Nghiên cứu điều tra khảo sát và đánh giá tình hình nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật trong rau củ quả và tình hình nhiễm hàn the trong một số sản phẩm thực phẩm có bán tại thị trường - Pdf 43

ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................................... 4
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................................. 6
LỜI MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 7
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................................... 9
1.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HÀN THE ...................................................................... 9
1.1.1. Nguồn gốc và cấu trúc hóa học của hàn the ....................................................... 9
1.1.2. Tính chất cơ bản của hàn the ............................................................................ 10
1.1.3. Tác hại .............................................................................................................. 12
1.1.3.2. Loại thải ......................................................................................................... 12
1.1.4. Các biện pháp phòng ngừa ............................................................................... 14
1.1.5. Tình hình nghiên cứu về dư lượng hàn the trong các sản phẩm giò –chả ........ 15
1.2. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT (HCBVTV) ....... 16
1.2.1. Giới thiệu về HCBVTV .................................................................................... 16
1.2.2. Giới thiệu về hóa chất bảo vệ thực vật nhóm carbamat ................................... 21
1.3. BỘ XÉT NGHIỆM NHANH (bộ kit thử nhanh)
CHƯƠNG II: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................... 28
2.1. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................................. 28
2.2. Dụng cụ, thiết bị ...................................................................................................... 28
2.3. Thời gian, địa điểm: ................................................................................................. 28
2.4. Kỹ thuật lấy mẫu ..................................................................................................... 29
2.5. Quy trình phân tích .................................................................................................. 30
2.5.1. Quy trình kiểm tra dư lượng hàn the trong giò – chả ....................................... 30
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Duy Thịnh

1


GVHD: PGS.TS. Nguyễn Duy Thịnh

2

HV: Phạm Thị Thanh Lịch – CB120585


ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ
Bảng 1.1. Mức dư lượng tối đa cho phép sử dụng thuốc trừ sâu carbamat ở một số quốc
gia……………………………………………………………………………………….…....25
Bảng 3.1. Bảng tổng hợp kết quả lấy mẫu để kiểm tra ……………………………………...35
Bảng 3.2. Tổng hợp số mẫu khảo sát quận Hai Bà Trưng tháng 09/2014 …………………..37
Bảng 3.3. Tổng hợp số mẫu khảo sát quận Hai Bà Trưng tháng 10/2014 …………………..37
Bảng 3.4. Tổng hợp số mẫu khảo sát phường Bách Khoa tháng 09/2014 …………………..40
Bảng 3.5. Tổng hợp số mẫu khảo sát phường Bách Khoa tháng 10/2014 …………………..40
Bảng 3.6. Tổng hợp số mẫu khảo sát phường Thanh Nhàn tháng 9/2014 …………………..41
Bảng 3.7. Tổng hợp số mẫu khảo sát phường Thanh Nhàn tháng 10/2014 ………………....42
Bảng 3.8. Tổng hợp số mẫu khảo sát phường Lĩnh Nam tháng 9/2014 ……………………..42
Bảng 3.9. Tổng hợp số mẫu khảo sát phường Lĩnh Nam tháng 10/2014 …………………....43
Bảng 3.10. Tổng hợp số mẫu khảo sát phường Trương Định tháng 9/2014………………….43
Bảng 3.11. Tổng hợp số mẫu khảo sát phường Trương Định tháng 10/2014 ………………..44
Bảng 3.12. Tổng hợp số mẫu khảo sát phường Vĩnh Tuy tháng 9/2014 …………………….44
Bảng 3.13. tổng hợp số mẫu khảo sát phường Vĩnh Tuy tháng 10/2014 …………………….45
Bảng 3.14. Tổng hợp số mẫu khảo sát phường Minh Khai tháng 10/2014 …………………..45


HV: Phạm Thị Thanh Lịch – CB120585


ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADI

Acceptable Daily Intake (Lượng ăn vào hàng ngày chấp nhận được)

ATVSTP

An toàn vệ sinh thực phẩm

ATTP

An toàn thực phẩm

BYT

Bộ Y tế

BVTV

Bảo vệ thực vật



GVHD: PGS.TS. Nguyễn Duy Thịnh

4

HV: Phạm Thị Thanh Lịch – CB120585


ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học Thạc sĩ của mình, tôi vô cùng biết ơn Tập thể các thầy
cô giáo trong Viện Công nghệ sinh học & Công nghệ Thực phẩm - Trường Đại học
Bách Khoa Hà Nội đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Thầy giáo PGS – TS Nguyễn Duy Thịnh ĐH
Bách Khoa Hà Nội, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động
viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn.

