Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến khả năng sinh trưởng và phát triển của tôm chân trắng (litopenaeus vannamei) nuôi tại huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế - Pdf 43

EBOOKBKMT.COM

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, song song với việc phát triển các ngành kinh tế
khác, nghề nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế
nói riêng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần nâng
cao đời sống và tạo việc làm cho người dân lao động. Trong đó tôm là mặt
hàng xuất khẩu quan trọng, được ưa chuộng trên thế giới.
Tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) là đối tượng nhập nội, có nguồn
gốc từ châu Mỹ. Tôm chân trắng là đối tượng mới có triển vọng phát triển rộng
rãi ở nhiều nước châu Á. Ưu điểm của nó là thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng,
mau lớn, thích nghi được với biên độ nhiệt độ nước và độ mặn rộng.[4]. Trong
thời gian qua, Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản III đã nghiên cứu sản xuất
giống và nuôi khảo nghiệm tôm chân trắng, nhìn chung quản lý và phát triển
đúng hướng, cơ bản đảm bảo an toàn sinh học, trình độ kỹ thuật nhiều nơi được
cải thiện đã mở đường cho sự phát triển của tôm chân trắng.
Tôm chân trắng là loài có thể nuôi với mật độ cao, điều này đòi hỏi
người nuôi phải đầu tư đồng bộ về nhân lực cũng như khoa học kỹ thuật. Để
nâng cao năng suất và lợi nhuận, cần phải lựa chọn nguồn giống sạch bệnh,
chế độ chăm sóc quản lý chặt chẽ, kiểm soát tốt các yếu tố môi truờng và
quan trọng là phải sử dụng loại thức ăn phù hợp nhất.
Chi phí thức ăn trong quá trình nuôi tôm chiếm khoảng 40 – 70 % chi phí
của vụ nuôi. Tuy nhiên trong nuôi tôm, chi phí cho một kg thức ăn chưa quan
trọng mà vấn đề người nuôi tôm cần quan tâm nhất đó là chi phí cho một kg tôm
tăng trọng là bao nhiêu? Vì vậy ngoài việc sử dụng loại thức ăn nào có chất
lượng tốt để cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho tôm, giúp tôm tăng trưởng
nhanh, có sức khỏe tốt mà còn giảm được hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) đến mức
thấp nhất để góp phần hạ giá thành sản phẩm. Hiện nay ở thị trường Thừa Thiên
Huế có nhiều loại thức ăn của nhiều công ty trong và ngoài nước với chất lượng
và giá cả khác nhau. Do vậy nghiên cứu để tìm ra loại thức ăn phù hợp là một

Lớp:
Crustacea
Bộ:
Decapoda
Họ: Penaeidea
Giống: Litopenaeus
Loài: Litopenaeus vannamei, Boone 1931.
2.1.2 Đặc điểm phân bố và nguồn gốc.
Tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) có nguồn gốc từ vùng biển xích
đạo Ðông Thái Bình Dương (biển phía Tây Mỹ La tinh), phân bố chủ yếu ở
ven biển Tây Thái Bình Dương, châu Mỹ, từ ven biển Mexico đến miền trung
Pêru, nhiều nhất ở biển gần Ecuador . Hiện nay tôm thẻ chân trắng đã có mặt
hầu hết ở các khu vực ôn và nhiệt đới bao gồm Đài Loan, Trung Quốc và các
nước ven biển thuộc khu vực Đông Nam Á[4].
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng
Cũng như các loài tôm he khác, tôm chân trắng phát triển qua 4 giai đoạn
ấu trùng chính là Nauplius, Zoea, Mysis, Postlarvae
Giai đoạn Nauplius: Nauplius không cử động được trong khoảng 30
phút, sau đó bắt đầu bơi và rất dễ bị lôi cuốn bởi ánh sáng. Nauplius thay vỏ
cả thảy 4 lần ( N1 đến N5 ) mỗi lần kéo dài 7 giờ ( theo các nhà sinh học Đài
Loan thì có đến 6 giai đoạn ). Trong thời kỳ này ấu trùng cứ bơi một đoạn rất
ngắn rồi lại nghỉ và lại tiếp tục bơi. Không cần cho Nauplius ăn, chúng tự
nuôi sống bằng noãn hoàng có sẵn.
Giai đoạn Zoea: sau N5 ấu trùng chuyển sang giai đoạn Zoea, giai đoạn này
ấu trùng bơi liên tục, bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài, chủ yếu là thực vật phù
du. Zoea thay vỏ hai lần từ Z1 tới Z3 trong 5 ngày, mỗi lần kéo dài 36 giờ

