo viên có sự phát
triển nhanh về số lượng. Về trình độ đào tạo, 100% đạt chuẩn. Càng về sau số
giáo viên (sinh viên mới ra trường) năng lực chuyên môn càng yếu (hậu quả của
cự tuyển, cử nhân). Nhưng điều đáng nói là tỉ lệ số giáo viên dạy giỏi huyện,
giỏi tỉnh và xếp loại chuyên môn loại khá, giỏi tỉ lệ thấp (14/25). Trong số 14
giáo viên xếp loại khá, giỏi không có giáo viên nào có thâm niên từ 3 năm công
tác trở xuống, toàn là giáo viên công tác từ 4 năm trở lên và vẫn còn tồn tại giáo
viên yếu kém và tỷ lệ giáo viên trung bình còn cao. Qua dự giờ thường kỳ, qua
các đợt thao giảng, sinh hoạt chuyên môn trường nhận thấy: Rất nhiều giáo viên
nhất là số giáo viên mới vào nghề chất lượng giảng dạy quá thấp, như: lúng túng
về phương pháp giảng dạy và giáo dục, kỹ năng thiết kế giờ dạy yếu, thậm chí
có giáo viên kiến thức chưa vững vàng. Về phương pháp giảng dạy còn nặng về
truyền thụ, chưa đổi mới phương pháp nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo
g) Năng lực ngoại ngữ.
Ngoài giáo viên ngoại ngữ, số giáo viên còn lại tuy đã được học trong trường
đại học, cao đẳng nhưng khi ra trường đều không sử dụng do đó khả năng về
ngoại ngữ rất kém. Đặc biệt số giáo viên công tác lâu năm không có hiểu biết về
tiếng Anh.
Nguyên nhân của hiện tượng này là do nội dung, qui trình đào tạo. Trong lúc
đó nhà trường chưa có biện pháp, chủ trương học và nâng cao trình độ ngoại
ngữ cho giáo viên. Bản thân giáo viên chưa có tinh thần và điều kiện tự học.
h) Về học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ, tạo cơ hội phát triển
Do điều kiện trường nằm ở vùng núi, biên giới, cuối huyện nên không thu hút
được đội ngũ giáo viên, nhiều giáo viên được phân về trường đã không đến nhận
công tác, hàng năm giáo viên xin chuyển trường rất nhiều phần lớn là giáo viên
nghĩa vụ dẫn đến tình trạng trường thiếu giáo viên và phân bố bộ môn không
đều. Từ chỗ thiếu giáo viên và phân bố bộ môn như vậy nên giáo viên của
trường có người phải giảng dạy nhiều nhưng có người chỉ giảng dạy rất ít như
giáo viên môn ân nhạc, giáo viên môn thể dục, môn lịch sử, giáo viên không có
thời gian để học tập bồi dưỡng do đường xá đi lại gặp nhiều khó khăn, một bộ
phận giáo viên có trình độ chưa nhiệt tình trong công tác do tâm lý nghĩa vụ,
chưa phải là bến đỗ cuối cùng của nghề nghiệp. Trường vẫn chưa có biện pháp
hữu hiệu nào để thu hút, giữ chân, tạo cơ hội phát triển và thăng tiến cho đội ngũ
giáo viên.
2.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN TRƯỜNG THCS LIÊNG TRANG, LANG CHÁNH.
12
Ở trên là những tồn tại cơ bản trong việc quản lý nhằm phát triển đội ngũ
giáo viên, và cũng là những tồn tại trong chất lượng đội ngũ giáo viên trường
THCS LIÊNG TRANG trong giai đoạn hiện nay. Những tồn tại đó là lực cản
trên con đường trường THCS LIÊNG TRANG thực hiện nhiệm vụ chính trị của
chỉnh và đổi mới trong chương trình môn học, đổi mới phương pháp dạy học,
giáo dục. Về lâu dài, giáo viên cần được bồi dưỡng nâng chuẩn lên trình độ đại
học, thạc sĩ để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của người giáo viên của trường
THCS trong thời kỳ mới.
3.1.4. Đảm bảo vai trò quản lý và ý thức trách nhiệm của người quản lý trong
công tác bồi dưỡng là một nguyên tắc cơ bản. Hiệu trưởng giữ vai trò quyết định
trong việc tổ chức các hoạt động bồi dưỡng. Hiệu trưởng cần giáo dục để giáo
viên nhận thức sâu sắc sự cần thiết phải nâng cao và tự nâng cao trình độ, năng
lực. Hiệu trưởng cần thống nhất được yêu cầu xây dựng và phát triển đội ngũ
của toàn trường với mục tiêu phấn đấu của mỗi giáo viên, thu hút mọi giáo viên
vào các hình thức học tập phù hợp.
