Thực trạng và giải pháp xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn xã hoành sơn huyện giao thủy tỉnh nam định - Pdf 43

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM THỊ THU
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HOÀNH SƠN, HUYỆN GIAO THỦY,
TỈNH NAM ĐỊNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Phát triển nông thôn

Khoa

: Kinh tế & PTNT

Khóa học

: 2012 – 2016

Thái Nguyên, năm 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM



i

LỜI CẢM ƠN
Hiện nay ở các trường Đại học mục tiêu đào tạo đó là đào tạo ra nguồn
lao động đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Để đạt được mục tiêu đó thì
phương châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, “Nhà
trường gắn liền với xã hội” luôn được các trường vận dụng một cách linh
hoạt. Đó là một cách để sinh viên tiếp cận với thực tiễn, áp dụng lý thuyết vào
thực tiễn, củng cố kiến thức, kỹ năng, chuyên môn nghề nghiệp để đáp ứng
yêu cầu nghề nghiệp sau khi ra trường.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của Ban giám
hiệu trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & PTNT cùng giảng viên hướng
dẫn PGS.TS Dương Văn Sơn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “ Thực trạng
và giải pháp xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn xã Hoành
Sơn, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định”.
Tôi xin cảm ơn các cán bộ, nhân dân xã Hoành Sơn cùng gia đình và
bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS Dương Văn Sơn,
người đã giảng dạy, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận
tốt nghiệp của mình.
Trong thời gian thực tập tôi đã cố gắng để hoàn thành báo cáo của
mình, tuy nhiên khó tránh khỏi thiếu xót. Vì vậy mong nhận được sự nhận
xét, bổ sung của thầy cô.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Phạm Thị Thu



Giao thông vận tải

VH – TT – DL

Văn hóa – thể thao – du lịch

HTX

Hợp tác xã

HTXNN

Hợp tác xã nông nghiệp

UBND

Ủy ban nhân dân

HĐND

Hội đồng nhân dân

KT – XH

Kinh tế - xã hội

CN – TTCN

Công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệp

Nông thôn Việt Nam là một khu vực rộng lớn và đông dân nhất cả

nước (chiếm gần 70% dân số cả nước), đa dạng về thành phần tộc người, về
văn hóa, là nơi bảo tồn, lưu giữ các phong tục, tập quán của cộng đồng, là nơi
sản xuất quan trọng, làm ra các sản phẩm cần thiết cho cuộc sống con người.
Với mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, hiện nay ngành nông
nghiệp ít được quan tâm hơn, đặc biệt là ở khu vực nông thôn có quy mô nhỏ,
lợi ích người nông dân đang bị xem nhẹ. Tốc độ phát triển kinh tế cao bên
cạnh những lợi ích mang lại, cũng có không ít những khó khăn cần giải quyết,
vấn đề khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn giữa các khu vực trong cả
nước, nhất là giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn. Phần lớn các hộ
nông dân trên khắp cả nước đều sử dụng phương tiện thô sơ, kĩ thuật lạc hậu
trong sản xuất nông nghiệp, mang lại hiệu quả thấp về kinh tế. Hàng loạt các
vấn đề cần giải quyết tại các địa phương để nâng cao mức sống cho người dân
như: giải quyết việc làm, cải thiện giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng, kĩ thuật sản
xuất nuôi trồng, công tác quản lý tại các địa phương.
Trước tình hình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
hội nhập kinh tế toàn cầu, cần có những chính sách cụ thể mang tính đột phá
nhằm giải quyết toàn bộ các vấn đề của nền kinh tế. Đáp ứng yêu cầu này
Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nông thôn đi vào cuộc sống, đẩy nhanh
tốc độ CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, việc cần làm trong giai đoạn hiện
nay là xây dựng cho được các mô hình nông thôn mới đủ đáp ứng yêu cầu
phát huy nội lực của nông dân, nông nghiệp và nông thôn, đủ điều kiện hội
nhập nển kinh tế thế giới. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về
“Nông nghiệp, nông dân và nông thôn”, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành


2

“Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới” (Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày


năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học của
mình.
- Góp phần hoàn thiện những lý luận và phương pháp nhằm đẩy mạnh,
phát triển và xây dựng điều kiện kinh tế - xã hội ở nông thôn trong giai đoạn
CNH, HĐH nông thôn hiện nay.
- Đề tài cũng được coi là tài liệu tham khảo cho trường, khoa, các cơ
quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các cấp lãnh
đọa của xã Hoành Sơn, huyện Giao Thủy và các cơ quan ban ngành tỉnh Nam
Định, các nhà hoạch địch chính sách, các tổ chức cá nhân đầu tư trong và
ngoài nước định hướng, đưa ra chính sách phát triển mô hình xây dựng nông
thôn mới tại xã và các địa phương khác có điều kiện tương đồng.