Hà Nội, ngày …/…/2015

Phạm Thị Thanh Lịch

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Duy Thịnh

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, công tác đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm
(ATVSTP) phòng chống ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm ngày
càng được mọi tấng lớp trong xã hội quan tâm. Sự vào cuộc quyết liệt của các cơ
quan quản lý, của các ngành chức năng và ý thức, trách nhiệm của người sản xuất,
kinh doanh, người tiêu dùng đã khiến cho công tác này đạt được những tiến bộ rõ
rệt. Nhưng thực trạng các sản phẩm thực phẩm có bổ sung các chất bị cấm, nhiễm
hóa chất bảo quản, thuốc trừ sâu, hóa chất bảo vệ thực vật vẫn còn cao do ý thức
người dân chưa cao, chưa có ý thức bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.
Hàn the bị cấm sử dụng trong chế biến thực phẩm nhưng thường được sử dụng
như một chất thêm vào để tăng cường liên kết cấu trúc mạng của tinh bột và protein,
làm giảm độ bở, tăng độ dai, giòn của các loại thực phẩm được chế biến từ bột ngũ
cốc hoặc từ thịt gia súc, gia cầm, cải thiện trạng thái cảm quan của sản phẩm. Chính
vì tính chất này mà người sản xuất thích sử dụng nó để làm tăng tính dai, giòn của
các loại sản phẩm; hay sử dụng nó để pha trộn thêm bột cho vào giò, chả, thịt, cá các
loại để giảm giá thành sản phẩm. Do đặc tính gắn kết với thực phẩm của hàn the mà
nó làm cho thực phẩm khó được tiêu hóa hơn bình thường rất nhiều. Khi tích lũy
trong cơ thể, hàn the còn có khả năng gây tổn thương gan, thoái hóa cơ và gây các
ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người.
Thuốc trừ sâu hay hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) xuất phát từ thuật
ngữ . Tiếng anh “Pesticide” có nghĩa là chất để diệt loài gây hại. Dịch sang tiếng
Việt thì chúng ta sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau như: thuốc trừ sâu, thuốc bảo
vệ thực vật, hoá chất trừ sâu, hoá chất bảo vệ thực vật. Hóa chất bảo vệ thực vật có
nhiều nhóm hóa chất khác nhau, trong đó có bốn nhóm chính là: lân hữu cơ, clo hữu
cơ, carbamat và pyrethroid. Nhóm clo hữu cơ đã bị cấm sử dụng, nhóm pyrethroid
vẫn đang được sử dụng nhưng độc tính thấp, ít có khả năng gây nhiễm độc cho người


8

HV: Phạm Thị Thanh Lịch – CB120585


ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HÀN THE
1.1.1. Nguồn gốc và cấu trúc hóa học của hàn the
1.1.1.1. Lịch sử nghiên cứu và nguồn gốc của hàn the
Hàn the - Borax (Phát âm tiếng Việt: Bo-rac) lần đầu tiên được phát hiện ở
lòng hồ khô ở Tây Tạng và được nhập khẩu thông qua con đường tơ lụa đến vùng
Arabia (Ả rập). Borax được sử dụng phổ biến trong cuối thế kỷ 19 khi Công ty
Francis Marion Smith`s Pacific Coast bắt đầu đưa ra thị trường và phổ biến với các
ứng dụng trong công nghệ, theo đó borax đã được khai thác ở sa mạc California và
Nevada với số lượng đủ lớn để làm cho nó rẻ và sẵn.
Borax còn được gọi là natri borat, natri tetraborat hoặc dinatri tetraborat, là
một hợp chất quan trọng, một khoáng sản và một muối của axit boric. Thương phẩm
thường là một loại bột màu trắng bao gồm tinh thể mềm không màu, dễ hoà tan trong
nước.
Hàn the có trong các trầm tích evaporit được tạo ra khi các hồ nước mặn bị bay hơi
lặp lại theo mùa. Các trầm tích có tầm quan trọng thương mại chủ yếu được tìm thấy
gần Boron, California và các khu vực khác ở tây nam Hoa Kỳ, sa mạc Atacama ở
Chile và ở Tây Tạng.
Hàn the có trong thiên nhiên và thường được tìm thấy ở đáy các hồ nước mặn

