Thực trạng và giải pháp xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường trong giai đoạn hiện nay - Pdf 43

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “cán bộ là cái gốc của mọi công
việc”, “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Đảng ta
luôn xác định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn
liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ” 1. Do đó, xây dựng đội
ngũ cán bộ luôn là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng trong bất cứ thời
kỳ lịch sử nào.
Ngay từ trước khi thành lập Đảng, dưới hình thức các tổ chức cách mạng
yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng công tác đào tạo và xây dựng lực
lượng cán bộ để lãnh đạo nhân dân đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, dành
độc lập, thống nhất đất nước cũng như trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi
mới đất nước. Hiện nay, trước những yêu cầu của nhiệm vụ mới, công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ càng trở nên cấp bách. Đại hội XII của Đảng đã xác định:
“Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ
năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ” 2.
Việc xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở cũng ngày càng được quan tâm,
có vị trí quan trọng trong công tác cán bộ. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
Đảng lần thứ Năm (khóa IX) khẳng định: “Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò
rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước... Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở
là nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng hệ thống chính trị hiện nay.”
Cơ sở là nơi cuộc sống có nhiều diễn biến phong phú, sinh động, đa dạng
và phức tạp. Để thực hiện nhiệm vụ, thực sự là cầu nối giữa nhân dân với Đảng,
Nhà nước, để đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với nhân
dân... đội ngũ cán bộ cơ sở phải có năng lực tốt về trình độ, phẩm chất, bản lĩnh
và kinh nghiệm. Để đáp ứng yêu cầu đó, những năm qua, đã ban hành và tổ chức
thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ cơ sở. Tuy nhiên, việc này vẫn còn nhiều bất cập; chất lượng đội ngũ cán bộ
cơ sở vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém; hoạt động của hệ thống chính trị cấp

nay.
2.4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung tìm hiểu cơ sở khoa học và giải pháp cho hoạt động xây
dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường thuộc địa bàn Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng từ năm 2000 đến nay.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
3.1. Cơ sở lý luận

2


Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa
duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam; kết hợp tham khảo kết quả của các công trình nghiên cứu về khoa học tổ
chức, xây dựng Đảng đã có, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới.
3.2. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên quan điểm thực tiễn, quan điểm phát triển, quan điểm toàn
diện, quan điểm lịch sử - cụ thể.
Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: lôgic - lịch
sử, phân tích - tổng hợp, phương pháp thực chứng, tổng kết thực tiễn, điều tra xã
hội học, thống kê, phỏng vấn…
8. Kết cấu Báo cáo Tổng quan của đề tài:
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được bố
cục làm 3 chương. Cụ thể như sau:
Chương I. Cơ sở lý luận về đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường và công
tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường.
Chương II. Cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo phường hiện nay.
Chương III. Một số giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo phường trong giai đoạn hiện nay.

lượng thực tiễn” để hiện thực hoá các tư tưởng, tổ chức thực hiện ý tưởng trong
cuộc sống. Trong lĩnh vực hoạt động chính trị, “cán bộ” là những người “đứng
mũi chịu sào” trong việc hoạch định, thực thi các chính sách, quyết định không
chỉ của riêng lĩnh vực hoạt động chuyên ngành, mà hơn ai hết, họ là những
người đầu tiên chịu trách nhiệm về sự phát triển của xã hội.
Thời kỳ Mác - Ăngghen, thực tiễn phong trào công nhân và lý luận cách
mạng đang ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành và phát triển. Do đó, các
ông chưa đề cập sâu sắc đến vai trò người cán bộ cách mạng. Tuy nhiên, có thể
nói, tư tưởng bao trùm về “những người sử dụng lực lượng thực tiễn” đã thực sự
phản ánh thoả đáng và tổng quát vị trí, vai trò của con người - hoạt động. Trong
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, các ông chỉ rõ: “người cộng sản là bộ phận
kiên quyết nhất trong các đảng công nhân…, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy
phong trào tiến lên”…2.
Đến thời kỳ Lênin, phong trào vô sản đã phát triển đến giai đoạn mới. Lúc
này, cách mạng đã vượt qua thời kỳ lý luận về mâu thuẫn giai cấp, sứ mệnh giai
cấp, mà công cuộc “thực hiện tư tưởng” đã nhanh chóng và khẩn thiết đặt ra nhu
cầu xây dựng “những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” để đảm đương sứ
mệnh “biến tư tưởng thành hiện thực”. Tổng kết các phong trào thực tiễn, Lênin
khẳng định: “Không một phong trào cách mạng nào mà lại vững chắc được nếu
*

vật chất trong sự đối lập với tinh thần (nghĩa triết học): hoạt động hiện thực, thực tiễn, có quá trình diễn biến
thực trong đời sống. Không chỉ là tư duy, ý tưởng. (TG)
2
C.Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, 1995, Hà Nội, tập 4, tr.614, 615.