4

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Hiện nay vẫn chưa có khái niệm chuẩn xác nào về nông thôn và có
nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng nông thôn được coi là
khu vực địa lý nơi đó cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử
dụng, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất
nông nghiệp. Một số quan điểm khác cho rằng nông thôn là nơi có mật độ dân
số thấp hơn so với thành thị. Vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông
nghiệp là chủ yếu, nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là sản xuất
nông nghiệp. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp

Chương trình phát triển quốc gia. Sự phát triển của các vùng nông thôn sẽ
đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển
chung của đất nước ( Mai Thanh Cúc, 2005), (Phạm Vân Đình và Đỗ Kim
Chung, 1997) [2].
- Nông thôn mới phải là nông thôn, chứ không phải là thị xã, thị trấn
hay thành phố, nông thôn mới khác với nông thôn truyền thống. Mô hình
nông thôn mới là tổng thể, những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ
chức nông thôn theo tiêu chí mới đáp ứng yêu cầu mới đặt ra trong nông thôn
hiện nay. Nhìn chung mô hình nông thôn mới là mô hình cấp xã, thôn được
phát triển toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ và văn
minh. Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu
cầu phát triển, có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường;
đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội.
Tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ
biến và vận dụng trên toàn lãnh thổ.
Có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc
điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức tổ chức nông thôn theo tiêu chí


6

mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là
kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ ( truyền thống, đã
có) ở tính tiên tiến về mọi mặt” [4].
Xây dựng mô hình nông thôn mới là việc đổi mới tư duy, nâng cao
năng lực của người dân, tạo động lực cho mọi người phát triển kinh tế, xã hội
góp phần thực hiện chính sách vì nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Thay đổi
cơ sở vật chất, diện mạo đời sống, văn hóa qua đó thu hẹp khoảng cách giữa
nông thôn và thành thị. Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong
những nội dung quan trọng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong đường lối,

dụng tối đa tài nguyên địa phương, như nguồn nước, đất đai, con người.
Trang bị kiến thức và kĩ năng sản xuất cho hộ nông dân, hình thành các tổ
hợp tác, xây dựng mối liên kết giữa người sản xuất, chế biến, tiêu thụ.
Phát triển ngành nghề nông thôn tạo việc làm phi nông nghiệp. Hỗ trợ
đào tạo dạy nghề, mở rộng nghề mới. Hỗ trợ công nghệ mới, xây dựng khu
công nghiệp, tư vấn thị trường, quảng bá và xử lý môi trường. Hỗ trợ xây
dựng cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ sản xuất. Tư vấn quy hoạch thủy lợi, giao
thông, ruộng đất để phát triển kinh tế với loại hình thích hợp. Hỗ trợ xây dựng
làng nghề, cụm công nghiệp và các ngành chế biến.
Xây dựng nông thôn mới gắn với quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo
vệ môi trường. Quản lý nguồn cấp nước sạch, khai thác sử dụng tài nguyên tại
các địa phương. Tuyên truyền người dân nâng cao ý thức trách nhiệm về môi
trường, xây dựng khu xử lý rác thải tiên tiến.
Xây dựng cơ sở vật chất cho hoạt động văn hóa nghệ thuật, giữ gìn bản
sắc quê hương. Thông qua các hoạt động ở nhà văn hóa làng xã, tạo nên


11

2.2.1.3. Mô hình nông thôn mới tại Thái Lan
Tại Thái Lan, thông qua mô hình OVOP của Nhật Bản, Chính phủ Thái
Lan đã xây dựng dự án cấp quốc gia “ Mỗi xã, một sản phẩm” (One Tambon
one Product – OTOP) nhằm tạo ra sản phẩm mang tính đặc thù của địa
phương có chất lượng, độc đáo, bán được trên toàn cầu. Sản phẩm của OTOP
được phân loại theo 4 tiêu chí:
- Có thể xuất khẩu với giá trị thương hiệu.
- Sản xuất liên tục và nhập khẩu.
- Tiêu chuẩn hóa.
Đặc biệt, mỗi sản phẩm đều có một câu chuyện riêng. Các tiêu chí trên
đã tạo thêm lợi thế cho du lịch Thái Lan vì du khách luôn muốn được tận mắt

