TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CƯU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG
VỚI XÂM NHẬP MẶN VỀ CUNG CẤP NƯỚC SINH HOẠT
ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHỆP TẠI
ĐỊA BÀN CÁC VÙNG CỬA SÔNG HUYỆN HẬU LỘC
TỈNH THANH HOÁ
Sinh viên thực hiện: PHẠM MINH NGỌC
Chuyên ngành đào tạo: Khí tượng thủy văn biển
Lớp: DH3KB1
Niên khóa: 2013-2017
Giáo viên hướng dẫn: Th.S NGUYỄN THỊ THÙY LINH
HÀ NỘI – 201
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
*****
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CƯU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG
VỚI XÂM NHẬP MẶN VỀ CUNG CẤP NƯỚC SINH HOẠT
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian dài thực hiện, đồ án tốt nghiệp với đề tài:” Nghiên cứu đề xuất
giải pháp thích ứng với xâm nhập mặn về cung cấp nước sinh hoạt ảnh hưởng đến
sản xuất nông nghiệp tại địa bàn các vùng cửa sông huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa” đã
được hoàn thành.
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô hướng dẫn
đồ án tốt nghiệp Nguyễn Thị Thùy Linh đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và
tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành Luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, cô giáo Khoa khoa học biển và hải
đảo-Trường Đại học Tài nguyên và môi trường Hà nội đã truyền đạt các kiến thức
chuyên môn trong quá trình học tập.
Tuy nhiên đề tài có khối lượng tính toán lớn nên còn một số tồn tại, thiếu sót.
Tôi rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo giúp đỡ của các thầy cô giáo.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2017
Người thực hiện luận văn
Phạm Minh Ngọc
4
MỤC LỤC
nhập mặn ở đồng bằng sông Mã, sông Yên những năm gần đây trở nên gay gắt hơn
do ảnh hưởng bởi các nguyên nhân khác nhau và ngày càng ảnh hưởng đến quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của các huyện thuộc khu vực đồng bằng…, đặc biệt
là 5 huyện: Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia.
6
Sự phát triển bền vững của tỉnh đã và đang bị đe dọa do biến đổi khí hậu, đặc
biệt là thay đổi quá trình xâm nhập mặn trong mùa khô, dẫn đến thay đổi về nguồn
nước ảnh hưởng đến dân sinh, sản xuất nông nghiệp (thời vụ, diện tích, năng suất và
sản lượng), thủy sản và các hoạt động khác.
Từ những ảnh hưởng đó, thời gian gần đây, đã có khá nhiều nghiên cứu về
xâm nhập mặn ở tỉnh Thanh Hóa nói chung và huyện Hậu Lộc nói riêng, trong đó
chủ yếu tập trung vào việc theo dõi và đánh giá các thay đổi diễn biến xâm nhập
mặn; tính toán để dự báo tương lai nhằm phục vụ quy hoạch, thiết kế hệ thống và
điều hành sản xuất. Các hoạt động này đã có những đóng góp quan trọng cho phát
triển thủy lợi ở đồng bằng, ngăn và kiểm soát mặn, trữ ngọt phục vụ cho phát triển
kinh tế xã hội.
Hậu lộc là huyện đồng bằng ven biển, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa
25km về phía Đông Bắc. Phía Bắc giáp huyện Nga Sơn, Hà Trung; phía Nam và
phía Tây giáp huyện Hoằng Hoá; phía đông giáp biển Ðông nên khá thuận lợi cho
phát triển kinh tế biển , là nơi có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế. Huyện
là một trong các tỉnh điển hình bị diễn biến xâm nhập mặn ảnh hưởng nguồn nước
phục vụ sản xuất và sinh hoạt của cư dân ven biển, dẫn đến ảnh hưởng phát triển
kinh tế xã hội huyện.
Những phân tích trên cho thấy việc phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh một cách
bền vững đòi hỏi phải có những nghiên cứu đầy đủ hơn về các kịch bản có thể xảy
ra, nhất là sự thay đổi về mực nước biển dâng do tác động của biến đổi khí hậu, làm
cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp thích ứng với những thay đổi đó. Em đã chọn
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1. Biến đổi khí hậu
Khái niệm chung:
Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển,
thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên
nhân tự nhiên và nhân tạo.
