BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CÁC BIỆN PHÁP THÍCH
ỨNG VỚI XÂM NHẬP MẶN Ở XÃ BÌNH THẠNH HUYỆN
THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE
NGUYỄN THỊ ANH THƯ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2010
Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “ĐÁNH GIÁ HIỆU
QUẢ KINH TẾ CÁC BIỆN PHÁP THÍCH ỨNG VỚI XÂM NHẬP MẶN Ở XÃ
BÌNH THẠNH, HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE” do Nguyễn Thị Anh Thư,
sinh viên khóa 2006 – 2010, ngành KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG, đã bảo
vệ thành công trước hội đồng vào ngày……………
TS. PHAN THỊ GIÁC TÂM
Người hướng dẫn
Ngày
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo
Tre, anh Lê Văn Hải, phòng Tài nguyên – Môi trường huyện Thạnh Phú, chú Phạm
Văn Dứt, chú Đặng Văn Na, phòng NNPTNT huyện Thạnh Phú, Anh Lời, chị Sắc,
cùng các cô chú, anh chị thuộc UBND xã Bình Thạnh và 60 hộ dân được phỏng vấn đã
tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình làm đề tài tại địa phương.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả bạn bè, những người luôn bên tôi
cùng tôi chia sẻ những khó khăn suốt thời gian qua. Các bạn đã động viên giúp đỡ tôi
rất nhiều trong thời gian làm khóa luận tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07/ 2010
Sinh viên
Nguyễn Thị Anh Thư
NỘI DUNG TÓM TẮT
NGUYỄN THỊ ANH THƯ. Tháng 07 năm 2010. “Đánh Giá Hiệu Quả Kinh
Tế Các Biện Pháp Thích ứng Với Xâm Nhập Mặn ở Xã Bình Thạnh, huyện
Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre”
NGUYEN THI ANH THU. July 2010. “Economic Efficiency Evaluation of
Measures to Adapt to Salinity Intrusion in Binh Thanh Commune, Thanh Phu
District, Ben Tre Province”.
Xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng là một biểu hiện của BĐKH ở nước ta
nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng. Hiện tượng này đã gây thiệt hại không nhỏ cho
hoạt động sinh kế của người dân nơi đây, nhất là khu vực cửa sông, ven biển như suy
giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, thiếu nước sinh hoạt…Vì vậy, việc tìm ra và đánh
giá hiệu quả các biện pháp thích ứng với hiện tượng xâm nhập mặn ngày càng gay gắt
là vô cùng cần thiết.
Đề tài chọn xã Bình Thạnh, huyện Thạnh Phú – một xã đang chịu ảnh hưởng
nặng nề của xâm nhập mặn hàng năm là địa bàn nghiên cứu. Qua phương pháp thu
thập số liệu thứ cấp, tham vấn chuyên gia và điều tra 60 hộ dân ở xã Bình Thạnh gồm
30 hộ áp dụng chuyên canh lúa trong đê và 30 hộ áp dụng mô hình tôm lúa luân vụ, đề
1.1. Đặt vấn đề
1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
2
1.3. Phạm vi nghiên cứu
3
1.3.1. Phạm vi thời gian
3
1.3.2. Phạm vi không gian
3
1.4. Bố cục đề tài
3
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN
5
2.1. Tổng quan các tài liệu nghiên cứu liên quan
3.1.4. Mô hình tôm – lúa luân vụ
27
3.2. Phương pháp nghiên cứu
30
3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu
30
3.2.2. Phương pháp phân tích
31
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của mẫu điều tra
4.1.1. Tuổi và lao động – thu nhập của người được phỏng vấn
v
38
38
38
4.1.2. Trình độ học vấn
38
58
4.4. Đánh giá nhận thức của người dân về xâm nhập mặn – BĐKH và tham vấn
biện pháp thích ứng thích hợp đối với người dân.