quyết tâm thực hiện. Ở các địa phương đã làm tốt công tác tổ chức học tập
quán triệt Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương lần thứ VII (Khóa X) về
nông nghiệp, nông dân, nông thôn, các văn bản của Chính phủ, hướng dẫn
của các bộ ngành đã nâng cao nhận thức đối với cấp ủy, chính quyền các cấp,
cán bộ đảng viên và nhân dân về mục tiêu, yêu cầu và nội dung của việc xây
dựng nông thôn mới của địa phương có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng
bước hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn
nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ, phát triển nhà ở theo quy
hoạch, xây dựng nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí
được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, đời sống nhân dân ổn định
và phát triển.
Nhìn chung các địa phương đều thành lập ban chỉ đạo từ tỉnh, huyện
đến xã, thảo luận, ra Nghị quyết của cấp ủy, lập đề án xây dựng, xác định rõ
mục tiêu, yêu cầu nội dung xây dựng nông thôn mới của địa phương, trong đó
tập trung chỉ đạo vấn đề trọng tâm cốt lõi là xây dựng và thực hiện quy hoạch
nông thôn mới.
Theo Bộ NN&PTNT, từ khi triển khai chương trình xây dựng nông
thôn mới đến nay, đã có 83,6% số xã hoàn thành quy hoạch chung; 60,4% xã
đã phê duyệt xong đề án; khoảng 20% số xã đã đạt các tiêu chí về xây dựng


13

cơ sở hạ tầng thiết yếu. Qua 5 năm đầu triển khai Chương trình (2010-2015),
mặc dù gặp nhiều khó khăn về nguồn lực nhưng Chương trình đã đạt được
những kết quả rất quan trọng. Trong đó, tính đến hết tháng 11/2015, cả nước
có 1.298 xã (14,5%) được công nhận đạt chuẩn NTM. Đặc biệt, số xã khó
khăn nhưng có nỗ lực vươn lên (xuất phát điểm dưới 3 tiêu chí, nay đã đạt
được 10 tiêu chí trở lên) là 183 xã. Cũng tính đến hết tháng 11/2015, đã có 11
đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định công nhận

NTM. Xây dựng NTM đã trở thành phong trào sôi động khắp cả nước. Hơn
nữa, đã hình thành Bộ máy chỉ đạo và tham mưu giúp việc đồng bộ từ Trung
ương tới cơ sở, hoạt động ngày càng chuyên nghiệp, là nòng cốt tổ chức thực
hiện Chương trình với hiệu quả cao, chất lượng. Đội ngũ cán bộ vận hành
Chương trình, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cơ sở đã có tiến bộ rõ rệt, nhận thức
đầy đủ hơn và chỉ đạo chương trình có hiệu quả hơn, nhất là trong việc xây


14

dựng dự án, vận động quần chúng và tổ chức, thực hiện dự án, thực hành dân
chủ ở nông thôn.
Trên cơ sở thí điểm các địa phương, Ban chỉ đạo Trung ương sẽ đúc
kết, rút kinh nghiệm trước khi triển khai rộng hơn. Uỷ ban trung ương Mặt
trận Trung ương Tổ quốc Việt Nam sẽ xây dựng đề án và phát động cuộc vận
động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với
xây dựng NTM” và hình thành cơ chế phối hợp giữa các cơ quan Chính phủ
với các cơ quan của Đảng, nhằm huy động cả hệ thống chính trị vào thực hiện
nhiệm vụ xây dựng NTM trong thời gian tới [11].
2.2.2.2. Thành tựu của quá trình phát triển nông thôn.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là tọng tâm của chiến lược
phát triển kinh tế Việt Nam. Trở thành thành viên chính thức của tổ chức
Thương mại thế giới đã mang lại nhiều cơ hội cũng như thách thức cho ngành
nông nghiệp Việt Nam nói chung và người dân nông thôn nói riêng.
Thực tế cho thấy, các chính sách và các hoạt động về lĩnh vực nông
nghiêp, nông thôn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế luôn là lĩnh vực
quan trọng và thu hút rất nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa
học, các nhà hoạch định chính sách cũng như sự quan tâm của người dân
nông thôn. Phát triển nông thôn là một trong những chiến lược phát triển kinh
tế trong công cuộc đổi mới của đất nước cùng với sự phát triển của các ngành