 Kết quả thu được sản phẩm hàn the có độ tinh khiết từ 95-97%.
 Điều chế trong sản xuất công nghiệp từ các khoáng poly borate (hỗn hợp của
Colemanit và Idecnit).
Hàn the có tên thương mại theo tiếng Anh là Sodium tetraborate, Sodium
pyroborate, Sodium beborate. Tên hoá học đầy đủ là Natri tetraborate.
1.1.1.2. Dạng tồn tại của hàn the
Hàn the là một hợp chất hoá học của nguyên tố B (Bo) với Natri và Oxy, là
muối của acid boric (H3BO3) ngậm 10 phân tử nước với công thức hoá học là
Na2B4O7.10H2O.
Borax là một từ chung để chỉ một số loại muối của Bo dạng khan hoặc ngậm
nước bao gồm:


Hàn the khan (Na2 B4O7)



Borax pentahydrat (Na2B4O7.5H2O)



Borax decahydrate (Na2B4O7.10H2O)

Hàn the cũng có thể dễ dàng chuyển đổi thành axit boric và các muối borat,
Phản ứng với axit clohydric để tạo thành axit boric là:
Na2B4O7.10H2O + 2 HCl → 4 H3BO3+ 2 NaCl + 5 H2O
1.1.2. Tính chất cơ bản của hàn the
1.1.2.1. Tính chất
Hàn the (Na2O4 B7.10 H2O) là một loại muối ở dạng tinh thể màu trắng đục,
không mùi, không vị, ít tan trong nước nguội nhưng tan nhiều trong nước nóng, tan

thêm bột cho vào giò, chả, thịt, cá các loại để giảm giá thành sản phẩm.

Hình 1.1: Một số sản phẩm thực phẩm có thể chứa hàn the (hình ảnh minh họa)
Ngoài ra, trong thực phẩm có nhiều protein như thịt, cá... lượng nước tồn tại
khá lớn (65-80%) ở dạng tự do hoặc dạng liên kết. Vì vậy khi sử dụng hàn the thì sự
liên kết này càng bền chặt, cấu trúc protein càng vững chắc, tức là thịt có độ dai,
giòn, độ đàn hồi cao hơn và có thể giữ nước ở mức tối đa nên cân nặng hơn. Điều

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Duy Thịnh

11

HV: Phạm Thị Thanh Lịch – CB120585


ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

này giải thích tại sao một số trường hợp không thể đo được vì nồng độ của hàn the
vượt xa các chỉ số lớn nhất của dụng cụ đo. Tính sát khuẩn của hàn the rất mạnh, cho
nên hàn the được sử dụng như một chất bảo quản để giữ cho vào thực phẩm được lâu
mà không lo bị hư hỏng.
1.1.3. Tác hại
1.1.3.1. Chuyển hóa của hàn the trong cơ thể người
Trong cơ thể người hàn the tích tụ vào não và gan nhiều nhất rồi đến tim, phổi,
dạ dày, thận, ruột. Thông thường nó là một chất kích thích da, mắt, đường hô hấp.
Ngoài ra nó có thể làm thoái hóa cơ quan sinh dục, làm suy yếu khả năng sinh sản
và gây thương tổn cho bào thai. Acid boric còn có tác dụng ức chế thực bào nên làm