59
4.4.1. Sự quan tâm của người dân về biểu hiện và ảnh hưởng của BĐKH
hiện nay
59
4.4.2. Sự quan tâm, nhận thức của người dân về tình hình xâm nhập mặn biểu hiện của BĐKH ở nơi họ đang sinh sống
61
4.4.3. Quan điểm của người dân về các mô hình sản xuất nông nghiệp có
thể thích ứng với xâm nhập mặn mà vẫn ổn định được sinh kế cho họ
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
63
66
5.1. Kết luận
66
5.2. Kiến nghị
IPCC
Ủy ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu
(Intergovernmental Panel on Climate Change )
NN&PTNT
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
ÔNMT
Ô nhiễm môi trường
TNMT
Tài nguyên Môi trường
UBND
Ủy ban Nhân dân
XNM
Xâm nhập mặn
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Giai Đoạn 2002 – 2005
42
Bảng 4.5. Chỉ Số Giá Bình Quân Qua Các Năm (Năm 2009 = 100)
45
Bảng 4.6. Chi Phí Đầu Tư Cho Hệ Thống Đê /1 Ha
45
Bảng 4.7. Tổng Hợp Chi Phí 1 Ha Lúa Vụ Hè Thu - Chuyên Canh Lúa (Năm 2009)
46
Bảng 4.8. Tổng Hợp Chi Phí 1 Ha Lúa Vụ Mùa – Chuyên Canh Lúa (Năm 2009)
47
Bảng 4.9. Tổng Doanh Thu của Mô Hình Chuyên Canh Lúa / 1Ha (2009)
48
Bảng 4.10. Tổng Hợp Doanh Thu- Chi Phí 1 Ha Chuyên Canh Lúa (năm 2009)
48
Bảng 4.11. Lợi Ích và Chi Phí theo Năm Phát Sinh của Mô Hình Chuyên Canh Lúa /
1ha (Quy về năm 2009)
59
Bảng 4.20. Đánh Giá Nhận Thức của Người Dân về Vấn Đề BĐKH và XNM
59
viii
Bảng 4.21. Mức Độ ảnh Hưởng của Các Thiên Tai ở Địa Phương
60
Bảng 4.22. Kết Xuất Các Yếu Tố ảnh Hưởng Đến Nhận Thức của Người Dân về
Xâm Nhập Mặn - Biểu Hiện của BĐKH
61
Bảng 4.23. Khả Năng Dự Đoán của Mô Hình
61
Bảng 4.24. Mức Độ Quan Tâm Về Xâm Nhập Mặn của Người Dân ở Hai Mô Hình
Canh Tác
62
Bảng 4.25. Quan Điểm của Người Dân về Biện Pháp Thích ứng với Xâm Nhập Mặn
trong Tương Lai
Hình 4.3. Dự Báo Xu Hướng Độ Mặn Từ 2010 – 2020 vào Tháng Đỉnh Mặn
Cao Nhất (tháng 4) tại Bến Trại – Sông Cổ Chiên
40
Hình 4.4. Sơ Đồ Lịch Thời Vụ của 2 Mô Hình Canh Tác ở Địa Phương
44
Hình 4.5. Hình ảnh Vuông Bao và Cống Thoát Nước
51
Hình 4.6. Sự Quan Tâm của Người Dân về Biện Pháp Thích ứng với Xâm Nhập Mặn 63
x
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1. Bảng Câu Hỏi Phỏng Vấn
Phụ lục 2. Một Số Hình Ảnh Mô Hình Chuyên Canh Lúa trong Đê
Phụ lục 3. Một Số Hình Ảnh Mô Hình Tôm Lúa Luân Vụ
Phụ lục 4. Bảng Năng Suất / 0,57 Ha Tôm trên 1 Ha Tôm Lúa Qua Các Năm từ 20002009
Phụ lục 5. Bảng Năng Suất / 0,43 Ha Lúa trên 1 Ha Tôm Lúa Qua Các Năm từ 20002009
Phụ lục 6. Cách Tính Chỉ Số Giá
Phụ lục 7. Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Nhận Thức Người Dân về Xâm Nhập Mặn
xi
Chính vì vậy, những chiến lược thích ứng với BĐKH nói chung và tình trạng xâm
nhập mặn ở các huyện ven biển Bến Tre nói riêng là vô cùng thiết yếu để có thể duy trì
và phát triển kinh tế địa phương một cách bền vững. Thích ứng với BĐKH là tìm cách
làm giảm thiệt hại nhiều hết mức có thể bằng các biện pháp thông minh, ít tốn kém, dễ
thực hiện và làm tăng kết quả thuận lợi với các biện pháp được thực hiện đồng thời
nhận ra cơ hội và tận dụng các tác động tích cực của BĐKH cho mục tiêu phát triển
lâu dài (S. Rahmstorf, Hans J. Schellnhuber, 2007). Tuy nhiên, thích ứng là một chiến
lược quản lý rủi ro, đó không phải là miễn phí, giá trị thiệt hại dự kiến có thể được
giảm nhẹ, đổi lại là phải chấp nhận chi phí thực tế của việc thực hiện các chiến lược
thích ứng (William E. Easterling và Ctv, 2004).