3



2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Trong thiên nhiên, tôm trưởng thành, giao hợp, sinh đẻ trong những vùng
biển có độ sâu 70 mét với nhiệt độ 26-28oC, độ mặn khá cao (35‰). Trứng nở
ra ấu trùng và vẫn sinh sống ở khu vực sâu này. Tới giai đoạn Postlarvae,

4


EBOOKBKMT.COM

chúng bơi vào gần bờ và sinh sống ở đáy những vùng cửa sông cạn. Nơi đây
điều kiện môi trường rất khác biệt: thức ăn nhiều hơn, độ mặn thấp hơn, nhiệt
độ cao hơn ... Sau một vài tháng, tôm con trưởng thành, chúng bơi ngược ra
biển và tiếp diễn cuộc sống giao hợp, sinh sản làm trọn chu kỳ.
* Cơ quan sinh dục.
Tôm chân trắng Litopenaeus vannmei trưởng thành phân biệt rõ đực cái
thông qua cơ quan sinh dục phụ bên ngoài.
Con đực: Giữa đôi mái chèo thứ nhất có một cơ quan gọi là petasmata.
Trong khi giao hợp petasmata sẽ chuyển tinh trùng sang thelycum của con cái.
Con cái: Con cái có một cơ quan gọi là thelycum để tiếp nhận tinh
trùng của con đực. Thelycum nằm ở phía bụng của phần ức, giữa cặp chân
đi thứ 4 và thứ 5.
Tôm chân trắng có thelycum mở khác với loại hình túi chứa tinh kín như
ở tôm sú và tôm he Nhật Bản. Trình tự của sinh sản mở là: (tôm mẹ) lột vỏ→
thành thục→ giao phối→ đẻ trứng→ ấp nở. Tôm cái sau khi thành thục sẽ đẻ
trứng trực tiếp vào trong môi trường nước, trong điều kiện nhiệt độ và độ mặn
thích hợp trứng sẽ nở thành ấu trùng.[13], [4]
2.2. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến khả
năng sinh trưởng và phát triển tôm chân trắng
2.2.1. Nhiệt độ

(>30ppt) thì tôm rất chậm lớn, vì độ mặn cao hàm lượng các khoáng cũng rất
cao, do đó sẽ làm cho quá trình lột xác của tôm gặp nhiều khó khăn, nếu tôm
đã tới chu kỳ lột xác mà không lột được thì sẽ không phát triển và chậm lớn.
Hơn nữa nước mặn là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các bệnh do
vi khuẩn vibrio gây ra, đặc biệt là bệnh phát sáng. Độ mặn tốt nhất cho sự
phát triển của tôm chân trắng từ 10 – 25 ppt
Nếu độ mặn thấp (< 10 ppt) cũng không tốt, dễ phát sinh bệnh, vì trong
nước ngọt thiếu các khoáng (Na, Ca, Cl, Fe, Cu, P, Mn…). Đây là những
khoáng chất cần thiết cho sự tạo vỏ của tôm, nếu thiếu chúng tôm sẽ không
tạo được vỏ.[7]
2.2.3. pH
pH của nước ao rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến
tôm nuôi và phiêu sinh vật. pH là một trong những chỉ tiêu quan trọng để
đánh giá chất lượng nuớc ao nuôi. Khi pH biến động thì sẽ ảnh hưởng tới các
quá trình sinh lý, sinh hoá trong cơ thể tôm, làm ảnh hưởng các yếu tố khác
trong ao như tảo, khí độc…pH phù hợp cho ao nuôi là 7.5 – 8.5, khoảng dao
động trong một ngày không được quá 0.5. [7]
Một vài chức năng của cơ thể tôm có thể bị ảnh hưởng trực tiếp do pH
quá cao hay quá thấp hay do sự biến động của nó, và như vậy, dĩ nhiên sẽ có