4


không có một tổ chức ổn định và duy trì được tính liên tục gồm những người


Lênin toàn tập, NXB Tiến Bộ Matxcơva, tập 19, tr.158.
Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, Tập 5, tr.269.
5
Sđd, Tập 6, tr.46.
6
Sđd, Tập 5, tr.54
7
Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, Tập 5, tr.269.
4

5


Đối với đội ngũ cán bộ cách mạng, bên cạnh chữ “tài” như một yêu cầu tự
nhiên về mặt chuyên môn của người cán bộ, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh chữ
“đức”. Theo Người, “đức là gốc”: “Có tài phải có đức. Có tài không có đức,
tham ô hủ hoá có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong
chùa không giúp ích gì được ai” 8. Đạo đức là nền tảng của người cán bộ cách
mạng, giống như gốc của cây, nguồn của sông. Đó là nguồn mạch của tinh thần,
ý chí, lý tưởng và hành động của người cán bộ. Không có cái đức, cái tâm trong
sáng, người cán bộ không thể xả thân vì cách mạng, không thể phục vụ nhân dân.
Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng “vừa “hồng” vừa “chuyên” là mục
tiêu và nội dung cơ bản của công tác cán bộ.
Xây dựng đội ngũ cán bộ trước hết phải đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính
trị. Người căn dặn: "Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng
cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách
mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của
mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình"9.
Tuy nhiên, xây dựng đội ngũ cán bộ không chỉ dừng lại ở lý luận, mà “lý

Từ khi thành lập đến nay, các văn kiện của Đảng và Nhà nước luôn nói rõ
vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ. Đặc biệt, bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với
sự khởi động của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế,
những bức thúc thực tiễn càng làm bật lên tầm quan trọng của công tác cán bộ.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã chỉ ra: "đổi mới đội
ngũ cán bộ có nghĩa là đánh giá, lựa chọn, bố trí lại, đi đôi với đào tạo, bồi
dưỡng để có một đội ngũ cán bộ có đủ những tiêu chuẩn về phẩm chất và nǎng
lực lãnh đạo, quản lý, ngang tầm nhiệm vụ"13.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng đã chỉ ra phương hướng
và nhiệm vụ của công tác cán bộ: "Đảng chǎm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng
viên trong sạch, có phẩm chất, nǎng lực, có sức chiến đấu cao, Đảng quan tâm
bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân
dân"14.
Đến Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá VIII, Chiến lược cán bộ khẳng
định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với
vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ, là khâu then chốt trong công
tác xây dựng Đảng”15. Đặc biệt, Đảng đã xác định mục tiêu: “xây dựng đội ngũ
cán bộ các cấp từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu, có phẩm
chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp
công nhân, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,...”16.
Nghị quyết Đại hội IX tiếp tục nhấn mạnh: “đề ra nhiệm vụ “xây dựng đội
ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp, vững vàng về
chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và
năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân”17.
Cũng trong nhiệm kỳ Đại hội VIII và Đại hội IX của Đảng, nhiều nghị
quyết chuyên đề, các quy định, quy chế về công tác cán bộ và về hệ thống chính
trị cơ sở đã được xây dựng và liên tục bổ sung, hoàn chỉnh nhằm nâng cao tính
hiệu quả, đồng bộ của công tác cán bộ, đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xây dựng
13


đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ. Có cơ chế, chính sách phát
hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài”19.
Có thể thấy, trong suốt chiều dài lịch sử của mình, Đảng ta chưa lúc nào
coi nhẹ công tác cán bộ. Mỗi thời kỳ lịch sử, với những điều kiện khác nhau,
yêu cầu khác nhau, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng được triển khai
ở những mức độ, phương thức, nội dung, tính chất, mục tiêu cụ thể khác nhau.
Hệ thống chính trị cơ sở là một bộ phận của hệ thống chính trị, thậm chí là
một phần quan trọng như Nghị quyết Hội nghị Trung ương Năm (khoá IX) nhận
định - “các cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú,
sinh sống. Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức
và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân,
huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng
đồng dân cư”20. Do đó mà đội ngũ cán bộ cơ sở là lực lượng rất quan trọng của

18

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ Ba khoá XI, 2011.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ Ba khoá XII, 2016.
20
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm khoá VIII, trang 19.
19

8


Đảng, Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị chung của hệ
thống.
2. Cán bộ lãnh đạo phường và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo phường.