Xã Bình Thạnh, huyện Thạnh Phú là một trong những địa phương chịu ảnh
hưởng nặng nề của xâm nhập mặn, những vùng sản xuất lúa 2 vụ ngày càng thu hẹp
diện tích và suy giảm năng suất nếu không có biện pháp thích ứng hiệu quả. Hiện tại,
diện tích canh tác của địa phương này đang thực hiện theo hai mô hình sản xuất: một
phần nằm trong hệ thống đê và chuyên canh 2 vụ lúa hàng năm, phần còn lại chuyển
sang mô hình tôm lúa luân vụ. Mỗi mô hình sản xuất có những tác động tích cực trong
việc giúp địa phương thích nghi với xâm nhập mặn, tạo thu nhập cho người dân, song
song đó là những hệ lụy trong dài hạn. Do đó, để so sánh hiệu quả của hai mô hình này
trong việc thích nghi với xâm nhập mặn ngày càng trầm trọng và duy trì sinh kế cho
người dân trong tương lai, từ đó làm cơ sở để xã Bình Thạnh triển khai thực hiện và
tiếp tục duy trì mô hình mang lại hiệu quả cao, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài
“Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Tế Các Biện Pháp Thích ứng với Xâm Nhập Mặn ở
Xã Bình Thạnh, Huyện Thạnh Phú, Tỉnh Bến Tre”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình lúa – tôm sú luân vụ và
mô hình xây dựng hệ thống đê ngăn mặn giữ 2 vụ lúa/ năm để thích ứng với xâm nhập
mặn ở xã Bình Thạnh, huyện Thạnh Phú, Bến Tre. Với các mục tiêu cụ thể sau:
• Tìm hiểu về tình hình xâm nhập mặn ở địa phương hiện nay và ảnh hưởng của
nó đối với hệ thống sản xuất nông nghiệp.
• Phân tích lợi ích – chi phí của 2 mô hình sản xuất nông nghiệp là: đắp đê dẫn
tiêu nghiên cứu tương ứng. Các phương pháp bao gồm: thu thập số liệu sơ cấp thông
qua việc phỏng vấn trực tiếp những người dân, tham vấn chuyên gia; cùng với việc thu
thập số liệu thứ cấp từ các cơ quan địa phương, tài liệu nghiên cứu liên quan, internet,
báo chí, … sau đó xử lý, phân tích số liệu trên phần mềm word, excel, Eview. Chương
4, thông qua việc tham vấn ý kiến các chuyên gia từ phòng Tài nguyên, phòng Nông
3
nghiệp huyện Thạnh Phú, UBND Bình Thạnh, đề tài đã cơ bản phản ánh được tình
hình xâm nhập mặn ở địa phương. Đồng thời thông qua kết quả điều tra 60 hộ ở xã
Bình Thạnh, tìm hiểu, phân tích và dựa trên kết quả đó, đề tài đã đánh giá được nhận
thức của người dân về tình trạng xâm nhập mặn, cũng như phân tích lợi ích chi phí và
so sánh hiệu quả của 2 mô hình chuyên canh lúa nhờ hệ thống đê và tôm – lúa luân vụ.
Chương 5 rút ra những kết luận xung quanh các vấn đề đã được khảo sát và từ đó đề
xuất những ý kiến cho các cấp, ban ngành địa phương trong việc hỗ trợ người dân triển
khai thực hiện biện pháp đạt hiệu quả để ứng phó với tình hình xâm nhập mặn đang
ngày càng nghiêm trọng ở địa phương.
4
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan
Khí hậu trên toàn cầu đã và đang thay đổi. Điều này làm ảnh hưởng đến thời
tiết ở Việt Nam, ảnh hưởng đến nông nghiệp, sức khoẻ, môi trường tự nhiên, cơ sở hạ
tầng... Thời tiết ngày càng khắc nghiệt hơn cũng như khó tiên đoán hơn so với thời
gian trước đây (Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, 2007). BĐKH đã, đang xảy ra và gây ra
tổn hại rất lớn, và khả năng ngăn chặn là không thể. Do đó phải có biện pháp để thích
cây trồng chủ chốt và vùng nông trại ra khỏi khu vực khô hạn đến một khu vực ôn hoà
hơn và có thể sẽ thích hợp hơn cho một vài vụ trong tương lai.
- Nghiên cứu: Quá trình thích nghi có thể được phát triển bằng cách nghiên cứu trong
lĩnh vực công nghệ mới và phương pháp mới về thích nghi.
- Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi: Một kiểu khác của thích nghi
là sự phổ biến kiến thức thông qua các chiến dịch thông tin công cộng và giáo dục, dẫn
đến việc thay đổi hành vi.