6


EBOOKBKMT.COM

hại đến tôm. pH thấp thường làm tổn thương phụ bộ và mang cũng như gây
trở ngại cho việc lôt xác và làm cho tôm bị mềm vỏ
NH3 và H2S là hai loại khí độc hoà tan trong nước. Các loại khí độc này
hiện diện trong ao dưới hai dạng: dạng khí có tính độc cao và dang ion thì ít
độc hơn. Tỷ lệ giữa dạng khí và dạng ion bị ảnh hưởng bởi độ pH. Khi pH


EBOOKBKMT.COM

lửng. Giới hạn cho phép về độ trong từ 25 – 50 cm, nó thay đổi theo tuổi tôm,
khi mới thả tôm vào thì yêu cầu độ trong cao 40 – 50 cm, nhưng khi tôm lớn
độ trong sẽ thấp 25 – 30 cm. Độ trong quá lớn sẽ lập tức ảnh hưởng tới tôm,
khi đó tôm rất dễ bị sốc, tôm chậm lớn, phân đàn, ít ăn và dễ nhiễm bệnh,
đồng thời đáy ao dễ sinh lab lab. Nếu độ trong quá thấp (nước có màu đậm)
thì rất dễ ảnh hưởng đến hoạt động hô hấp của tôm nhất là vào ban đêm,
nguyên nhân chính là do tảo về ban ngày sẽ quang hợp nhưng về ban đêm
chúng sẽ hô hấp và làm giảm oxy trong nước. Độ trong thấp thì mang tôm rất
dễ bị tổn thương (đen mang, vàng mang) hay nhớt thân. Màu tảo đậm là
nguyên nhân làm dao động pH giữa ngày và đêm rất lớn. [7]
2.2.7. Các khí hoà tan
2.2.7.1. CO2
Khí CO2 đóng vai trò quan trọng trong đời sống của vùng nước. CO 2 là
bộ phận cơ bản tham gia vào sự tạo thành chất hữu cơ trong quá trình quang
hợp. Nếu CO2 tồn tại dưới dạng khí tự do ở nồng độ cao sẽ không có lợi cho
tôm. Do chênh lệch giữa áp suất trong nước và trong máu tôm. [14]
2.2.7.2. Hợp chất của Nitơ
Gồm 3 chất chính: amonia (NH4+), nitrite (NO2) và nitrate (NO3-).
Amonia: Trong ao hồ, amonia xuất hiện như một sản phẩm do sự biến
dưỡng của động vật trong nước cũng như từ sự phân huỷ các chất hữu cơ với
tác dụng của vi khuẩn. Trong nước amonia được phân chia làm 2 nhóm: nhóm
NH3 (khí hoà tan) và nhóm NH4+ (ion hoá).
Chỉ có dạng NH3 của amonia là gây độc cho tôm, NH 3 có tính độc cao
hơn NH4+ từ 300 đến 400 lần. Sự phân chia này chịu ảnh hưởng của pH, nhiệt
độ và độ mặn nhưng pH ảnh hưởng quan trọng hơn cả. Nếu tăng 1 đơn vị pH
thì sẽ tăng 10 lần tỷ lệ của NH3. Độ độc của amonia gây ra không đáng ngại
lắm trong ao tôm vì thực vật phiêu sinh (phytoplankton) sẽ giữ cho độ độc

acid amin hoặc phối hợp các nguyên liệu.
Tôm chân trắng không cần khẩu phần ăn có lượng protein cao như tôm sú.
Theo nghiên cứu của Colvin and Brand (1977) là 30%, Kureshy and Davis
(2002) là 32%. Trong đó, thức ăn có lượng protein 35% được coi như là thích
hợp hơn cả, trong đó khẩu phần ăn có thêm mực tươi rất được tôm ưa chuộng.
Men tiêu hoá protein của tôm chủ yếu ở dạng trypsine, không có pepsine
(Vonk, 1970). Ngoài ra trong dạ dày tôm có 85% số vi khuẩn tạo thành
chitinase. Ngoài việc cung cấp dinh dưỡng, quan trọng nhất là giúp tôm có
khả năng tiêu hoá chitinase một phức hợp của protein. [2]
2.3.2 Lipid
Trong thành phần thức ăn của tôm thì lipid chứa năng lượng cao nhất, nó
không chỉ là chất dự trữ mà còn là thành phần thiết yếu của các tổ chức trong
cơ thể. Nếu năng lượng của thức ăn quá thấp thì tôm sẽ sử dụng nguồn năng