Theo công ước chung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu:
Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những
biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng
kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và
được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức
khỏe và phúc lợi của con người.
2.1.1.1. Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu
Có hai nguyên nhân chính tác động đến biến đổi khí hậu là do các yếu tố tự
nhiên và do các yếu tố nhân tạo. Tuy nhiên các nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu
do tự nhiên đóng góp một phần rất nhỏ vào sự biến đổi khí hậu và có tính chu kỳ kể
từ quá khứ đến hiện tại. Vì vậy, tác động lớn nhất là do chính con người.
a.
·
Nguyên nhân do tự nhiên
Điểm đen mặt trời
Sự xuất hiện các điểm đen làm cho cường độ tia bức xạ mặt trời chiếu xuống
trái đất thay đổi, nghĩa là năng lượng chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổi
nhiệt độ bề mặt trái đất.
Sự thay đổi cường độ sáng của Mặt trời gây ra sự thay đổi năng lượng chiếu
Sự trôi dạt của các lục địa
Qua hàng triệu năm, sự chuyển động của các mảng làm tái sắp xếp các lục
địa và đại dương trên toàn cầu đồng thời hình thành lên địa hình bề mặt. Đều này có
thể ảnh hưởng đến các kiểu khí hậu khu vực và toàn cầu cũng như các dòng tuần
hoàn khí quyển-đại dương. Vị trí của các lục địa tạo nên hình dạng của các đại
dương và tác động đến các kiểu dòng chảy trong đại dương. Vị trí của các biển đóng
vai trò quan trọng trong việc kiểm soát sự truyền nhiệt và độ ẩm trên toàn cầu và
hình thành nên khí hậu toàn cầu.
b.
Nguyên nhân do con người
Khí hậu Trái đất chịu ảnh hưởng rất lớn của cân bằng nhiệt khí quyển. Khi
yếu tố này bị ảnh hưởng sẽ tác động rất lớn gây biến đổi khí hậu. Cân bằng nhiệt
xảy ra nhờ các khí nhà kính như CO 2, CH4, NOx… hấp thụ bức xạ hồng ngoại do
mặt đất phát ra, sau đó, một phần lượng bức xạ này lại được các chất khí đó phát xạ
trở lại mặt đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng ngoại của mặt đất thoát ra ngoài
10
khoảng không vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị lạnh đi quá nhiều, nhất là về ban
đêm khi không có bức xạ mặt trời chiếu tới mặt đất. Nếu không có các chất khí nhà
kính tự nhiên, trái đất của chúng ta sẽ lạnh hơn hiện nay khoảng 33 oC, tức là nhiệt
độ trung bình trái đất sẽ khoảng 18 oC. Hiệu ứng giữ cho bề mặt trái đất ấm hơn so
với trường hợp không có các khí nhà kính được gọi là “Hiệu ứng nhà kính” .
Trong thành phần của khí quyển trái đất, khí nitơ chiếm 78% khối lượng, khí
oxy chiếm 21%, còn lại khoảng 1% các khí khác như Ar, CO 2, CH4, NOx, Ne, He,
H2, O3,… và hơi nước. Tuy chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, các khí vết này, đặc biệt là
khí CO2, CH4, NOx, và CFCs (một loại khí mới chỉ có trong khí quyển từ khi công
(1958 - 2007), nhiệt độ trung bình năm ở
Việt Nam tăng lên khoảng từ 0,5oC đến
0,7oC. Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn
nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng
khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn ở các
vùng khí hậu phía Nam.
Hình 2.1: Mức tăng nhiệt độ (oC)
trung năm trong 50 năm qua (Nguồn:
IMHEN/2010)
-
Lượng mưa: Lượng mưa
mùa mưa (tháng V-X) giảm từ 5 đến hơn
10% trên đa phần diện tích phía Bắc nước
ta và tăng khoảng 5 đến 20% ở các vùng
khí hậu phía Nam. Xu thế diễn biến của
lượng mưa năm tương tự như lượng mưa
mùa mưa, tăng ở các vùng khí hậu phía
Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía
Bắc. Khu vực Nam Trung Bộ có lượng
mưa mùa khô, mùa mưa và lượng mưa
năm tăng mạnh nhất so với các vùng khác
ở nước ta, nhiều nơi đến 20% trong 50
năm qua
-
Hình 2.2. Mức thay đổi lượng mưa
năm (%) trong 50 năm qua (Nguồn:
ngọt trong các tầng chứa nước ở ven biển bằng nước mặn do sự dịch chuyển của
khối nước mặn vào tầng nước ngọt. Xâm nhập mặn làm giảm nguồn nước ngọt dưới
lòng đất ở các tầng chứa nước ven biển do cả hai quá trình tự nhiên và con người
gây ra.