Có rất nhiều biện pháp để phát triển đội ngũ giáo viên. Với đặc điểm tình
hình riêng của trường THCS LIÊNG TRANG và vận dụng các nguyên tắc bồi
dưỡng phát triển, tôi đề xuất một số biện pháp sau:
3.2. Tăng cường nâng cao nhân thức cho cán bộ quản lý và giáo viên về
vấn đề phát triển đội ngũ.
3.2.1. Nội dung tăng cường.
Những nội dung cần bồi dưỡng về nhận thức như sau:
Bồi dưỡng nhận thức về vai trò của giáo dục đối với sự phát triển. Phải làm
cho mọi người thấu triệt giáo dục có vai trò to lớn trong việc phát triển cá nhân
và xã hội. Giáo dục được coi là đồng nghĩa với sự phát triển. Giáo dục ngày nay
được coi là nền móng của sự phát triển khoa học kỹ thuật và đem lại sự thịnh
vượng cho nền kinh tế quốc dân. Nền giáo dục phát triển nhân cách mỗi cá thể
và bản sắc dân tộc góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài cho đất nước.
Bồi dưỡng nhận thức về quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục, nhiệm vụ
giáo dục trong thời kỳ CNH, HĐH.
+ Đảng ta thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.
14
- Các tổ có kế hoạch hoạt động, đăng ký nội dung nâng cao
3.3. Đa dang hóa các nội dung, hình thức bồi dưỡng phát triển đội ngũ
giáo viên.
3.3.1. Đa dạng hoá nội dung bồi dưỡng
a) Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và lòng nhân ái sư phạm
Trong quá trình bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ, phẩm chất đạo đức
của người thầy phải được coi trọng. Trong bất cứ hoàn cảnh nào người thầy
cũng phải xứng đáng là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Người hiệu
trưởng khi xây dựng phong cách người thầy phải chú ý tới hai mặt. Đó là thái độ
15
đối với công việc và cách ứng xử trước những vấn đề, tình huống trong quan hệ
với cấp trên, với đồng nghiệp, với học sinh hoặc tình huống của thế thái nhân
tình. Người thầy muốn làm tốt công tác giáo dục phải có tác phong mẫu mực,
tôn trọng và công bằng trong đối xử với học sinh, phải xây dựng uy tín trước
học sinh, nhân dân và xã hội. Dù trong hoàn cảnh nào cũng không được làm
hoen ố danh dự người thầy. Phải xây dựng thói quen làm việc có kỷ cương, nề
nếp, lương tâm, trách nhiệm. Thông qua bồi dưỡng tư tưởng chính trị cho thầy
cô giáo thêm tự hào, gắn bó với nghề, trường để tạo động lực phát triển nhà
trường.
Bồi dưỡng lòng nhân ái sư phạm đội ngũ giáo viên là nội dung quan trọng
trong công tác bồi dưỡng chất lượng giáo viên. Lòng nhân ái - tình yêu thương
con người là cái gốc của đạo lý làm người. Với giáo viên thì tình yêu thương ấy
là cốt lõi, là cội nguồn sâu xa của lý tưởng nhân văn, là đặc trưng của giáo dục.
Tình thương yêu học sinh là điểm xuất phát của mọi sự sáng tạo sư phạm và làm
cho giáo viên có trách nhiệm cao với công việc. Tình yêu thương học sinh thể
hiện trong các hoạt động dạy học và giáo dục, đó cũng là điểm xuất phát của
tình yêu nghề nghiệp. ý thức, thái độ và tình yêu nghề nghiệp thể hiện ở việc
không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức để trở thành tấm gương sáng, gây
trong lớp. Do đó giáo viên chủ nhiệm cần rèn luyện kỹ năng vận dụng các tri
thức khoa học giáo dục vào thực tiễn sinh động và đa dạng trong quá trình giáo
dục học sinh của mình.
c) Bồi dưỡng năng lực chuyên môn
Năng lực chuyên môn là nền tảng, là đòn bẩy của năng lực sư phạm. Muốn
có năng lực sư phạm tốt phải có năng lực chuyên môn vững vàng. Bởi "Có bột
mới gột nên hồ".