9


EBOOKBKMT.COM

lượng từ các dưỡng chất khác, như protein để thoả mãn nhu cầu về năng lượng,
làm nâng cao chi phí thức ăn. Nếu năng lượng trong thức ăn quá cao thì sẽ làm
giảm sự hấp thu thức ăn và chất đạm tiêu hoá không đủ để tôm phát triển.
Tỷ lệ lipid trong thành phần thức ăn của tôm không thể vượt quá 10%,
tốt nhất là 5-7%. [2]
2.3.3. Hydratcacbon.
Hydratcacbon là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể (khoảng
60% năng lượng cho hoạt động sống của động vật). Tuy khả năng sản sinh ra
nhiệt lượng của hydratcacbon kém hơn so với lipid, song hydratcacbon lại có
ưu thế hoà tan được, vì vậy quá trình tiêu hoá hấp thu dễ dàng.
Ở giáp xác có nhiều men tiêu hoá hydratcacbon như: amylaza, maltaza,

2.4. Tình hình nuôi tôm chân trắng trên thế giới và Việt Nam
2.4.1. Tình hình nuôi tôm chân trắng trên thế giới
Trên thế giới, sản lượng tôm chân trắng đứng hàng thứ hai sau tôm sú
nhưng ở châu Mỹ sản lượng tôm chân trắng đứng hàng đầu, đạt 86.000 tấn
(1990), 132.000 tấn (1992), 191.000 tấn (1998) và đạt gần 200.000 tấn năm
1999.[4]
Ecuador coi nuôi tôm chân trắng là ngành sản xuất lớn, sản lượng tôm
nuôi chiếm 95% tổng sản lượng của khu vực châu Mỹ, năm 1991 là 103.000
tấn. Năm 1993, do gặp dịch bệnh hội chứng Taura (Taura Symdrome Virus)
sản lượng giảm còn 1/3, sau 2-3 năm khôi phục lại đạt 120.000 tấn (1998),
130.000 tấn (1999) rồi lại gặp đại dịch bệnh đốm trắng còn 35.000 tấn (2000).
[4]
Một số nước như Mexico, Panama, Eelize, Peru, Colombia… cũng có
tình hình phát triển tương tự Ecuador. Sau khi được nhiều nước Châu Mỹ
nuôi nhân tạo thành công và có hiệu quả cao, tôm chân trắng được di giống
sang Hawaii . Từ đây tôm chân trắng lan sang Châu Á, Đông Nam Á. Nhiều
nước Đông Nam Á đã nhập tôm chân trắng để nuôi như: Philippin, Inđônêsia,
Malaixia, Thái Lan, Việt Nam... với hy vọng đa dạng hóa các sản phẩm tôm
xuất khẩu để nhằm tránh tình trạng chỉ trông cậy phần lớn vào tôm sú hiện
nay. Tôm chân trắng được nhập khẩu vào Châu Á vì người ta nhận thấy một số
loại tôm bản địa chủ yếu hiện đang được nuôi cho năng suất thấp, mức độ tăng
trưởng chậm và có khả năng mang bệnh, việc khoanh vùng nuôi tôm chân
trắng khép kín và sự phát triển của các dòng giống tôm chân trắng chọn lọc và
thuần hóa đã đưa tôm chân trắng trở thành đối tượng quan tâm lớn của ngành
nuôi tôm thời kỳ hiện nay. Trên phạm vi toàn cầu, tôm chân trắng đang chiếm
tới 2/3 tổng sản lượng tôm nuôi toàn thế giới. Ở châu Á, trong giai đoạn từ
2001-2006, tôm sú chỉ duy trì ở một sản lượng nhất định, thì tôm chân trắng
nhảy vọt lên 1,5-1,6 triệu tấn (năm 2006) và ước đạt 1,8 triệu tấn (2009). Đặc
biệt, việc gia tăng nhanh sản lượng tôm chân trắng là do các nước đã sản xuất