Theo Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn: Xâm nhập mặn là hiện tượng nước mặn với nồng độ mặn bằng 4‰
xâm nhập sâu vào nội đồng khi xảy ra triều cường, nước biển dâng hoặc cạn kiệt
nguồn nước ngọt. Xâm nhập mặn là vấn đề nghiêm trọng đối với nhiều chính quyền
địa phương, vấn đề này đã được nỗ lực giải quyết trong bối cảnh đang diễn ra biến
đổi khí hậu như nước biển dâng, tăng nhiệt độ, khai thác nước ngầm quá mức để
đáp ứng nhu cầu nước cho phát triển, những nguyên nhân này đang làm tăng nguy
cơ xâm nhập mặn.
2.1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến xâm nhập mặn
Trong tự nhiên, bề mặt phân cách giữa nước ngọt và nước mặn hiếm khi ổn
định. Quá trình bổ sung nước hoặc khai thác nguồn nước ngầm đều dẫn đến sự dịch
13
chuyển bề mặt phân cách giữa nước ngọt và nước mặn từ vị trí này sang vị trí khác.
Sự dịch chuyển đó có thể làm mực nước dâng lên hoặc hạ xuống tùy thuộc vào việc
nước ngọt đổ vào tầng ngậm nước tăng hay giảm. Do đó, sự thay đổi lượng nước
ngầm gây ảnh hưởng trực tiếp đến xâm nhập mặn. Tình trạng này sẽ tăng nhanh hơn
nếu giảm bổ sung nước ngầm. Những thay đổi do biến đổi khí hậu như lượng mưa
và nhiệt độ, thay đổi mục đích sử dụng đất cũng có thể làm thay đổi đáng kể tốc độ
bổ sung nước ngầm cho các hệ thống tầng ngậm nước, gây ảnh hưởng đến quá trình
xâm nhập mặn.
-
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
- Địa hình: Địa hình bằng phẳng là yếu tố thuận lợi cho sự xâm nhập mặn.
- Các yếu tố khí tượng: Gió từ biển hướng vào đất liền, nhiệt độ cao, mưa
ít, ... sẽ là tác nhân làm mặn lấn sâu vào nội địa.
- Hoạt động kinh tế của con người: Nhu cầu sử dụng nước ngọt vào mùa khô
tăng sẽ làm giảm nguồn nước ngầm, làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn.
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Trên thế giới
Nhân loại bước sang thế kỉ 21 với nhiều vấn đề nan giải, trong đó biến
đổi khí hậu với sự tác động toàn cầu, ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực được coi là
thách thức lớn của thế giới. Các số liệu quan trắc cho thấy trong 100 năm qua
(1906-2005) nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng 0.74 0C, mực nước biển trung bình
toàn cầu đã tăng với tỉ lệ trung bình 1.8mm/năm trong thời kì 1961-2003 và tăng
nhanh hơn với ti lệ 3.1mm/năm trong thời kì 1993-2003.
Xâm nhập mặn làm giảm diện tích tưới của thế giới khoảng 1-2% mỗi
năm, có khoảng 43 quốc gia ( chủ yếu là từ các vùng khô hạn và bán khô hạn), đang
phải sử dụng nước mặn ở các mức độ khác nhau để tưới thông qua các hệ thống
thủy lợi. Xâm nhập mặn được đánh giá là nguyên nhân lớn thứ hai của đất sản xuất
bị mất và có thể đe dọa lên đến 10% sản lượng ngũ cố toàn cầu.