+ Phường mới chuyển từ xã sang;
+ Phường được tổ chức ở khu đô thị mới hiện đại.
- Theo đặc điểm của loại thành phố, thị xã mà phường trực thuộc, có 3 loại:
+ Thứ nhất là phường thuộc quận ở các thành phố trực thuộc Trung
ương (phường ở các quận nội thành Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố
Hồ Chí Minh, Cần Thơ).
+ Thứ hai là phường thuộc thành phố cấp 2 trực thuộc tỉnh (phường
ở thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh, ở thành phố Vinh thuộc tỉnh Nghệ
An, ở thành phố Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế, ở thành phố Nha Trang thuộc
tỉnh Khánh Hòa, ở thành phố Buôn Mê thuột thuộc tỉnh Đắk Lắk…).
+ Thứ ba là phường thuộc các thị xã ở các tỉnh, thành (như phường
thuộc thị xã Đồ Sơn - thành phố Hải Phòng...).
Sự đa dạng cũng cho thấy một điều không thể có một quyết định khuôn
mẫu về công tác cán bộ cho tất cả các loại hình phường, nếu muốn đạt tới một
giá trị cụ thể và thực tế nào đó.
Như vậy, phường cũng là cấp cơ sở như xã và thị trấn. Tuy nhiên, so với
hai loại hình đơn vị hành chính cơ sở đó, phường có một số đặc điểm đặc thù sau:
Về vị trí hành chính: Phường nằm trong đô thị. Đô thị là trung tâm chính
trị, hành chính, kinh tế, văn hoá, xã hội; là hạt nhân và động lực thúc đẩy sự phát
triển của địa phương, tỉnh, thành phố.
Về kinh tế: kinh tế ở phường là kinh tế đa ngành, chủ yếu là kinh tế hàng
hoá phi nông nghiệp, tập trung trong các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thương mại, dịch vụ. Các thành phần kinh tế cũng hết sức đa dạng với
sự có mặt của các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các công ty
liên doanh, công ty cổ phần, các văn phòng đại diện của các công ty trong nước
và ngoài nước v.v. Đặc trưng này thể hiện rõ nét ở các thành phố lớn có bề dày
truyền thống: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng. Đó cũng là đặc
thù của các thành phố công nghiệp - dịch vụ mới: Hạ Long, Nha Trang, Vũng
Tàu, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Cần Thơ.... Còn một bộ phận phường mới chuyển

sống, dân cư trên địa bàn như chính quyền xã, thị trấn, song có nhiệm vụ rất
quan trọng trong quản lý đô thị, cần phân định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm
và tạo điều kiện để chính quyền phường thực hiện tốt nhiệm vụ, đặc biệt là trong
việc quản lý, thực hiện việc quy hoạch, quản lý đất đai, nhà ở, hộ tịch, vệ sinh
môi trường, trật tự đô thị”36.
1.2.1.2. Chức năng, vai trò của phường.

36

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, 2002, tr.172.

11


Hệ thống chính trị cấp phường bao gồm: đảng uỷ phường, chính quyền
nhân dân phường (hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân) và các đoàn thể chính
trị - xã hội ở địa phương.
Cũng như xã và thị trấn, phường là cấp cơ sở có chức năng, nhiệm vụ tổ
chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các mục tiêu
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở cơ sở. Hiện nay, tại các thành
phố lớn đang từng bước thực hiện phân cấp quản lý cho chính quyền phường.
Theo đó, chính quyền phường chủ yếu thực hiện chức năng quản lý và hướng
dẫn thi hành pháp luật với nhiệm vụ cụ thể trong các lĩnh vực:
+ Quản lý dân cư, hộ tịch, hộ khẩu và các chính sách khác của Nhà nước
có liên quan đến biến động dân số.
+ Quản lý đất đai, trật tự xây dựng, trật tự đô thị.
+ Quản lý an ninh, trật tự an toàn xã hội và thi hành luật nghĩa vụ quân sự.
+ Thực hiện chính sách lao động, thương binh, xã hội và các chính sách
khác có liên quan.
+ Thu thuế đối với các đối tượng kinh doanh dưới vốn pháp định37.