Sản lượng rau tăng 8,8 %, sản lượng đậu tăng 9%, đỗ tương tăng 9,2%,…
Chăn nuôi tiếp tục phát triển nhanh, đàn bò đạt trên 4,4 triệu con tăng 8,2 %
trong đó đàn bò sữa đạt gần 56000 con tăng 41,8 %, đàn lợn đạt gần 25 triệu
con, tăng 9,5 % so với năm 2003. Chăn nuôi đã có hướng chuyển dịch theo
hướng sản hàng hóa. Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng ngành chăn nuôi năm 2005
ước đạt 8,5% so với 3,2% của ngành trồng trọt. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp
đã chuyển theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, giảm tỷ trọng trồng trọt ( Tổng
cục thống kê, năm 2005) [8].
- Ngành lâm nghiệp phát triển và đạt được một số thành tựu: Tốc độ tăng
trưởng của ngành lâm nghiệp bình quân đạt 1,4% năm. Với thành tựu bảo


16

toàn và phát triển được vốn rừng . Độ che phủ của rừng năm 1990 là 27,7%,
đến năm 2005 đạt 37,3%. Từ năm 2000 đến nay, bình quân hàng năm trồng
được gần 200 ngàn ha rừng. Các khâu khoanh nuôi tái sinh, khoán quản lý
bảo vệ rừng theo phương thức “ giao đất khoán” đều đạt và vượt kế hoạch.
Thành tựu đáng ghi nhận trong những báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện
chương trình xây dựng NTM giai đoạn 2010-2015, phương hướng, nhiệm vụ
giai đoạn 2016-2020 do Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát, Phó
Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu
quốc gia xây dựng nông thôn mới trình bày tại Hội nghị cho thấy, sau 5 năm
triển khai thực hiện, chương trình đã làm thay đổi nhận thức của đa số người
dân, lôi cuốn người dân tham gia xây dựng NTM.
- Ngành thủy sản đang vươn lên thành ngành mũi nhọn trong nông – lâm
– thủy sản. Đến năm 2007, sản lượng thủy sản cả nước đạt hơn 4,15 triệu
tấn, tăng gấp 2,6 lần so với năm 2000. Thành tựu đáng chú yếu nhất diện
tích và sản lượng tăng gấp 3,5 lần, đạt 2.0885,2 ngàn tấn. Trong quá trình
phát triển, các hoạt động khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản đã gắn

trợ”, phong trào xây dựng nông thôn mới với nhiều công trình mới đang tạo ra
diện mạo mới cho tỉnh Nam Định. Đến nay, tỉnh đã có 89 xã đạt 19 tiêu chí xã
NTM chiếm 43% (so với tổng số xã của tỉnh), trong đó có 65 xã đã được công
nhận đạt chuẩn NTM. Bình quân toàn tỉnh đạt 15,83 tiêu chí/xã tăng 10 tiêu
chí/xã so với năm 2010, không còn xã nào đạt dưới 7 tiêu chí. Giá trị sản xuất
nông nghiệp tăng bình quân 3,1%/năm. Sản lượng lương thực bình quân hằng
năm đạt 940 nghìn tấn. Giá trị sản xuất bình quân trên 1ha canh tác tăng từ
75,6 triệu đồng/ha năm 2010 lên 100 triệu đồng/ha. Đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân tại các vùng nông thôn được nâng lên đáng kể. Phát huy
những kết quả đã đạt được, tỉnh Nam Định đang đặt ra mục tiêu, từ năm 2016,
hằng năm toàn tỉnh có thêm ít nhất 20 xã được công nhận đạt chuẩn nông
thôn mới. Đến hết năm 2020 tỉnh Nam Định có tối thiểu 80% số xã đạt chuẩn


18

quốc gia nông thôn mới; 80% số huyện, thành phố đạt chuẩn quốc gia nông
thôn mới; tỉnh Nam Định đạt chuẩn Quốc gia tỉnh nông thôn mới.
Tổng số vốn huy động thực hiện Chương trình xây dựng NTM đạt
10.253 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách Trung ương 368 tỷ đồng, Vốn ngân
sách địa phương 2.229 tỷ đồng, Vốn huy động cộng đồng: 1.653 tỷ đồng, còn
lại là vốn doanh nghiệp, vốn tín dụng và vốn khác. Ngoài ra, các hộ nông dân
đã góp 2.851 ha đất nông nghiệp (tương đương 5.717 tỷ đồng), hiến được
206ha đất thổ cư (tương đương trên 1.000 tỷ đồng)
“Không nóng vội chạy theo thành tích trong xây dựng nông thôn mới”,
đó là chia sẻ của ông Bùi Viết Hưng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định về
cách triển khai xây dựng nông thôn mới của địa phương. Bài học kinh nghiệm
của địa phương là tập trung cao sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng,
chính quyền, phối hợp của MTTQ, các ngành và đoàn thể, tổ chức chính trị,
phát huy vai trò chủ thể của người dân và hộ gia đình trong xây dựng nông