Trên toàn thế giới, FAO ước tính 34 triệu ha (khoảng 11%) diện tích
tưới tiêu bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn ở các mức độ khác nhau. Trong đó
Pakistan, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Ấn Độ có gần 22triệu ha chiếm hơn 64% diện
tích canh tác bị ảnh hưởng mặn. Tại Australia khoảng 16% diện tích nông nghiệp bị
ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn khoảng 67% diện tích có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi
xâm nhập mặn khi nước biển dâng. Ở vùng Trung Đồn, FAO ước tính có khoảng
8% cỉa diện tích đất bị suy thoái bởi xâm nhập mặn và khoảng 29% diện tích tưới
có vấn đề về độ mặn. Ở châu Mỹ, xâm nhập mặn ảnh hưởng đến 40% diện tích đất
trồng trên bờ biển phía Bắc Peru. Ở Châu Âu, xâm nhập mặn ảnh hưởng đến 25%
diện tích tưới tiêu ở Địa Trung Hải. Khu vực Nam Á, vùng đồng bằng sông Indus
của Pakistan có khoảng 2 triệu ha bị ảnh hưởng của xâm nhập mặn.
biển dâng bao gồm Nam Á và Đông Nam Á, Tây Phi ( Vịnh guinea, Senegal) đônng
Phi ( Mozambique), phía nam Địa Trung Hải ( Ai Cập) và các quốc đảo vùng
Caribbean, Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam. Đối với các nước chịu tác động lớn của
biến đổi khí hậu như Bangladet, xâm nhập mặn làm giảm sản lượng nông nghiệp do
16
thiếu nguồn nước ngọt và thoái hóa đất. Trong sô 2,85 triệu ha diện tích vùng ven
biển của Bangladet, có tới 1,2triệu ha đất canh tác bị nhiễm mặn ở các mức độ khác
nhau.
Bảng 2.1. Diện tích đất bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn do hệ thống thủy lợi
STT
Khu vực, quốc gia Diện tích
tự nhiên
(triệu ha)
Diện tích
bị
ảnh
hưởng
(triệu ha)
Tỷ lệ (%)
So với diện So với tổng
tích tự nhiên diện tích
ảnh hưởng
6.12
0.98
17.91
4
Bắc Mỹ
2.178.05
5.34
0.25
15.62
5
Trung Á
400.34
3.21
0.80
9.39
0.68
0.08
1.99
9
Australia
760.83
0.20
0.03
0.59
1
Pakistan
88.03
7.00
7.95
20.48
4
Ấn Độ
328.9
3.3
1.00
9.65
5
Uzbenkistan
44.48
2.14
4.81
6.26
6
Iran
164.38
9
Các nước khác
10916.6
4.77
0.04
13.96
13573.1
34.18
Tổng
100
Nguồn: FAO, Agriculture and water quality interactions: a global
overview
2.2.1.2 Cấp nước dân sinh
Mặn bị đẩy sâu vào lục địa các sông gây nên tình trạng khan hiếm
và thay đổi chất lượng nước sinh hoạt nước mặt và nước ngầm. Mặn làm tăng chi
phí để ngăn mặn xam nhập và khử mặn trong quá trình xử lý và cung cấp nước dân
sinh, làm giá nước sinh hoạt lên cao. Có thể tóm lược những ảnh hưởng của hiện
tượng xâm nhập mặn nói riêng và biến đổi khí hậu nói chung đến tài nguyên nước ở
các khu vực trên thế giới như sau:
tiềm năng thủy điện.
Những thay đổi trong các mô hình về lượng mưa và sự biến
mất của các sông băng sẽ gây ảnh hưởng tới khả năng sử
dụng nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt của con người.
Châu Mỹ-La
tinh
Sự nóng lên ở các dãy núi miền tây sẽ làm giảm lớp tuyết
phủ, tăng lũ lụt mùa đông và giảm lưu lượng nước mùa hè
khiến cho cuộc cạnh tranh vì tài nguyên nước phân bổ không
đều diễn ra khốc liệt hơn.
Bắc Mỹ
Vào giữa thế kỷ này, biến đổi khí hậu sẽ làm suy giảm tài
nguyên nước ở nhiều đảo nhỏ, chẳng hạn như biển Caribê và
Thái Bình Dương không có đủ nước để đáp ứng nhu cầu
19
trong thời kì mưa ít.