Hai là, tất cả các chủ trương, chính sách của cấp trên thực hiện có hiệu
quả hay không đều phải thông qua chính quyền phường.
Ba là, hoạt động của chính quyền phường có ảnh hưởng lớn tới uy tín của
Đảng và nhà nước đối với nhân dân, nhân dân đánh giá uy tín của Đảng và Nhà
nước thông qua việc chính quyền giải quyết các công việc hằng ngày của dân,
khả năng đáp ứng các nhu cầu dân sinh, dân chủ của nhân dân.
Bốn là, hệ thống chính trị có phát huy được vai trò lãnh đạo, tổ chức, đoàn
kết nhân dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu xây dựng kinh tế - xã hội của địa
phương hay không tuỳ thuộc rất lớn vào chính quyền cơ sở.
Phường là bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước, thực hiện chức
năng quản lý hành chính nhà nước ở cơ sở.
Theo qui định của pháp luật thì Hội đồng nhân dân phường có quyền
quyết định các biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, chính sách phát triển văn
hoá, xã hội, y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng trên phạm vi địa phương. Ngoài
ra, Hội đồng nhân dân còn bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân phường, thực hiện việc giám sát, chất vấn Uỷ ban nhân dân phường trong
việc thực hiện các nghị quyết và tuân thủ pháp luật. Uỷ ban nhân dân phường là
cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân địa phương, đồng thời là cơ quan
chấp hành của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp trên.
Trong thực tế, chúng ta thấy đối với phường, địa giới hành chính chỉ có ý
nghĩa trong phân cấp quản lý hành chính Nhà nước và không quyết định được
tính độc lập của một đơn vị hành chính. Chính quyền phường không quản lý
toàn diện kinh tế, các lĩnh vực khác đều được quản lý theo ngành dọc. Chính
quyền phường chỉ thực hiện một số việc quản lý hành chính Nhà nước theo pháp

13


luật và một số nhiệm vụ cấp trên giao. Nhưng có thể nói rằng cấp phường đóng
vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của thành phố, thực tiễn đã chỉ ra


Lê Quang Thưởng, , Sách tra cứu các mục từ về tổ chức, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.

14


Chủ tịch uỷ ban nhân dân: là người chịu trách nhiệm chính toàn bộ công
tác chính quyền nhà nước ở địa phương. Có trách nhiệm tổ chức thực hiện
nghiêm túc các mặt công tác do cấp trên chỉ đạo, chương trình công tác của đảng
ủy về mặt chính quyền đúng pháp luật...
Phó chủ tịch uỷ ban nhân dân: Trước năm 1987 và từ năm 2004 đến nay,
khối phường được biên chế hai chức danh phó chủ tịch uỷ ban nhân dân: một
phó chủ tịch phụ trách đô thị, chịu trách nhiệm chính về công tác quản lý đất
đai, quản lý trật tự xây dựng, quản lý thị trường, vệ sinh môi trường...
Trên thực tế, ở nhiều nơi bí thư đảng ủy phường đồng thời là chủ tịch ủy
ban nhân dân hoặc đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân. Với mô hình này,
thẩm quyền và trách nhiệm của bí thư càng lớn. Ngoài công tác đảng, bí thư
đảng ủy kiêm chủ tịch ủy ban nhân dân hoặc chủ tịch hội đồng nhân dân còn
phải chịu trách nhiệm lãnh đạo ủy ban hoặc hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm
điều hành hoạt động của đời sống xã hội địa phương hoặc quyết sách những vấn
đề lớn của địa phương; duy trì công tác tiếp xúc cử tri cũng như hoạt động của
hội đồng, các tổ hội đồng hiệu quả, đúng luật định.
Cán bộ lãnh đạo được giao những thẩm quyền, trách nhiệm nhất định gắn
với chức vụ người lãnh đạo đảm nhiệm. Thẩm quyền càng cao thì trách nhiệm
càng nặng nề.
Trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường hiện nay, tại các đô thị lớn,
tốc độ đô thị hoá ngày càng cao và mức tăng dân số về mặt cơ học khiến cho
nhiệm vụ quản lý của chính quyền phường cũng phải chủ động và linh hoạt hơn
cho phù hợp thực tiễn. Lúc này vai trò đầu tàu, “đứng mũi chịu sào” của đội ngũ
cán bộ lãnh đạo phường càng cần phải phát huy. Để thực hiện tốt chức trách,