the ăn vào, phần còn lại sẽ tích tụ vĩnh viễn trong cơ thể, vì vậy sử dụng ít hàn the
trong nhiều ngày cũng nguy hiểm như sử dụng nhiều hàn the trong một lần.
1.1.3.3. Các dạng nhiểm độc ở người
a. Nhiểm độc cấp tính:
Trong sách "Hỏi đáp về vệ sinh an toàn thực phẩm" do Bộ Y tế phát hành vào
tháng 3/2001, có viết: "Hàn the có thể gây ngộ độc cấp tính cho người sử dụng với
liều lượng thấp. Liều từ 5g trở lên đã gây ngộ độc cấp tính, có thể dẫn đến tử vong.
Tuy nhiên, tác động của hàn the chủ yếu là mãn tính. Hàn the ảnh hưởng đến chức
năng hoạt động của thận, gan, gây biếng ăn, suy nhược cơ thể… Khi vào cơ thể, hàn
the khó bị đào thải mà tích tụ ở gan, khi lượng tích tụ đủ lớn sẽ gây bệnh mãn tính".
Khi chúng ta ăn phải thực phẩm có chứa hàn the vượt tiêu chuẩn cho phép sau
khi ăn 6-8 giờ thì sẽ xuất hiện các triệu chứng buồn nôn, nôn, tiêu chảy, co cứng cơ,
chuột rút vùng bụng, vật vã, cơn động kinh, dấu hiệu kích thích màng não, tróc da,
phát ban, đặc biệt là vùng mông, bàn tay, có thể có các dấu hiệu suy thận, nhịp tim
nhanh, sốc trụy mạch, da xanh tím, co giật, hoang tưởng và hôn mê.
Nếu vô tình ăn uống phải liều lượng gây ngộ độc, cần cấp cứu tại bệnh viện, gây
nôn, rửa dạ dày và áp dụng nhiều biện pháp điều trị tích cực khác. Tuy nhiên, trường
hợp ngộ độc cấp như vậy ít xảy ra. Thường gặp là các ca nhiễm độc trường diễn do
tích luỹ hàn the qua nhiều lần ăn thực phẩm chứa chất này. Tác hại đặc biệt nghiêm
trọng đối với thai nhi và trẻ em. Vì vậy, phấn rôm nếu có một lượng nhỏ acid boric
thì trên nhãn phải ghi rõ "không dùng cho trẻ sơ sinh".
b. Nhiểm độc mãn tính:
Do khả năng tích luỹ trong cơ thể của hàn the, gây ảnh hưởng quá trình tiêu hoá,
hấp thụ, quá trình chuyển hoá và chức năng của thận, biểu hiện là mất cảm giác ăn
ngon, giảm cân, nôn, tiêu chảy nhẹ, mẫn đỏ da, rụng tóc, suy thận, cơ động kinh, da
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Duy Thịnh

13

HV: Phạm Thị Thanh Lịch – CB120585


nhiều nước trên thế giới đã cấm không cho sử dụng hàn the để bảo quản thực phẩm.
Hàn the là một loại hóa chất không được phép sử dụng trong chế biến thực phẩm
theo quyết định số 867/1998/QĐ-BYT của Bộ Y tế. Đây là chất bị cấm sử dụng trong
việc bảo quản và chế biến thực phẩm. Như vậy, sự thiếu hiểu biết của cả người bán
hàng và người sử dụng đang dẫn đến những hậu quả trầm trọng: Hàng triệu người
tiêu dùng đang "ngày đêm" tích tụ bệnh tật, có thể gây chết người từ từ[5][11].
1.1.4. Các biện pháp phòng ngừa
- Đối với các cơ quan chức năng tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động mua bán,

sử dụng hàn the.
- Tăng cường hoạt động tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân, đặc biệt là học

sinh, sinh viên nhận biết được những nguy hại của phụ gia thực phẩm khi con người
lạm dụng chúng.

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Duy Thịnh

14

HV: Phạm Thị Thanh Lịch – CB120585


ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

- Với thực tế hiện tại, khối nhân viên văn phòng, học sinh, sinh viên, công nhân...