Trị, Hà Tĩnh… Nuôi tôm trên cát phát triển mạnh đến mức các Bộ, ngành và
chính quyền các cấp không thể kiểm soát được. Nếu như năm 2002, cả nước có
593,8 ha nuôi tôm trên cát thì đến năm 2003 tăng lên 1131 ha; đến hết năm
2005 diện tích nuôi tôm trên cát được các tỉnh miền trung đưa vào quy hoạch
hơn 20.000 ha.Theo thống kê của ngành Thủy sản, năm 2008 cả nước đạt sản
lượng 50.000 tấn tôm chân trắng. Năm 2009 sản lượng tăng lên gấp 10 lần.
Miền trung là khu vực có các điều kiện thích hợp cho tôm chân trắng phát triển.

12


EBOOKBKMT.COM

Vùng sản xuất tôm giống lớn nhất ở miền Trung và cũng lớn nhất cả nước là
Tuy Phong tỉnh Bình Thuận, Cà Ná, Cam Ranh, Phan Rang, Ninh Tịnh, Ninh
Hòa, Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa. [17]
Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là tôm nuôi đều phát triển tự phát. Dân
các tỉnh nuôi rải rác ở các vùng cát cao triều, xen lẫn trong các đồng tôm sú ở
ven biển. Hầu hết các hồ nuôi nhỏ lẻ ở nhiều khu vực khác nhau và không có
bể xử lý nước, nên nguồn nước thải xả ra kênh, ra biển gây ô nhiễm môi
trường. Theo Cục Nuôi trồng Thủy sản - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn thì việc quản lý chất lượng giống tại các trại đang bị buông lỏng, tôm
giống kém chất lượng, không qua kiểm soát vẫn được lưu hành trên thị
trường. Bên cạnh đó, một lượng rất lớn giống tôm chân trắng đang tràn qua
biên giới Quảng Ninh vào Việt Nam bằng nhiều con đường nhưng không
được cơ quan có trách nhiệm ngăn chặn. Thời gian gần đây tình hình dịch
bệnh đã xảy ra trên các vùng nuôi tôm chân trắng ở các tỉnh miền Trung và
đồng bằng sông Cửu Long
2.4.3 Tình hình nuôi tôm chân trắng ở Thừa Thiên Huế
2.4.3.1 Tình hình nuôi tôm chân trắng ở Thừa Thiên Huế

khu nuôi tôm Điền Môn , nâng tổng diện tích nuôi lên tới 72 ha. Hiện nay,
công ty sử dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 và đang triển
khai xây dựng phiên bản mới ISO 9001: 2008. Trong năm 2008, công ty được
Tổng cục Tiêu chuẩn chất lượng chọn là một trong số 20 doanh nghiệp trên
toàn quốc áp dụng thí điểm mô hình Quản lý chất lượng toàn diện (TQM). Tất
cả diện tích ao hồ đều được nuôi tôm chân trắng theo phương thức nuôi công
nghiệp, mật độ nuôi có thể lên tới 180con/m 2, sử dụng thức ăn công nghiệp
100%. Tuy nhiên trong những vụ nuôi gần đây sản lượng nuôi có phần giảm
do thời tiết không ổn định, môi trường ngày càng xấu đi, dịch bệnh xuất hiện
trên một số ao nuôi. Hiện nay công ty đã xây dựng quy trình kiểm soát quá
trình nuôi tôm mới được quản lý chặt chẽ. Lựa chon con giống sạch bệnh, cải
thiện môi trường nước và lựa chọn loại thức ăn phù hợp là những việc cần
làm nhằm cải thiện năng suất, nâng cao lợi nhuận cho công ty. Trên địa bàn
tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và huyện Phong Điền nói riêng người dân
đang sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau để nuôi tôm chân trắng, chủ yếu là
thức ăn công nghiệp của các công ty trong và ngoài nước. Hiện nay công ty
Trường Sơn đang sử dụng hai loại thức ăn chính là Hipo của công ty CP và
thức ăn Nuri của công ty Uni - president. Trong khi đó một số hộ dân tại địa
phương lại sử dụng thức ăn Winner của công ty Grobest. Cho đến nay, hiệu
quả sử dụng các loại thức ăn này vẫn chưa được kiểm chứng rõ ràng. Việc
nghiên cứu để tìm ra loại thức ăn phù hợp là rất cần thiết cho công ty cũng
như người nuôi tôm trên địa bàn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