các nguồn lực đa dạng; việc huy động, đóng góp của người dân phải được
thực hiện trên cơ sở thực sự tự nguyện, bàn bạc dân chủ, không gượng ép quá
sức dân.
Phấn đấu 50% số xã trên cả nước đạt chuẩn NTM
Mục tiêu cụ thể được xác định trong giai đoạn 2016-2020 là phấn đấu
50% số xã trên cả nước đạt chuẩn NTM; mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương có ít nhất một huyện đạt chuẩn NTM; không còn xã dưới 5 tiêu chí.
Để cụ thể hóa được mục tiêu trên, nhiều nhiệm vụ, giải pháp đã được
đề ra, trong đó có việc tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao
nhận thức cho cán bộ và cư dân nông thôn, nâng cao chất lượng các phong
trào thi đua xây dựng NTM; cơ bản hoàn thành hệ thống cơ sở hạ tầng thiết
yếu trên địa bàn; phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho cư dân nông
thôn.
Cùng với đó là tạo chuyển biến rõ nét về vệ sinh, môi trường, cảnh
quan nông thôn theo hướng xanh - sạch - đẹp; tiếp tục nâng cao chất lượng,


20

hiệu quả các tiêu chí NTM đối với các xã, huyện đã được công nhận đạt
chuẩn; huy động đa dạng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho chương
trình; đẩy mạnh phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng NTM”,
khen thưởng kịp thời và xứng đáng cho các tập thể làm tốt, các cá nhân, tổ
chức có đóng góp tích cực, hiệu quả cho Chương trình...
2.4. Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Căn cứ quyết định số 491/QĐ – TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng
Chính Phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
* Các tiêu chí gồm 5 nhóm:
- Nhóm 1: Quy hoạch (1 tiêu chí)

Tỷ lệ trường học các cấp mẫu giáu, tiểu học, trung học cơ sở, có cơ sở
vật chất đạt tiêu chuẩn quốc gia. Đạt 100%.
+ Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hóa
Nhà văn hóa xã và khu thể thao đạt chuẩn của Bộ Văn hóa - Thể thao –
Du lịch. Đạt.
+ Tiêu chí 7: Chợ nông thôn
Chợ theo quy hoạch, đạt chuẩn theo quy định. Đạt. (Theo 342/ QĐTTg về sửa đổi 05 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban
hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ
tướng Chính phủ).
+ Tiêu chí 8: Bưu điện
Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông. Đạt.
Có internet đến thôn. Đạt.
+ Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư
Không còn nhà tạm, dột nát, đảm bảo 90% nhà ở đạt chuẩn của Bộ Xây
dựng.
+ Tiêu chí 10: Thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 26 triệu
đồng/người.


22

Các xã đạt chuẩn phải có tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người của
xã không thấp hơn tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người tối thiểu khu
vực nông thôn của vùng.
+ Tiêu chí 11: Tỷ lệ hộ nghèo
Đạt mức dưới 3%.
+ Tiêu chí 12: Tỷ lao động có việc làm thường xuyên
Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên trên tổng dân số trong độ tuổi
lao động đạt từ 90% trở lên (Theo quyết định số 342/ QĐ- TTg ngày

Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn quốc gia. Đạt 90%
trở lên. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường.
Hạn chế tối đa các hoạt động suy giảm môi trường, tích cực phát triển
môi trường xanh, sạch đẹp.
Nghĩa trang được xây dựng đúng quy định.
Nước thải, chất thải được thu gom và xử lý theo quy định.
+ Tiêu chí 18: Hệ thống tổ chức chính trị
Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”. Các
tổ chức đoàn thể trong xã đạt danh hiệu tiên tiến trở nên. Hệ thống chính trị
xã đầy đủ các tổ chức. Cán bộ xã đạt tiêu chuẩn.
+ Tiêu chí 19: An ninh trật tự xã hội
An ninh trật tự được giữ vững, ổn định, các sự việc xảy ra trên địa bàn
được giải quyết kịp thời. Phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ hoạt động tốt,
phát huy hiệu quả [6].


24

PHầN 3
ĐốI TƢợNG, NộI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CứU
3.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các vấn đề liên quan tới phát triển nông thôn và mô hình xây dựng nông thôn
mới tại xã Hoành Sơn, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Các hộ nông dân xã Hoành Sơn.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về không gian: Xã Hoành Sơn, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Giới hạn về thời gian: tháng 2/2016 - tháng 4/2016
- Giới hạn về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng xây dựng mô
hình nông thôn mới tại xã Hoành Sơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status