Các đảo nhỏ
Nguồn: FAO, Agriculture and water quality interactions: a global overview
2.2.2 Tại Việt Nam
Việt Nam có chiều dài bờ biển hơn 3.260km với 28/64 tỉnh thành
phố có biển, là một trong những nước dễ bị tổn thương của biến đổi khí hậu. Do
đường bờ biển dài và thấp, dễ bị tác động bởi bão nhiệt đới, lượng mưa lớn và hay
thay đổi nên các vùng ven biển Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất do biến đổi
khí hậu gây ra. Hiện tượng hạn hán, bão, lũ lụt, xói lở bờ biển và xâm nhập mặn sẽ
xuất hiện thường xuyên hơn. Dải ven biển thuộc vìng đồng bằng sông Hồng- sông
4g/l lớn nhất 60-65 km, sâu hơn TBNN 5-10km.
2.2.2.3 Ảnh hưởng đến cấp nước dân sinh
Nước sử dụng trong sinh hoạt chiếm tỷ lệ khoảng 2% so với tổng
nhu cầu sử dụng nước cho các ngành kinh tế. Do quá trình khai thác thiếu quy
hoạch và nguồn nước bổ sung từ mưa giảm vào mùa khô nên nước dưới đất của Việt
Nam đã và đang đối mặt với vấn đề xâm nhập mặn trên diện rộng làm suy giảm chất
lượng nước và nguồn cung cấp. Ở các vùng biển từ Bắc đến Nam, hiện tượng xâm
nhập mặn khá phổ biến, nhiều nơi độ mặn của nước dưới đất không còn đáp ứng
yêu cầu sử dụng cho ăn uống, đẩy giá nước sinh hoạt lên cao do phải xử lý, làm
cuộc sống người dân vốn đã vất vả lại càng khó khăn hơn.
Khu vực ở ven biển miền Trung: Các huyện đảo phần lớn các giếng
nước đều nhiễm mặn, các thành phố lớn như Huế, Đà Nẵng mặn xâm lấn sâu vào
trong đất liền. Nước sông bị nhiễm mặn với mặn vượt ngưỡng nhiều lần khiến chất
lượng,số lượng nước cung cấp không đủ nhu cầu sử dụng nên người dân đều bị
thiếu nướcsinh hoạt vào mùa hè.
Đối với vùng ven biển ở miền Bắc: Mặn xâm lấn khi nước biển dâng
cao không lớn so với miền Trung và miền Nam, song dòng chảy trên các sông ngày
càng cạn kiệt, lượng nước dưới đất khai thác vượt khả năng cung cấp làm cho mặn
xâm nhập vào phá hỏng tầng chứa nước ngọt, quá trình này đặc biệt quan trọng với
các dạng địa tầng đá vôi bởi sự xâm thực nước mặn sẽ trở nên rộng và sâu hơn.
21
Nhìn chung các xã phường ven biển Bắc Bộ đều bị thiếu nước sinh hoạt trong mùa
khô, nhiều khu vực càng khoan sâu nước càng mặn. Các tầng nước ngầm nông
thường bị nhiễm mặn nên đối với các xã bị nhiễm mặn nặng và không có công trình
cấp nước tập trung, trong mùa khô nước mưa dự trữ là nguồn nước quan trọng cho
sinh hoạt.
Khu vực đồng bằng sông Cửu Long: Do ảnh hưởng của biển đổi
khí hậu, mực nước biển dâng, khiến nước mặn xâm nhập sâu, cộng thêm sự ô nhiễm
Vùng ven biển có diện tích 110.655 ha, chiếm 9,95% diện tích toàn
tỉnh với bờ biển dài 102 km, địa hình tương đối bằng phẳng. Chạy dọc theo bờ biển
là các cửa sông với 6 cửa lạch là nơi chuyển tải dòng chảy từ các sông, suối đổ ra
biển,đồng thời cũng là nơi tiếp nhận dòng triều - mặn từ biển vào đất liền. Vùng đất
cát ven biển có độ cao trung bình 3-6 m, có bãi tắm Sầm Sơn nổi tiếng và các khu
nghỉ mát khác như Hải Tiến (Hoằng Hoá) và Hải Hoà (Tĩnh Gia)...; có những vùng
đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản và phát triển các khu công
nghiệp, dịch vụ kinh tế biển.