14


EBOOKBKMT.COM

PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



EBOOKBKMT.COM

3.4.3. Hệ số tiêu tốn thức ăn ( FCR )
- Tổng khối lượng tôm
- Lượng thức ăn sử dụng
- So sánh FCR giữa 3 công thức thí nghiệm
3.4.4 Hiệu quả kinh tế
Chỉ tiêu theo dõi:
- Tổng thu
- Tổng chi: con giống, thức ăn, hóa chất…
- Lợi nhuận
- Hiệu quả đầu tư
- So sánh hiệu quả kinh tế giữa 3 công thức thí nghiệm
3.5. Phương pháp nghiên cứu
3.5.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên trên 9 ao, chia 3 nghiệm thức và lặp
lại 3 lần
Nghiệm thức 1 (thí nghiệm): sử dụng thức ăn Hipo của công ty CP, các
ao A1, A2,A3
Nghiệm thức 2 (thí nghiệm): sử dụng thức ăn Nuri của công ty TNHH
Uni – President các ao A4, A5, A6
Nghiệm thức 3 (đối chứng): sử dụng thức ăn Winner, của công ty TNHH
Grobest & I-Mei Industrial Việt Nam , các ao A7, A8, A9
Sơ đồ thí nghiệm :
A3

A8


HI-PO 7702: dùng cho tôm từ 1- 5gr/con
HI-PO 7703: dùng cho tôm từ 5 - 7gr/con
HI-PO 7703P: dùng cho tôm từ 7 - 10gr/con
HI-PO 7704S: dùng cho tôm từ 10 – 20gr/con

Thành phần dinh dưỡng như bảng sau:
Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng thức ăn Hipo
Mã thức ăn
HI-PO
HI-PO
HI-PO
HI-PO
HI-PO
7701
7702
7703
7703P
7704S
Thành phần
Độ ẩm (%),
11
11
11
11
11
không lớn hơn
Protein thô (%),
41
41
40

25

25

25

Thức ăn Nuri của công ty TNHH Uni – President, hướng dẫn
sử dụng và thành phần dinh dưỡng như sau:
- Hướng dẫn sử dụng:
N310: dùng cho tôm 1 - 4 ngày tuổi, P10 - P15
N311: dùng cho tôm 5 - 14 ngày tuổi, P15 - P25
N312, N312A: dùng cho tôm 15 - 20 ngày tuổi, P25 - 1g
N313: dùng cho tôm 21 - 40 ngày tuổi, khối lượng 1 - 3g
N314: dùng cho tôm 41 - 60 ngày tuổi, khối lượng 3 - 7g
N315: dùng cho tôm 61 - 75 ngày tuổi, khối lượng 7 - 15g
N316: dùng cho tôm trên 75 ngày tuổi, khối lượng trên 15g
Bảng 2:Thành phần dinh dưỡng thức ăn Nuri


17


EBOOKBKMT.COM

Mã số
thức ăn

N310

N311

≥(%),

42

40

40

40

40

37

37

36

Béo thô,
≥(%)