William E. Easterling và Ctv (2004) đã đánh giá về vai trò của thích ứng
BĐKH, điều chỉnh và lựa chọn các giải pháp thích ứng để có thể làm giảm những hậu
quả của BĐKH tới tài nguyên thiên nhiên và nền kinh tế Mỹ. Mục đích của nghiên cứu
này là để xem xét phương án quản lý để thích nghi với biến đổi khí hậu ở Hoa Kỳ, và
để nhận biết các đặc điểm thích ứng của hệ sinh thái đó thúc đẩy việc thực hiện thành
công và đáp ứng nhu cầu quản lý tài nguyên. Hành động và chiến lược thích ứng hiện
nay là một phương pháp bổ sung để giảm nhẹ. Trong khi giảm nhẹ có thể được xem
như là làm giảm khả năng điều kiện bất lợi, thích ứng được xem như giảm mức độ
nghiêm trọng của các tác động bất lợi rất nhiều nếu các điều kiện ưu tiên áp dụng. Chủ
động thích ứng để giảm tổn thương lâu dài của cộng đồng dân cư vùng ven biển, quy
hoạch lại vùng, di tản dân và thay đổi sinh kế cho phù hợp với từng địa phương… là
những giải pháp giảm thiểu các thiệt hại do BĐKH gây ra. Ví dụ về các chiến lược
thích ứng và đối phó với BĐKH hiện nay bao gồm nông dân trồng loại cây trồng khác
nhau cho mùa khác nhau, và động vật hoang dã di cư đến môi trường sống thích hợp
6
hơn. Ví dụ về một chiến lược thích ứng để ngăn chặn thiệt hại từ BĐKH là bảo vệ bờ
biển (ví dụ đê, bãi biển nuôi thủy sản). Nếu các chi phí hoặc các tác động môi trường
của bảo vệ bờ biển là cao so với các tài sản đang được bảo vệ, một chiến lược thích
ứng thay thế sẽ là một kế hoạch rút lui, di dời vào sâu nội địa.
Để thích ứng với BĐKH, nhiều chiến lược đã được đề xuất, tuy nhiên cần phải
đánh giá hiệu quả để lựa chọn biện pháp phù hợp và không ảnh hưởng đến sinh kế
7
Với các mức chiết khấu là 0% (trường hợp vốn trồng rừng là do ngân sách nhà nước
cấp), 5% và 7% (trường hợp vốn trồng rừng là vốn đi vay). Kết quả phân tích như sau:
Bảng 2.1. Giá Trị Hiện Tại Ròng của Dự Án Trồng Rừng Ngập Mặn Phòng Hộ
Đê Biển
ĐVT: đồng/ha
Thời gian thực
dự án (năm)
10
20
30
40
hiện
NPV
r = 0%
r = 5%
r = 7%
900.680
241.750
48.681
6.727.380
3.141.989
2.274.692
12.554.080
4.922.484
trị còn lại của các đê ở các năm cuối của dự án.
Chi phí được diễn tả như giá trị chi phí gia tăng. Các chi phí này ước tính từ các chi
phí mà có thể phát sinh trong dự án, cụ thể là xây dựng, mua sắm, lắp đặt và bảo trì.
2. Dự án tái định cư: Chi phí cơ hội của đất sử dụng cho dự án tái định cư là 0,
vì đất là thuộc sở hữu của chính phủ và là đất nhàn rỗi.
Tổng diện tích và các điều kiện của khu vực nông nghiệp mới tương tự như vùng đất
nông nghiệp trước đây. Mỗi hộ gia đình sẽ nhận được hai ha đất nông nghiệp, do vậy,
15.000 ha đất nông nghiệp sẽ được cung cấp cho 7.500 hộ gia đình, mỗi năm năm cho
đến 157.973 ha. Ruộng lúa mới, nhà ở và xây dựng cơ sở hạ tầng khác sẽ diễn ra trong
giai đoạn năm năm, năm gốc 1 (2007). Tuổi thọ của những cánh đồng lúa, hoa quả
trang trại, ao nuôi tôm, nhà ở và cơ sở hạ tầng khác là 66 năm. Lần thu hoạch gạo và
tôm đầu tiên sẽ diễn ra trong năm thứ ba (một năm sau khi di dời) và thu hoạch hoa
quả đầu tiên sẽ diễn ra sau ba năm kể từ khi di dời.
Lợi ích được diễn tả là giá trị lợi ích gia tăng bổ sung. Lợi ích của việc thành lập khu
vực nông nghiệp mới được ước tính từ lợi ích nhờ tránh được những mất mát những
cánh đồng lúa, cây ăn quả và trang trại tôm và các giá trị còn lại của những cánh đồng
lúa, nhà ở và cơ sở hạ tầng khác ở cuối dự án.