Phần lớn diện tích đất nông nghiệp đều nằm ở các huyện thuộc hạ lưu
của lưu vực sông Mã, trong đó các huyện đồng bằng ven biển như: Hậu Lộc ,Nga
Sơn, Hà Trung, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia, Nông Cống (chiếm gần 50%
diệntích đồng bằng và đồng bằng ven biển).
Trong thời gian gần đây, do tác động của biến đổi khí hậu và các hoạt
động kinh tế ngày càng tăng của con người, xu thế hạn hán mà biểu thị rõ nhất là hạ
thấp mực nước các dòng sông ở Thanh Hóa đang diễn ra với gay gắt, tập trung chủ
yếu vào các tháng 12, 1, 2 và 3 hằng năm. Một số nghiên cứu cho thấy, trên sông
Mã, tại trạm Lý Nhân ở hạ lưu, mực nước thấp nhất giảm theo thời gian khá rõ.
Hiện tượng mực nước giảm nhanh cũng xảy ra tương tự ở các cửa sông Lèn, Lạch
Trường, Yên,… Mực nước các cửa sông giảm đã tạo điều kiện cho mặn xâm nhập
ngày càng sâu hơn vào đất liền. Đặc biệt vào mùa kiệt đầu năm 2010, diễn biến xâm
nhập mặn rất phức tạp, kèm theo đợt nóng nắng và khô hạn kéo dài đã ảnh hưởng
nghiêm trọng đến tình hình sản xuất nông nghiệp của Thanh Hóa.
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA
HUYỆN HẬU LỘC, THANH HÒA.
3.1.1.1 Huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam
23
Thanh Hoá có tổng nhiệt độ trong năm là 8600 o C, biên độ 12 - 13 o C, biên độ
ngày 5,5 - 6 o C. Nhiệt độ trung bình tháng 7 khoảng 29 - 29,5 o C, nhiệt độ cao
tuyệt đối chưa quá 42 o C. Có 4 tháng (từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau) nhiệt độ
trung bình nhỏ hơn 20 o C. Có 5 tháng ( từ tháng 5 đếntháng 9) nhiệt độ trung bình
lớn hơn 25 o C.
Lượng mưa trung bình năm từ 1600 - 1900 mm. Vụ mùa chiếm 87 90% lượng mưa cả năm. Mùa mưa kéo dài từ đầu tháng 5 đến tháng 10 nhưng tập
trung vào các tháng 6, 7, 8, 9. Lượng mưa phân bổ ở các tháng không đều. Tháng 8
và tháng 9 có lượng mưa lớn nhất, mỗi tháng xấp xỉ 460 mm, tháng 1 có lượng mưa
ít nhất khoảng 18 - 22 mm.Có lúc mưa tập trung thường xảy ra úng lụt cục bộ, thiệt
hại
cho sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân.
Độ ẩm không khí: Trung bình năm 85 - 86%, các tháng có độ ẩm
không khí cao nhất là tháng 2, 3 và tháng 4 xấp xỉ 90%.
Hậu Lộc chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính: Gió mùa Đông
Bắc vào mùa Đông và gió Đông Nam vào mùa hè. Tốc độ gió mạnh, trung bình từ
1,8 - 2,2 m/s. Tốc độ gió mạnh nhất đo được trong bão lên tới trên 40,1m/s. Trong
gió mùa Đông Bắc là 25m/s.
Ngoài hai hướng gió chính trên về mùa hè thỉnh thoảng còn xuất hiện
các đợt gió Tây Nam khô nóng ảnh hưởng lớn đến một số xã vùng ven đồi và vùng
đồng bằng. Bão thường xuyên xuất hiện các tháng 8, 9, 10 kèm theo mưa lớn.
Tổng giờ nắng trung bình 1736 giờ/năm. Số ngày nắng trong năm
khoảng 275 ngày.
Sương muối - Sương giá: Xuất hiện trên địa bàn toàn huyện, nhưng chủ
yếu ở các xã như Triệu Lộc, Châu Lộc, Đại Lộc. Hậu Lộc chịu ảnh hưởng trực tiếp
của bão, gây nhiều thiệt hại về người và tài sản của nhân dân trong huyện.
c. Thủy văn
Theo tài liệu của Đài Khí tượng Thuỷ văn khu vực Bắc miền Trung,
Việt Nam (trên địa bàn Thanh Hoá), Hậu Lộc thuộc vùng thuỷ triều phía Bắc, chế