4

4

4

4

4


13

13

13

13

13

Hình dạng

Hạt

Hạt

Hạt

Viên

Viên

Viên

Viên

Viên

Kích

20

 Thức ăn Winner của công ty Grobest & I-Mei Industrial các mã số
No.1, No.2, No.2L, No.3, No.4, No.5, No.6. Hướng dẫn sử dụng và thành
phần dinh dưỡng như sau:
- Hướng dẫn sử dụng:
No.1: dùng cho tôm 1- 4 ngày tuổi
No.2: dùng cho tôm 5 - 22 ngày tuổi
No.2L: dùng cho tôm 23 - 31 ngày tuổi
No.3: dùng cho tôm 32 - 60 ngày tuổi
No.4: dùng cho tôm 61 - 80 ngày tuổi
No.5: dùng cho tôm 80 - 90 ngày tuổi
No.6: dùng cho tôm trên 90 ngày tuổi

18


EBOOKBKMT.COM

Bảng 3: Thành phần dinh dưỡng thức ăn Winner
Thành phần
Protein
thô ≥
Mã số thức

(%)

Béo
thô


ăn
No.1

40

6,0

3,0

14

11

2,3

1,0

1 - 1,5

+

+

No.2

40

6,0

3,0


1 - 1,5

+

+

No.3

37

5,0

4,0

15

11

2,3

1,0

1 - 1,5

+

+

No.4


11

2,3

1,0

1 - 1,5

+

+

No.6

35

4,5

5,0

16

11

2,3

1,0

1 - 1,5

Độ kiềm, độ mặn, độ trong 3 ngày đo một lần
- Các chỉ tiêu cần đo ở đáy ao nơi cho tôm ăn, đo 3 điểm khác nhau sau
đó lấy kết quả trung bình, các mẫu được phân tích ngay tại chỗ đảm bảo độ
chính xác cao. Số liệu được tập hợp và xử lý theo từng đợt, mỗi đợt 15 ngày.
3.5.3. Phương pháp theo dõi khả năng sinh trưởng và phát triển của tôm
chân trắng nuôi bằng các loại thức ăn khác nhau
Sau 20 ngày kể từ khi thả giống, dùng sàng ăn, sau 30 ngày kết hợp giữa
sàng ăn và chài tôm để xác định tỷ lế sống và lấy mẫu để xác định khối lượng
và chiều dài. Định kỳ 10 ngày lấy mẫu kiểm tra tăng trưởng một lần
3.5.3.1. Theo dõi khối lượng
- Chài tôm, đếm số tôm trong chài, cân tổng khối lượng tôm chài được từ
đó xác định khối lượng trung bình của tôm, chài 3 điểm bất kỳ trong ao rồi
lấy kết quả trung bình
- Khối lượng được cân bằng cân bàn (g)
- Tốc độ tăng trưởng khối lượng (g/con/ngày)
Gw =

W 2 − W1
T2 − T1

- W 1 ,W 2 là khối lượng trung bình của tôm ở lần đo thứ nhất và thứ hai
- T1, T2 là thời gian của lần đo thứ nhất và thứ hai
- Gw là tốc độ tăng trưởng về khối lượng
3.5.3.2. Theo dõi chiều dài
- Dùng thước có chia vạch (mm) đo chiều dài của 30 con tôm sau đó lấy
kết quả trung bình
- Tốc độ tăng trưởng chiều dài (cm/con/ngày).
GL =

L 2 − L1

% cho ăn x khối lượng đàn tôm (g)
1000

3.5..1.3. Hệ số tiêu tốn thức ăn
- Công thức tính hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) như sau:
FCR tháng 1 =

Lượng thức ăn sử dụng tháng 1
Tổng khối lượng tôm sau tháng đầu tiên

FCR tháng 2 =

Lượng thức ăn sử dụng tháng 2
Tổng khối lượng tăng lên từ tháng 1 đến hết tháng 2

FCR tháng 3 =

Tổng lượng thức ăn sử dụng tháng 3
Tổng khối lượng tôm tăng lên từ tháng 2 đến hết tháng 3