15

HV: Phạm Thị Thanh Lịch – CB120585


ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

70,3% và giò lụa là 55,8%. Tác giả Lê Thanh Hải thực hiện nghiên cứu tại thành phố
Hồ Chí Minh năm 2004 - 2005 cho thấy tỷ lệ có sử dụng hàn the ở mẫu chả lụa là
68,3%, mì sợi là 66,4%, giò sống là 59,8% và bánh giò là 11,6%.
Năm 2006, theo kết quả báo cáo kiểm tra hàn the ở các địa phương cho thấy
tỷ lệ giò, chả có hàn the rất cao: trung bình từ 29 - 82% các mẫu được kiểm tra Cũng
thời gian trên, Nguyễn Đức Thụ nghiên cứu trên địa bàn Sơn Tây cho thấy có tới
95,2% số mẫu giò, 94,6% mẫu chả, 79,3% số mẫu nem chua, 10,9% số mẫu bánh
phở, bún và 60% số mẫu bánh su sê, bánh cốm, bánh giò có sử dụng hàn the. Năm
2007, nghiên cứu của Bùi Duy Tường tại địa bàn tỉnh Tây Ninh cho thấy có đến 39%
mẫu thực phẩm có chứa hàn the.
Năm 2008, nghiên cứu của Nguyễn Thu Ngọc Diệp trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh cho thấy 68,19% mẫu xét nghiệm dương tính với hàn the.
Trương Đình Định đã nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Quảng Bình cho thấy tỷ lệ
mẫu thực phẩm có chứa hàn the chiếm tỷ lệ từ 31,2 - 36,9%[5][8][17].
Cơ quan quản lý về an toàn thực phẩm đã đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng tới
toàn xã hội các vấn đề về tác hại của hàn the cũng như các hóa chất độc hại trong
thực phẩm; quy định về việc sử dụng phụ gia thực phẩm và các chế tài xử phạt khi
phát hiện vi phạm; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc sử dụng
hàn the. Tuy nhiên, việc kinh doanh, sử dụng hàn the vẫn xảy ra rất phổ biến là vấn
đề rất đáng quan tâm.

hữu cơ và được sử dụng rộng rãi hơn. Nhóm này tác động vào thần kinh của côn
trùng bằng cách ngăn cản sự tạo thành men Cholinestaza làm cho thần kinh hoạt
động kém, làm yếu cơ, gây choáng váng và chết. Nhóm này bao gồm một số hợp
chất như parathion, malathion, diclovos, clopyrifos…
- Nhóm Carbamat là các dẫn xuất hữu cơ của acid cacbamic, gồm những hoá
chất ít bền vững hơn trong môi trường tự nhiên, song cũng có độc tính cao đối với
người và động vật. Khi sử dụng, chúng tác động trực tiếp vào men Cholinestraza của
hệ thần kinh và có cơ chế gây độc giống như nhóm lân hữu cơ. Đại diện cho nhóm
này như: carbofuran, carbaryl, carbosulfan, isoprocarb, methomyl…

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Duy Thịnh

17

HV: Phạm Thị Thanh Lịch – CB120585


ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

- Nhóm Pyrethroid là những thuốc trừ sâu có nguồn gốc tự nhiên, là hỗn hợp
của các este khác nhau với cấu trúc phức tạp được tách ra từ hoa của những giống
cúc nào đó. Đại diện của nhóm này gồm cypermethrin, permethrin, fenvalarate,
deltamethrin,…
Ngoài ra, còn có một số nhóm khác như: các chất trừ sâu vô cơ (nhóm asen),
nhóm thuốc trừ sâu sinh học có nguồn gốc từ vi khuẩn, nấm, virus (thuốc trừ nấm,
trừ vi khuẩn…), nhóm các hợp chất vô cơ (hợp chất của đồng, thủy ngân,…).
1.2.1.2. Tác hại của HCBVTV


ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

của nhiễm độc cấp tính: mệt mỏi, ngứa da, đau đầu, lợm giọng, buồn nôn, hoa mắt
chóng mặt, khô họng, mất ngủ, tăng tiết nước bọt, yếu cơ, chảy nước mắt, sảy thai,
nếu nặng có thể gây tử vong.
Nhiễm độc mãn tính: Là nhiễm độc gây ra do tích luỹ dần dần trong cơ thể.
Thông thường, không có triệu chứng nào xuất hiện ngay trong mỗi lần nhiễm. Sau
một thời gian dài, một lượng chất độc lớn tích tụ trong cơ thể sẽ gây ra các triệu
chứng lâm sàng. Biểu hiện bệnh lý của nhiễm độc mãn tính: kích thích các tế bào
ung thư phát triển, gây đẻ quái thai, dị dạng, suy giảm trí nhớ và khả năng tập trung,
suy nhược nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hệ thần kinh, gây tổn hại cho gan, thận và
não.
1.2.1.3. Tình hình tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong rau quả
Theo báo cáo của Cục Bảo vệ thực vật, có 23% số hộ nông dân vi phạm quy
định về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, dẫn đến tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trên
nông sản. Một số loại thuốc trừ sâu độc hại đã bị cấm sử dụng nhưng hiện vẫn có
nhiều người tìm cách đưa về nông thôn. Số mẫu rau, quả tươi có dư lượng hóa chất
bảo vệ thực vật chiếm từ 30-60%, trong đó số mẫu rau, quả có dư lượng hóa chất bảo
vệ thực vật vượt quá giới hạn cho phép chiếm từ 4-16%, một số hóa chất bảo vệ thực
vật bị cấm sử dụng như Methamidophos vẫn còn dư lượng trong rau.
Trong năm 2006, Chi cục bảo vệ thực vật Hà Nội đã kiểm tra 790 mẫu của 52
đơn vị kinh doanh rau an toàn trên địa bàn thành phố, phát hiện 26 mẫu có dư lượng
thuốc trừ sâu, chiếm tỷ lệ 3,29%. Nấm rơm, cần tây, cải thìa, xà lách xong, bồ ngót,
bông cải xanh (súp lơ), rau dền, cần... là những loại rau ăn lá có tỷ lệ dư lượng thuốc
trừ sâu cao (3,94%). Đặc biệt là tình trạng vượt nhiễm thuốc trừ sâu đối với các loại
rau củ quả, trái cây nhập khẩu từ Trung Quốc. Kết quả kiểm tra của Chi cục bảo vệ

(664 mẫu) trong tổng số 3.648 mẫu rau như mướp tây, cà chua, bắp cải và súp lơ đều
có dư lượng thuốc trừ sâu. Các loại rau như bắp cải, súp lơ và cà chua có dư lượng
thuốc trừ sâu lớn nhất. Các loại thuốc trừ sâu tìm thấy trong các loại quả chủ yếu là
chlorpyriphos, monocrotophos, profenophos và cypermethrin[7][12][13][16].
1.2.1.4. Tình hình ngộ độc hóa chất bảo vệ thực vật
Theo thống kê của Tổ chức Lao động Quốc tế, trên thế giới, hàng năm có trên
40.000 người chết vì ngộ độc rau trên tổng số 2 triệu người ngộ độc. Tại Việt Nam,
con số người bị ngộ độc cũng không nhỏ. Từ năm 1993 - 1998, hàng chục ngàn người
bị nhiễm độc do ăn phải rau quả còn dư lượng thuốc trừ sâu. Nặng nhất ở Đồng bằng
sông Cửu Long, năm 1995 có 13.000 người nhiễm độc, trong đó có 354 người chết.

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Duy Thịnh

20

HV: Phạm Thị Thanh Lịch – CB120585


ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Năm 1990, thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho thấy có khoảng 25
triệu lao động trong ngành nông nghiệp bị nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật mỗi
năm. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có những con số ước tính trên phạm vi toàn
cầu, nhưng hiện có đến 1,3 tỷ lao động trong ngành nông nghiệp và có thể hàng triệu
ca nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật vẫn đang xảy ra hàng năm.
Năm 2000, Bộ y tế Braxin ước tính trong một năm nước này có 300.000 ca
nhiễm độc và 5.000 ca tử vong do hóa chất bảo vệ thực vật. Trong một nghiên cứu ở