Năng lực chuyên môn hay trình độ chuyên môn bao gồm nhiều yếu tố như:
- Kiến thức khoa học về bộ môn và các kiến thức liên quan
- Phương pháp giảng dạy bộ môn với từng bài, kiểu bài
- Sự sáng tạo, khả năng đúc rút và phổ biến kinh nghiệm
- Khả năng tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về chuyên môn cho mình và
đồng nghiệp.
- Chất lượng bài dạy, giờ dạy
- Chất lượng học tập của học sinh
Do đó, bồi dưỡng năng lực chuyên môn là bồi dưỡng những nội dung sau:
+ Thường xuyên cung cấp những tư liệu, tài liệu, thiết bị cần thiết liên quan
đến nội dung kiến thức và phương pháp giảng dạy bộ môn.
+ Phát huy, ủng hộ sự sáng tạo của giáo viên trong giảng dạy. Đặc biệt là hiện
đại hoá phương pháp giảng dạy.
+ Tạo điều kiện để giáo viên đúc rút kinh nghiệm giảng dạy.
+ Bồi dưỡng khả năng nắm bắt mục đích yêu cầu từng bài, kiểu bài; có đủ và
vững vàng kiến thức để dạy tất cả các khối lớp.
+ Đánh giá đúng chất lượng giảng dạy của giáo viên, kết quả học tập của học
sinh.
d) Bồi dưỡng năng lực công tác xã hội hoá giáo dục
Đây là một trong bảy nhóm giải pháp để phát triển giáo dục của Đảng và Nhà
nước trong thời kỳ CNH, HĐH, thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân
cùng làm". Chính nhờ chủ trương này mà nguồn lực đầu tư cho giáo dục tăng
lên và làm cho bộ mặt giáo dục nước nhà khởi sắc, tạo ra một phong trào học tập
Đa dạng hoá nội dung
bồi dưỡng
Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức + lòng nhân ái sư phạm
Bồi dưỡng
năng lực chuyên môn
Bồi dưỡng
năng lực
sư phạm
Bồi dưỡng
năng lực
xã hội hoá GD
Bồi dưỡng
năng lực
kiến thức bổ trợ
3.4. Đa dạng hoá các hình thức bồi dưỡng chất lượng đội ngũ giáo viên
18
Để thực hiện được những nội dung bồi dưỡng trên, tôi đề xuất các hình thức
bồi dưỡng như sau:
a) Bồi dưỡng tại trường
Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng tại trường mang lại hiệu quả cao phù hợp
với điều kiện và hoàn cảnh của đa số giáo viên. Tổ trưởng chuyên môn, giáo
viên dạy giỏi các cấp là những cốt cán trong công tác bồi dưỡng. Họ vừa là
người gương mẫu đi đầu trong việc bồi dưỡng, vừa có trách nhiệm giúp đỡ
những thành viên trong tổ. Cải tiến nội dung và hình thức sinh hoạt tổ chuyên
môn cũng mang lại hiệu quả bồi dưỡng tốt.
Tổ chức hội giảng (như hội giảng chào mừng theo chủ điểm, hội thi chọn
giáo viên giỏi trường) tổ chức các cuộc thi nghiệp vụ sư phạm để khích lệ giáo
viên có tình yêu nghề nghiệp và say sưa bồi dưỡng tay nghề.
c) Học các lớp đào tạo bồi dưỡng từ xa.
Bố trí, tạo điều kiện để giáo viên tham gia các lớp học từ xa để nâng cao
trình độ trên chuẩn.
d) Học các lớp tập trung
Vận động và cử giáo viên tham gia dự thi các lớp đào tạo đại học. Nhất là
những giáo viên trẻ, giáo viên có năng lực, có thành tích cao. Năm học 2007 –
2008, 2008-2009, 2009-2010 có 9 giáo viên dự thi lớp đại học đã đậu và đang
theo học tại ĐH Sư phạm Vinh và đại học Hồng Đức.
e) Học theo cụm trường.
Tổ chức học chuyên đề cùng với các trường trong huyện, cụm có mời các
chuyên viên hoặc những đồng chí có năng lực, uy tín, được tham dự các chuyên
đề báo cáo. Cũng có thể liên kết với vài trường trong vùng gần nhau tự tổ chức
chuyên đề để trao đổi kinh nghiệm.
g) Bồi dưỡng qua tự học, tự rèn.