21


EBOOKBKMT.COM

FCR cả vụ =

Tổng tượng thức ăn sử dụng cả vụ nuôi

Tổng khối lượng tôm khi thu hoạch

có thể đạt năng suất cao đó là môi trường nước phải phù hợp với sự phát triển
của tôm nuôi. Sự thay đổi đột ngột của một yếu tố môi trường có thể làm thay
đổi các yếu tố khác. Môi trường xấu tôm sinh trưởng chậm và nếu vượt quá
sức chịu đựng thì sẽ gây sốc, đây là một trong những nguyên nhân làm giảm
năng suất tôm nuôi. Trong thời gian thí nghiệm, chúng tôi cố gắng điều chỉnh
môi trường ao nuôi ở mức phù hợp nhất. Các ao trong các nghiệm thức được
chuẩn bị giống nhau về mọi khía cạnh như diện tích, độ sâu, chất đất, nguồn
nước…cùng với việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, chế độ chăm sóc quản
lý như nhau đối với tất cả các ao nuôi. Điều này rất quan trọng và cần thiết để
điều chỉnh môi trường ao nuôi ở các nghiệm thức đến mức đồng đều nhất có
thể nhằm đảm bảo mức độ chính xác của thí nghiệm khi so sánh các loại thức
ăn với nhau. Lịch trình theo dõi, kiểm soát môi trường phụ thuộc vào từng
yếu tố nhất định. Các yếu tố quan trọng và có mức độ biến động lớn như nhiệt
độ, oxy, pH được đo 2 lần hằng ngày trong suốt quá trình nuôi tôm. Độ mặn,
độ kiềm và độ trong được đo 3 ngày một lần. Kết quả theo dõi môi trường
được tổng hợp theo từng yếu tố và có những biến động khác nhau
4.1.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố rất quan trọng, có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp đến đời sống của động vật thủy sản nói chung và của tôm nói riêng. Sự
biến động nhiệt độ trong các ao nuôi được trình bày ở bảng 4

23


EBOOKBKMT.COM

Bảng 4: Sự biến động của nhiệt độ ở các nghiệm thức (oC)
Nghiệm
thức
Đợt

Min – max

Min – max

Min – max

Min – max

X±δ

X±δ

X±δ

X±δ

X±δ

X±δ

17-21

19-24

17-22

20-24

17-21


24±2,3

26,8±2,4

24±2,2

27±2,3

21-28

25-31

22-28

25-31

22-28

23-31

25,3±2,1

28,2 1,9

25,3±2

28,2±2

25,3±2


27-34

29-33

27-30

30-34

28,7±1,3

31,5±1

28,8±1,3

31,4±1

28,5±0,9

31,7±0,9

27-32

30-34

27-31

31-34

28-31


EBOOKBKMT.COM

ngưỡng thích hợp nhưng vẫn không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh
trưởng và phát triển của tôm. Nhìn chung nhiệt độ trong suốt vụ nuôi tương
đối thuận lợi, không trở ngại cho sự sống và sức khỏe của tôm.
4.1.2. Độ mặn
Độ mặn là yếu tố đặc trưng theo từng vùng nuôi, phụ thuộc chủ yếu vào
nguồn nước cấp và điều kiện thời tiết. Kết quả theo dõi độ mặn được trình bày
ở bảng 5
Bảng 5: Kết quả theo dõi độ mặn ở các nghiệm thức (‰)
Nghiệm
thức
Đợt theo dõi

Hipo

Nuri

Winner

Min – max
Min – max
Min – max
X±δ
X±δ
X±δ
18-20
18-20
18-20
Đợt 1

21,5±0,9
21-25
21-25
22-25
Đợt 6
22,9±1
22,7±1
23±1
Độ mặn tại khu vực thí nghiệm luôn nằm trong khoảng thích hợp (18 25‰) do chủ động được nguồn nước biển và nước ngọt. Đây là điều kiện rất
tốt cho sự phát triển của tôm. Ban đầu độ mặn được điều chỉnh ở mức phù
hợp, tháng đầu tiên dao động từ 18 – 20‰, dao động về độ mặn giữa các ngày
trong tháng là không lớn. Độ mặn tăng dần theo thời gian và kết thúc vụ nuôi
độ mặn cao nhất đo được là 25‰. Sự tăng độ mặn như vậy là do càng về sau
nhiệt độ tăng làm lượng nước bốc hơi nhiều, các ao nuôi được cấp thêm nước
biển nhiều hơn. Độ mặn ao nuôi ở các nghiệm thức thí nghiệm được điều

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status