Về vị trí của cán bộ lãnh đạo phường: là người giữ vị trí trung tâm, định
hướng trong lãnh đạo, quản lý, điều khiển các hoạt động của đảng bộ, chính
quyền phường, có tác động trực tiếp và quyết định đến sự phát triển trên các lĩnh
vực kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, an ninh, quốc phòng... Chủ trì toàn bộ các
công việc của cấp ủy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân. Là người nắm các
khâu trọng yếu, trọng tâm và những vấn đề mới nảy sinh, cơ mật trong đời sống
xã hội. Cán bộ lãnh đạo phường là trung tâm đoàn kết trong đảng bộ phường mà
trực tiếp là đảng ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, đồng thời là nguồn cán
bộ bổ sung cho cấp trên, nhất là cấp quận.
2.3. Ý nghĩa và căn cứ khoa học của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ
lãnh đạo phường.
Căn cứ khoa học của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường
chính là những cơ sở lý luận và thực tiễn làm nền tảng cho việc xây dựng và
triển khai những nội dung hiện thực của hoạt động xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo phường. Để xác định được những nội dung, quy trình xây dựng đội ngũ cán

16


bộ phường một cách khoa học và sát thực, khả thi, có ý nghĩa trong thực tế, phải
căn cứ trên những yếu tố sau:
Thứ nhất, vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường và ý nghĩa công tác
xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường trong thực tiễn hoạt động của cả hệ
thống - đây là điểm tạo nên nhu cầu và ý nghĩa tự thân, tất yếu của công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo đối với cấp phường;
Thứ hai, phải căn cứ vào nhiệm vụ, trách nhiệm được thể chế hoá của
phường và cán bộ phường - yếu tố giúp xác định được những đòi hỏi về mặt
nguyên tắc đối với cán bộ lãnh đạo phường;
Thứ ba, căn cứ vào những vận động và đòi hỏi của cuộc sống thực tiễn
hiện tại - yếu tố giúp xác định những yêu cầu về mặt thực tiễn đối với cán bộ

hỏi khác nhau đối với hệ thống chính trị cấp cơ sở và đội ngũ cán bộ cơ sở, nên
những đòi hỏi đặt ra đối với công tác cán bộ cấp cơ sở cũng khác nhau. Giai
đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, xuất phát từ
những đặc thù riêng của mình, cũng đang đặt ra những yêu cầu riêng của nó đối
với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường.
1.1. Yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối
với hệ thống chính trị phường.
Trong bối cảnh của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đời
sống kinh tế - xã hội của phường đang đứng trước những vận động mạnh mẽ.
- Về kinh tế:
Kinh tế công nghiệp - dịch vụ phát triển mạnh, mức độ hội nhập ngày
càng sâu rộng, tính giao lưu, biên độ mở của thị trường ngày càng lớn, thể hiện
trực diện trên địa bàn phường.

18


Các cơ sở sản xuất, cơ sở thương mại, giao dịch, dịch vụ thuộc mọi lĩnh
vực: tài chính, ngân hàng, công thương nghiệp, du lịch, giải trí v.v. xuất hiện
ngày càng nhiều với quy mô, trình độ khác nhau; tạo điều kiện cho các thành
phần kinh tế xuất hiện ngày càng đa dạng và đầy đủ với tất cả những đặc trưng
ngày càng hoàn thiện rõ nét của nó.
Cùng với sự phát triển của đô thị, công nghiệp, tính hiện đại, chuyên
nghiệp của các hoạt động kinh tế - xã hội gia tăng, đặc biệt là kinh tế dịch vụ du lịch - thương mại. Đây cũng chính là xu hướng quy hoạch phát triển của các
phường nội thành. Điều này đòi hỏi không chỉ các doanh nghiệp, các thành phần
kinh tế hoạt động ở tầm cao mới của khoa học - công nghệ và văn hoá, mà còn
đòi hỏi ở hoạt động quản lý của hệ thống chính trị các phường tính chuyên
nghiệp, khoa học, nhạy bén.
- Về xã hội:
Cùng với xu hướng đô thị hoá mạnh theo hướng hiện đại và chuyên

