MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết, hoạt động chủ đạo của trẻ em chính là hoạt động vui
chơi. Phương châm “ Học mà chơi, chơi mà học ” luôn được quán triệt trong
công tác chăm sóc, giáo dục trẻ mẫu giáo ở trường mầm non .... Bản thân tôi
thấy việc tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi dân gian là một việc làm hết sức cần
thiết và rất có ý nghĩa. Các trò chơi dân gian không chỉ nhiều về số lượng mà
còn phong phú về thể loại, việc kết hợp trò chơi dân gian trong các hoạt động
học có chủ đích tại trường mầm non mang ý nghĩa to lớn trong việc rèn luyện
thể lực, sự khéo léo, nhịp nhàng, rèn luyện trí tuệ, óc phán đoán, gợi xúc cảm
thẩm mỹ, khả năng hoạt động nhóm, tập thể, sự gắn kết của tình bạn.
Ở Trường Mầm non ... mà tôi đang công tác đa số trẻ còn yếu về các trò chơi
dân gian, mặc dù đã được giáo viên nhiệt tình giúp đỡ nhưng kết quả vẫn chưa
cao. Thực tế tại các lớp, giáo viên cũng đã đưa ra một số trò chơi dân gian song
số lượng vẫn còn ít và thường sử dụng một số trò chơi quen thuộc, vì vậy trẻ
nhàm chán, không hứng thú khi chơi. Đa số các em thích chơi tự do hơn những
trò chơi dân gian. Ở đây là vùng dân tộc thiểu số vì vậy mà chưa phát triển ngôn
ngữ và trí tuệ của các cháu còn hạn chế. Khả năng chú ý có chủ định của trẻ còn
kém, trẻ dễ dàng tham gia vào trò chơi nhưng cũng nhanh chán, nhanh bỏ cuộc,
không hứng thú chơi. Vậy phải làm thế nào để tổ chức được các trò chơi dân
gian thực sự có hiệu quả, lôi cuốn và hấp dẫn được trẻ ?
Là một giáo viên mầm non, tôi luôn trăn trở và tìm các biện pháp để tổ chức
các trò chơi dân gian một cách có hiệu quả nhất. Sau đây tôi xin trình bày sáng
kiến kinh nghiệm của mình với đề tài: " Một số biện pháp để tổ chức tốt trò chơi
dân gian cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi tại trường Mầm non ... – Xã ... ".
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu.
* Mục đích:
Từ thực tế đề tài này hướng cho trẻ chơi tốt trò chơi dân gian.
* Nhiệm vụ:
+Từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2016 nghiên cứu tài liệu.
+Từ tháng 1 đến tháng 02 năm 2017 thu thập dữ liệu .
+Viết ban thảo vào đầu tháng 3 - 4 năm 2017 hoàn thành đề tài.
NỘI DUNG
Chương 1. Cơ sở lí luận:
Trò chơi dân gian là vốn quý của dân tộc đã gắn liền với đời sống lao
động và các cuộc hội hè ,đình đám của nhân dân. Đặc biệt đối với trẻ em, trò
chơi dân gian với những chức năng đặc biệt của nó đã mang lại cho thế giới trẻ
thơ nhiều điều thú vị bổ ích. Ngày nay, Ở thành thị các em được sống ở một xã
hội công nghiệp hóa – hiện đại hóa, chỉ quen với máy móc, công nghệ thông tin
và không có khoảng thời gian chơi cũng là thiệt thòi. Thế nhưng nơi mà tôi công
tác lại khác , nơi đây cuộc sống nghèo khổ, thiếu thốn, khác xa với thành thị
phồn hoa, trẻ ở đây thiếu thốn về mọi mặt, không có thông tin đại chúng, không
có máy móc công nghệ thông tin và hơn nữa không có thời gian cho chúng chơi
mà chúng phải đi làm nương, làm rẫy. Vì vậy việc tổ chức các trò chơi dân gian
cho trẻ ở đây là một điều rất cần thiết, bằng những thời gian hiếm hoi ở trường
tôi muốn cho các cháu được chơi hết mình, được cùng với các bạn hòa mình vào
3
các trò chơi dân gian mà nếu ở nhà chắc sẽ không được chơi. Hướng đến mục
tiêu “ Xây dựng trường học thân thiện – Học sinh tích cực” đưa trò chơi dân
gian vào nhà trường là điều hết sức cần thiết.