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

carbamat càng bền, càng ức chế men cholinesteraza mạnh. Cả lân hữu cơ và carbamat
đều kìm hãm vị trí men tác động, dẫn đến hệ thần kinh không kiểm soát được, làm
mất khả năng phối hợp giữa các cơ quan, giải phóng quá mức hormon, sinh vật mất
nước và chết.
Các thuốc carbamat an toàn với cây, ít độc đối với cá hơn các thuốc lân hữu
cơ; không tồn lưu quá lâu trên nông sản và môi trường sống. Độ độc của thuốc đối
với động vật máu nóng rất khác nhau, tùy thuộc vào loại thuốc.
Các chất chủ yếu thuộc nhóm bao gồm: carbaryl, methiocarb, pirimicarb,
oxamyl, carbendazim, propoxur, aminocarb, aldicarb…
1.2.2.2. Carbofuran
Carbofuran là một trong những thuốc trừ sâu nhóm carbamat độc nhất, có tên
là 2,3-dihydro-2,2-dimethyl-7-benzofuranyl methylcarbamate, tên thương mại là
Furadan, Curater.

Công thức phân tử: C12H15NO3.
M = 221,25g/mol.
tnc = 151C.
d = 1,18g/cm3.
Hình 1.3. Công thức Cấu tạo của Carbofuran
Carbofuran là một trong những thuốc trừ sâu có độc tính cao đối với con người.
Nó có thể xâm nhập vào cơ thể qua hô hấp, qua miệng và qua da. Triệu chứng khi bị
ngộ độc carbofuran: buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, giảm tầm nhìn… Ở liều cao có
thể gây tử vong. Chỉ cần uống 1ml carbofuran cũng có thể dẫn tới tử vong.

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Duy Thịnh

22


850mg/kg, liều gây chết trung bình qua hô hấp LC50 = 0,005 – 0,023mg/kg.
1.2.2.4. Fenobucarb

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Duy Thịnh

23

HV: Phạm Thị Thanh Lịch – CB120585


ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Fenobucarb có tên là 2-(1-Methylpropyl) phenol methylcarbamate, là một loại
thuốc trừ sâu nhóm carbamat.
Công thức phân tử: C12H 17NO2
M = 207,3g/mol
ts = 32C
d = 1,035g/cm3

Hình 1.5. Công thức Cấu tạo của Fenobucarb
Fenobucarb tan kém trong nước, tan tốt trong các dung môi Acetone, Benzene,
Toluene, xylene. Fenobucarb được sử dụng làm thuốc trừ sâu trên lúa và bông, rất
độc hại đối với con người, nó ảnh hưởng đến hệ thần kinh, bộ phận sinh sản, gây ung
thư và ngộ độc cấp tính. Liều gây chết trung bình qua miệng đối với chuột là
410mg/kg.
1.2.2.5. Propoxur
Propoxur có tên quốc tế là 2-isopropoxyphenyl methylcarbamate, là một dẫn

phần khác có trong thuốc, tồn tại trên cây trồng, nông sản, đất, nước sau một thời
gian dưới tác động của hệ sống và điều kiện ngoại cảnh. Dư lượng của thuốc được
tính bằng mg thuốc có trong 1kg nông sản, đất hay nước.
Mức dư lượng tối đa cho phép (MRLs) là giới hạn dư lượng của một loại
thuốc, được phép tồn tại về mặt pháp lí hoặc xem như có thể chấp nhận được ở
trong hay trên nông sản, thức ăn gia súc mà không gây hại cho người sử dụng
và vật nuôi khi ăn các nông sản đó.
Bảng 1.1. Mức dư lượng tối đa cho phép sử dụng thuốc trừ sâu carbamat ở một số quốc gia[15]
Quốc gia

Đối tượng

Carbofuran Carbayl
(mg/kg)
(mg/kg)

Propoxur
(mg/kg)

Fenobucarb
(mg/kg)

Nhật Bản

Xoài

0,3

3,0



0,1

1

0,05

-

GVHD: PGS.TS. Nguyễn Duy Thịnh

25

HV: Phạm Thị Thanh Lịch – CB120585



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status