Xây dựng nội dụng này thành một phong trào thi đua. Giáo viên đăng ký vấn
đề tự học theo định kỳ. Sau đó viết thu hoạch trình bày để giáo viên toàn trường
hoặc tổ thảo luận, đánh giá, góp ý. Đối với giáo viên phải xây dựng thành ý thức
thường xuyên.
Đa dạng hoá học tập bồi dưỡng
Bồi dưỡng tại trường
Bồi dưỡng ngắn hạn
Bồi dưỡng từ xa
Bồi dưỡng tập trung
Bồi dưỡng theo cụm
Bồi dưỡng qua tự học
3.5. Đẩy mạnh công tác thi đua khen thưởng.
3.5.1. Nội dung thi đua
Công tác thi đua, khen thưởng có một tác dụng lớn trong việc đẩy mạnh,
phong trào phát triển phải có sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời.
b) Người quản lý phải nắm được đặc điểm cơ bản của tập thể sư phạm, đội
ngũ giáo viên. Đó là các đặc điểm về mục tiêu, đặc điểm về lao động sư phạm,
đặc điểm các yếu tố tâm lý, giá trị của tập thể sư phạm.
c) Đảm bảo chế độ chính sách cho đội ngũ giáo viên, xây dựng khối đại đoàn
kết thống nhất trong tập thể sư phạm, trong đội ngũ giáo viên.
d) Xây dựng bầu không khí tâm lý thuận lợi trong tập thể đội ngũ giáo viên.
Hiệu trưởng cần phối hợp với các tổ chức chính trị, xã hội thường xuyên tổ chức
những sinh hoạt tập thể, những chuyến tham quan, nghỉ mát, hội thảo, quan tâm
đến những sinh hoạt tập thể, quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của
từng giáo viên. Hiệu trưởng cần hoàn thiện phong cách quản lý của mình vì
phong cách quản lý của hiệu trưởng có ảnh hưởng tới bầu không khí tâm lý
của tập thể sư phạm qua tiếp xúc của hiệu trưởng với các giáo viên và điều tiết
các quan hệ giữa các thành viên trong tập thể.
e) Tăng cường pháp chế XHCN, cải cách hành chính trong nhà trường nhằm
xây dựng kỷ cương, nền nếp dạy và học, nhằm phát huy chức năng bộ máy nhà
trường, phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân và cộng đồng.
PHẦN KẾT LUẬN
1. MỘT SỐ KẾT LUẬN
21
Xuất phát từ việc xác định cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, từ việc phân tích thực
trạng phát triển đội ngũ giáo viên trường THCS LIÊNG TRANG, tôi đã lý giải
và đề xuất những biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên trường
THCS LIÊNG TRANG. Những biện pháp trên có những điều tôi đã làm và gặt
hái được một số thành tựu tuy nhỏ bé nhưng đáng tự hào, cũng có những biện
pháp tôi đề xuất dựa trên cơ sở khoa học.
Qua việc triển khai công tác quản lý ở trường THCS LIÊNG TRANG trong
giáo viên.
22
LỜI CẢM ƠN
Trên đây là một số những vấn đề về biện pháp xây dựng đội ngũ CBGV ở
trường THCS LIÊNG TRANG – Lang Chánh nơi em đang công tác mà bản
thân đã nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm. Vì nhiều lí do chắc chắn đề tài này
không thể tránh khỏi những khiếm khuyết hạn chế nhất định, rất mong được sự
góp ý của các thầy cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn, giúp cho quá trình
quản lý trong nhà trường có hiệu quả hơn.
Bản thân tác giả đề tài này xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong
trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh đặc biệt là cô giáo thạc sỹ Đặng Thị Ngần
đã gúp đỡ em hoàn thành tiểu luận này.
Lang Chánh, tháng 05 năm 2010
Lê Xuân Đức
MỤC LỤC
23
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
2
13
2.2. MỘT SỐ TỒN TẠI TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN GIÁO
VIÊN Ở TRƯỜNG THCS LIÊNG TRANG
15
2.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THCS LIÊNG TRANG
18
CHƯƠNG III: NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THCS LIÊNG TRANG TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. Quán triệt các nguyên tắc trong công tác xây dựng nhằm phát triển 20
đội ngũ giáo viên
về
3.2. Tăng cường nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên 21
3.3. Đa dang hoá các nội dung, hình thức bồi dưỡng phát triển đội ngũ
giáo viên.
27
3.4. Đa dạng hoá các hình thức bồi dưỡng chất lượng đội ngũ giáo
30
viên
30
3.5. Đẩy mạnh công tác thi đua khen thưởng