Đối với trường mầm non ... cũng như bản thân là một giáo viên trực tiếp
đứng lớp tôi nhận thấy việc đưa những làn điệu dân ca và những trò chơi dân
gian đến với trẻ là rất quan trọng nhưng trong thực tế việc tổ chức các trò chơi
dân gian và dạy hát các làn điệu dân ca địa phương ở trường mầm non còn nhiều
hạn chế chưa có những hình thức hấp dẫn thu hút trẻ, chưa có các chuyên đề đi
sâu nghiên cứu việc tổ chức trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo như thế nào. Với
những suy nghĩ trên tôi đã quyết định nghiên cứu và tìm ra một số biện pháp tổ
không còn hứng thú nữa.
Thời gian tổ chức cho trẻ chơi rất hạn hẹp vì một trò chơi không thể diễn
ra trong suốt cả một hoạt động của trẻ mà nó chủ yếu chỉ được lồng ghép và tích
hợp vào các hoạt động mà thôi.
Đa số trẻ kĩ năng về chơi trò chơi còn sơ sài, chậm, chưa tập trung. Nhiều
cháu còn chưa có thói quen nề nếp với lớp học , chưa tích cực trong khi cô tổ
chức hoạt động chơi trò chơi dân gian như: Các hoạt động còn vụng về. Vật liệu
còn hạn chế. Các buổi hoạt động ngoại khóa- dã ngoại quá ít. Đặc biệt là trẻ còn
hoạt động độc lập chưa biết giúp đỡ nhau.
Một số điểm trường lẽ như: Ba Lin- Kỳ Nơi, A Sau chưa có địa điểm sân
bãi rộng rãi, an toàn để tổ chức các trò chơi dân gian cho trẻ.
Giáo viên mới ra trường kinh nghiệm còn non trẻ nên khi tổ chức các hoạt
động cho trẻ chưa linh hoạt và sáng tạo.
Có những trò chơi vô cùng đơn giản nhưng cũng có những trò chơi phức
tạp, đòi hỏi người chơi phải tư duy trong quá trình chơi.
5
Trong lớp còn một số trẻ rụt rè, nhút nhát, thiếu tự tin và không thích
tham gia vào các hoạt động tập thể.
Các bậc cha mẹ chưa thường xuyên quan tâm đến việc cho con mình chơi
những trò chơi gì, nên chưa thường xuyên phối hợp với giáo viên trong việc
thực hiện tốt các nội dung giáo dục ở lớp cũng như ở nhà.
Mặc dù có rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức trò chơi dân gian cho trẻ
nhưng với sự cố gắng kiên trì của bản thân và sự quan tâm của ban giám hiệu
Nhà trường đã giúp tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ và tìm ra
biện pháp, hình thức tổ chức sáng tạo mang lại những bài học kinh nghiệm tiến
bộ cho bản thân và cho đồng nghiệp cùng thực hiện. Từ đó tôi đã tìm ra giải
pháp để giúp giáo viên tổ chức tốt trò chơi dân gian một cách tốt hơn.
trò chơi khó, bài đồng dao dài khó thuộc vào những chủ đề cuối năm.
Ví dụ: + Chủ đề Trường mầm non trò chơi: Oản tù tì, Tập tầm vông…
+ Chủ đề Bản thân trò chơi: Kéo cưa lừa xẻ, lộn cầu vồng….
Đối với kế hoạch tháng giáo viên cần xây dựng kế hoạch ngắn gọn xác
định nhiệm vụ cần trợ giúp để trẻ chơi tốt các trò chơi dân gian, phát triển trò
chơi từ dễ đến khó, nội dung chơi kỹ năng chơi, khả năng phối hợp và phát triển
tính tự lực sáng tạo của trẻ khi chơi cùng cô và các bạn.
Ví dụ: Chủ đề thế giới động vật trò chơi: Dải rế, dung dăng dung dẻ…
Đối với kế hoạch tuần thiết kế việc tổ chức chơi hàng ngày cho trẻ xen kẽ
vào các hoạt động trong ngày, các buổi chơi tự do chơi chuyển tiết, chơi ở hoạt
động ngoài trời, trong giờ đón trả trẻ. Giáo viên cần lên kế hoạch cụ thể về tên
trò chơi cách chơi luật chơi, đồ dùng trong khi chơi để dễ dàng thực hiện trong
các hoạt động hàng ngày của trẻ.