chức hệ thống, về cán bộ, về trình độ năng lực, về chuyên môn nghiệp vụ, về
văn hoá ứng xử, về khoa học – kỹ thuật… Tuy nhiên, có thể nhận thấy một
nguyên tắc chung là những vấn đề đó nhiều khi vượt quá khả năng giải quyết,
xử lý của chính quyền phường đơn lẻ, dù cho nhiều vấn đề thuộc về thẩm quyền
của phường theo luật định.
1.2. Một số yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường trong tình
hình hiện nay.
Cán bộ lãnh đạo phường là những người đang hàng ngày, hàng giờ phải
giải quyết một khối lượng công việc rất lớn, đa dạng, phức tạp nhằm thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá của địa phương và đất nước. Họ là
một trong những yếu tố then chốt quyết định sự vững mạnh, thành công của
phường. Điều này thể hiện trong thực tế là cùng một tổ chức bộ máy, cùng một
cơ chế, chính sách giống nhau nhưng ở phường nào có cán bộ lãnh đạo giỏi thì
phường đó kinh tế, xã hội phát triển, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được
giao và ngược lại.
Tuy nhiên, để phát huy được vai trò của người “đứng mũi chịu sào” trong
giai đoạn hiện nay, hoàn thành được những nhiệm vụ nhân dân uỷ quyền, phục
vụ nhân dân hiệu quả, người cán bộ lãnh đạo phường trước hết phải thích ứng
với những vận động của tình hình mới, đáp ứng được những đòi hỏi của thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Một số yêu cầu chung:
Về phẩm chất chính trị: Người cán bộ lãnh đạo phải luôn tin tưởng và
trung thành với Đảng, với chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; thực
hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước.
Kiên quyết đấu tranh bảo vệ Đảng; chống chủ nghĩa cơ hội, bè phái, cá nhân và
các biểu hiện tiêu cực khác trong Đảng.

20



sự trưởng thành về kinh nghiệm và vốn sống về cơ bản là do cá nhân trực tiếp
tham gia trực tiếp vào công việc, trực tiếp giải quyết những tình huống do chính

21


thực tiễn đặt ra. Thông qua thử thách trong thực tiễn công tác mà cán bộ ngày
càng trưởng thành, hiệu suất công tác ngày càng cao.
Về đạo đức: người cán bộ lãnh đạo phải là những người có đạo đức trong
sáng, lối sống lành mạnh. Đây là yêu cầu chung đối với cán bộ, công chức, và
càng là yêu cầu bắt buộc đối với người cán bộ lãnh đạo ở bất cứ cấp nào. Từ
xưa, chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta đã đúc kết đạo đức cách mạng của
người cán bộ trong bốn chữ: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, mà qua bao biến động
của thời cuộc vẫn giữ nguyên giá trị. Ngày nay, bốn chữ đó tiếp tục là yêu cầu
đạo đức chuẩn mực của người cán bộ, trước hết là trong công việc.
Cần là cần cù, chịu khó, nhưng sâu sắc hơn là ý thức luôn cố gắng hoàn
thành nhiệm vụ, kể cả khi gặp những điều kiện khó khăn, phức tạp - đó chính là
tinh thần trách nhiệm và kỷ luật trong công việc. Kiệm không chỉ là tiết kiệm
chung chung, tiết kiệm cho cá nhân mà quan trọng hơn, sâu xa hơn là tiết kiệm
thời gian, tiền bạc, công sức... của người lao động, của nhân dân, của đất nước.
Đây là đức tính cần thiết khi mà chúng ta đang tập trung mọi nguồn lực cho
công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Liêm tức là trong sạch,
không tham nhũng, không lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để mưu lợi
riêng, không sách nhiễu nhân dân và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng.
Chính tức là ngay thẳng, công tâm, làm theo kỷ cương phép nước, theo đúng
pháp luật.
Về phong cách làm việc: Khoa học và dân chủ. Yêu cầu quan trọng nhất
hiện nay đối với người cán bộ lãnh đạo là tính dân chủ trong công tác. Càng gần
cơ sở, người cán bộ càng cần tác phong dân chủ, phương pháp dân chủ. Ở đây,
tính dân chủ trước hết là biết lấy lợi ích của nhân dân, của đất nước làm mục