7
Ví dụ: Trong giờ hoạt động ngoài trời cho trẻ chơi : Bịt mắt bắt dê; ...
* Lựa chọn các trò chơi dân gian phù hợp với lứa tuổi của trẻ.
Tôi luôn cân nhắc lựa chọn cho trẻ chơi các trò chơi có luật chơi và cách
chơi đơn giản, dễ nhớ, dễ hiểu.
Bên cạnh đó, trong trường mầm non lại có sự phân chia trẻ theo nhiều độ
tuổi. Mỗi độ tuổi lại có mức độ nhận thức và khả năng chú ý có chủ định khác
nhau. Chính vì thế, các trò chơi cũng cần phải được lựa chọn cho phù hợp với
từng độ tuổi. Cụ thể như sau:
- Với trẻ lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo bé ( từ 2 đến 4 tuổi ): khả năng chú
ý có chủ định còn kém, nhận thức còn đơn giản. Vì vậy trẻ chỉ có thể chơi được
các trò chơi đơn giản như: " Lộn cầu vồng"; " Chi chi chành chành", " Tập tầm
vông", " Nu na nu nống", " Dung dăng dung dẻ"...
- Với trẻ mẫu giáo nhỡ và lớn ( từ 4 đến 6 tuổi ): khả năng chú ý có chủ
không có đồ dùng đồ chơi phục vụ cho trò chơi để từ đó có thể chuẩn bị đầy đủ
các yếu tố cần thiết cho trò chơi.
9
- Dạy trẻ đọc thuộc lời ca; lời đồng dao có trong trò chơi:
Một đặc điểm đặc trưng của trò chơi dân gian đó là khi chơi trẻ thường vừa
chơi vừa hát hoặc đọc lời đồng dao nào đó. Mặc dù không phải bài đồng dao nào
cũng có ý nghĩa, song bài nào cũng phù hợp với tư duy hồn nhiên của trẻ.
Ví dụ như: chơi " Chi chi chành chành", trẻ đọc :
" Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa đứt cương
Tam vương ngũ đế...".
Bài đồng dao dường như chẳng có mạch ý nào rõ ràng, nhưng thiếu nó thì
trò chơi không thể tiến hành.
Hay như chơi " Rải ranh" trẻ hát : " Rải ranh
Bẻ cành
Hái ngọn
Chọn đôi".
Cùng với lời hát trong trẻo là bàn tay rải những viên sỏi một cách khéo
léo, tung viên cái lên, nhặt một hoặc hai viên con dưới đất, rồi lại giơ tay đỡ viên
cái vừa rơi xuống.
Trò chơi chỉ có thể được tổ chức khi trẻ đã thuộc lời đồng dao. Chính vì
vậy, tôi thường cho trẻ làm quen với lời đồng dao của các trò chơi dân gian
trước khi hướng dẫn trẻ chơi vào các thời điểm trong ngày của trẻ như: hoạt
động chiều, hoạt động ngoài trời...Khi trẻ đã thuộc lời đồng dao, tôi tổ chức cho
10
trẻ nhận biết được đặc điểm đặc trưng của một số con vật và đồ vật quen thuộc.
Những câu hát ngược có tính chất đánh lừa nhận thức, thử thách sự năng
động của trí tuệ, khiến trẻ muốn hiểu đúng sự vật thì phải chuyển ngược lại:
" Non cao đầy nước
Đáy biển đầy mây
Dưới đất lắm mây
Trên trời lắm cỏ
Người thì có mỏ
Chim thì có mồm..."
" Chuyền thẻ" là một trò chơi dân gian dạy trẻ làm toán cộng hay trừ. Đó
là bài tập đếm từ 1 đến 10 của trẻ. Trẻ nhóm các nhóm theo trật tự cao dần lên
và cộng lại trong phạm vi 10: bắt đầu từ bàn một "cái mốt, cái mai, cái trai, cái
hến..." sau đó là nhóm đôi và các nhóm cao hơn " đôi tôi, đôi chị...", "ba lá đa,
ba lá đề...", "tám quả trám, hai lên chín"...Bài tập đó có thể giúp trẻ đếm thành
thạo trong phạm vi 10.
- Với môn âm nhạc nên chọn các trò chơi có giai điệu và lời hát như các
trò chơi: " Tập tầm vông" , " Hát chuyền sỏi", "Đồng dao chăn trâu xứ Quảng"...
Ngoài ra khi lựa chọn các trò chơi dân gian trong hoạt động chung, một điều cần
đặc biệt lưu ý đó là: phải lựa chọ trò chơi phù hợp với đề tài và chủ điểm của bài
dạy.
Chẳng hạn như:
13
Chủ điểm " Thế giới động vật" có thể tổ chức các trò chơi: " Đồng dao hỏi
tuổi xứ Quảng", " Đồng dao chăn trâu xứ Quảng", " Bịt mắt bắt dê", " Phụ đồng
ếch", " Thi tìm những con vật có từ láy"...
Chủ điểm " Thế giới thực vật" có thể cho trẻ chơi các trò chơi: " Trồng nụ
trồng hoa", " Mít mật mít gai", " Làm nón mão bằng lá"...
Trẻ đã biết tự tổ chức chơi các trò chơi dân gian với các bạn trong lớp.
Qua việc thường xuyên được tham gia vào các trò chơi dân gian, nhận
thức và thể lực của các trẻ trong lớp tôi được nâng cao rõ rệt. Trẻ nhanh nhẹn,
năng động, tự tin trong giao tiếp với mọi người.
Trò chơi dân gian còn giúp các trẻ trong lớp tôi thêm gắn bó với nhau,
nâng cao tinh thần đoàn kết và ý thức tập thể của trẻ.
3.2.3. Đối với các bậc cha mẹ học sinh:
- Các bậc phụ huynh đã thường xuyên quan tâm đến việc con mình chơi
những trò chơi gì và biết phối hợp với giáo viên trong việc thực hiện tốt các nội
dung giáo dục ở lớp cũng như ở nhà.
3.3 Kết quả nghiên cứu:
100% trẻ rất hứng thú và yêu thích các trò chơi dân gian.
100% trẻ được mở rộng kiến thức và có thêm rất nhiều hiểu biết về các trò
chơi dân gian, các phong tục truyền thống của dân tộc.
100% đội ngũ giáo viên đã rất tận tâm, nhiệt huyết, ham học hỏi, tìm tòi,
khám phá, về cách tổ chức tốt các trò chơi dân gian.
15
Đa số các bậc phụ huynh đã thường xuyên quan tâm đến con em và đã
biết phối hợp với giáo viên để nâng cao chất lượng giáo dục cho trẻ.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua việc nghiên cứu đề tài trên, tôi đã rút ra được một số bài học kinh
nghiệm sau:
Trò chơi dân gian có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển của trẻ
nhỏ. Trò chơi dân gian vừa giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu vui chơi, vừa góp phần
nâng cao nhận thức, phát triển các giác quan, tăng cường thể lực cho trẻ.
Cần phải tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi dân gian để phát triển ở trẻ tinh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tham khảo qua Internet
- Phương pháp tổ chức trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo lớn 5- 6 tuổi
18
PHỤ LỤC
Trang
MỞ ĐẦU…………………………………..……………………..……………...1
1. Lý do chọn đề tài……………………………...……………………………1
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu……………………….…..1
3. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………………2
4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm…………………………………………..2
5. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………..2
6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu………………………………………......2
NỘI DUNG………………………………………………………………..........3
Chương 1. Cơ sở lí luận………………………………………………………3
Chương 2. Thực trạng và vấn đề nghiên cứu………………………………4
2.1 Thuận lợi…………………………………………………………………4
2.2 Khó khăn…………………………………………………………………4
Chương 3. Các biện pháp và kết quả thực hiện…………………………….6
3.1 Các biện pháp tổ chức trò chơi dân gian cho trẻ MGL 5- 6 tuổi tại
Trường Mầm non ...- Xã ...…………………………………………...6
3.2 Kết quả thực hiện………...……………………...……………………..15
3.3 Kết quả nghiên cứu………………………………...…………………..15
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ…………………………………..…………….16
1. Kết luận………………………………………………………………......16