quyền. Nắm chắc tình hình thực tiễn địa phương trên các mặt, đặc biệt trên lĩnh
vực phụ trách.
Thứ ba, về phong cách lãnh đạo: Người cán bộ lãnh đạo ở cơ sở phường
cần đề cao tác phong làm việc dân chủ, bám sát thực tiễn, nhanh nhạy, sáng tạo
(trong xử lý tình huống), quyết đoán, dám nghĩ dám làm.
Thứ tư, các năng lực và phẩm chất cá nhân khác:
Nếu trình độ lý luận và chuyên môn có thể đào tạo được, thì những năng
lực sau lại thuộc về tư chất vốn có của mỗi người mà một người cán bộ lãnh đạo
ở cơ sở rất cần. Đó là năng lực tổ chức thực hiện, năng lực vận động quần
chúng, năng lực xử lý tình huống.
Hoạt động tác nghiệp của người cán bộ có tính tương tác cao độ với quần
chúng nhân dân, nếu không muốn nói sự thành công của nhiều công việc phụ

23


thuộc một phần lớn vào sự ủng hộ, tham gia của nhân dân. Điều này quan hệ
mật thiết với tác phong làm việc dân chủ của người lãnh đạo.
Một điểm nổi bật nữa của đời sống cơ sở đã được đề cập nhiều trong các
phân tích bên trên là tính đa dạng, biến động của thực tiễn luôn đặt ra những tình
huống hết sức phong phú, không có trong sách vở.
Thứ năm, cán bộ lãnh đạo phường phải là người có sức khoẻ tốt, đủ sức
làm việc liên tục trong nhiệm kỳ và hoàn thành nhiệm vụ cấp trên và nhân dân
giao phó.
Thứ sáu, cán bộ lãnh đạo phường phải là người hết lòng vì sự nghiệp cách
mạng, tận tuỵ phục vụ nhân dân, gắn bó với nhân dân, sẵn sàng làm “người đầy
tớ” của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy; không cậy quyền để
mưu cầu lợi ích riêng, biết tiếp thu, lắng nghe sự phê bình của quần chúng nhân
dân và chịu sự giám sát của nhân dân.
1.3. Một số yêu cầu đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo

đồng thời sự luân chuyển trong nội bộ lớn, nên người cán bộ lãnh đạo luôn phải
có tầm bao quát chung. Chính vì vậy, những ưu tiên xác định trên đây cũng có
thể coi là những tiêu chí được đề cao chung cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo
phường, cũng là những ưu tiên mà công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo
phường cần tính đến.
Muốn vậy, các cấp uỷ đảng, các cơ quan chuyên môn về công tác cán bộ
cần phải tiếp tục quán triệt, đề xuất các phương án chiến lược về xây dựng đội
ngũ cán bộ lãnh đạo phường trong thời kỳ mới. Công tác đánh giá cán bộ phải
được tiếp tục thực hiện một cách khách quan và khoa học; việc tuyển dụng, bổ
nhiệm cán bộ phải được tiến hành một cách công khai và dân chủ; tăng cường
hơn nữa công tác qui hoạch, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, thực hiện tốt việc kết
hợp đào tạo, bồi dưỡng với thử thách, rèn luyện và luân chuyển cán bộ. Chuyển
quy trình ngược: tuyển chọn - bố trí sử dụng - đào tạo sang quy trình thuận:
tuyển chọn - đào tạo - bố trí sử dụng. Các nội dung, quy trình của công tác cán
bộ đều phải hướng tới các nội dung ưu tiên nhằm thoả mãn trước hết cái cần
của thực tiễn chứ không phải là thoả mãn cái đủ hoàn thiện của mô hình lý
tưởng - đó là giá trị thực tế của công tác cán bộ.
2. Thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường trước yêu cầu của tình
hình mới.
2.1. Thực trạng trình độ học vấn, cơ cấu của đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường.
Khoảng mười năm trước đây, đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường chủ yếu là
cán bộ hưu trí, kể cả chức danh bí thư đảng uỷ, chỉ trừ chức danh chủ tịch uỷ
ban nhân dân. Điều này đến nay tuy đã có tiến bộ hơn nhưng hiện vẫn đang tồn
tại phổ biến ở nhiều xã, phường, nhất là các phường thuộc các thành phố lớn.
Khảo sát thực tế tại thành phố Hà Nội những năm gần đây cho thấy, cơ cấu đội

25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status