Chi phí được diễn tả như chi phí gia tăng. Chi phí của việc thành lập các khu vực nông
nghiệp mới là những chi phí phát sinh trong việc thực hiện dự án, đặc biệt là xây nhà
ở, cung cấp lương thực và di dời người dân từ các khu vực bị ảnh hưởng đến các khu
vực mới.
Vòng đời của cả 2 dự án là 66 năm. Giá trị quy về năm gốc 2007.
Sự khác biệt giữa các lợi ích và chi phí là những lợi ích ròng. Các dòng lợi ích ròng từ
năm 1 (năm 2007) đến năm 66 của dự án (năm 2072) được quy về năm gốc 2007 với
mức chiết khấu (r = 8%). Tổng các lợi ích ròng là giá trị hiện tại ròng (NPV) của dự
án.
9
nhưng cũng không bảo đảm vệ sinh. Ngoài ra, tác giả còn tìm hiểu về chương trình
thích ứng với xâm nhập mặn ở tỉnh Bến Tre:
- Chương trình 1: Kiểm soát xâm nhập mặn các huyện ven biển, hạn chế và
giảm nhẹ tác hại của quá trình xâm nhập mặn diễn ra trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
- Chương trình 2: Cải tạo tình hình vệ sinh môi trường vùng nông thôn, cấp
nước sạch cho vùng bị xâm nhập mặn.
Nguyễn Quang Cầu (2006) đã đánh giá các tác động của quá trình xâm nhập
mặn: gây hạn trên diện rộng, thiếu nước sinh hoạt trầm trọng, năng suất cây trồng và
vật nuôi suy giảm, đe dọa hệ sinh thái…Sự xâm nhập triều mặn vào sâu trong nội đồng
vùng Đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Lượng nước từ thượng
nguồn đổ về; Biên độ triều vùng cửa sông; Địa hình; Các yếu tố khí tượng; Hoạt động
kinh tế của con người. Qua nghiên cứu thực tế, tác giả rút ra kết luận yếu tố dòng chảy
10
xuôi Qx và độ lớn thủy triều là 2 nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến sự truyền triều và
xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Sự thay đổi của lưu lượng thượng lưu và
mức lấy nước ở đồng bằng trong hai thời kỳ khác nhau có thể là nguyên nhân chính
gây nên sự xâm nhập sâu thêm này, các hồ chứa nước lớn ở thượng lưu sẽ làm thay đổi
tỉ lệ dòng chảy trong năm. Bất kỳ một sự gia tăng Qx nào đều làm giảm xâm nhập mặn
trên sông. Theo tính toán, nếu Qx tăng gấp rưỡi so với hiện nay thì mặn sẽ bị đẩy lùi từ
4-8km và nếu tăng gấp đôi sẽ là 8-15 km. Như vậy càng chứng tỏ Qx đóng vai trò
quan trọng đến sự truyền triều và xâm nhập mặn.
Những nghiên cứu vừa qua đã đánh giá những tác động của BĐKH cũng như đề
ra những biện pháp thích ứng cần được áp dụng. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu
trên chỉ đề xuất nhưng chưa tính toán được hiệu quả các biện pháp áp dụng cho từng
hiện tượng, từng khu vực cụ thể. Trong đó, nghiên cứu của Trần Thị Mộng Ni đã đánh
giá được tổn hại kinh tế xã hội do tác động của sự xâm nhập mặn, biểu hiện của
BĐKH ở một xã ven biển tỉnh Bến Tre. Giá trị thiệt hại này sẽ tăng lên rất lớn nếu
không có những biện pháp thích ứng trong tương lai. Dựa trên cơ sở đó, tôi áp dụng
rừng ngập mặn chiếm 6,7% diện tích toàn tỉnh.
- Vùng địa hình trung bình có độ cao 1- 2m: là vùng đất ngập trung bình hoặc ít
ngập theo triều, chỉ bị ngập khi triều cường vào tháng 9 – 12, đã được người dân lên
liếp làm vườn, đắp bờ trồng lúa... chiếm khoảng 87,5 % diện tích toàn tỉnh.
- Vùng địa hình cao có độ cao từ 2 – 3,5 m, có nơi trên 5 m bao gồm các dải đất
cao ven các con sông lớn từ Chợ Lách đến Châu Thành và phía Bắc – Tây Bắc của
thành phố Bến Tre: các giồng cát tại khu vực ven biển, chiếm 5,8% diện tích tự nhiên
toàn tỉnh.
12
c. Khí hậu
Tỉnh Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, hàng
năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa (tháng 5 -11) với gió mùa Tây Nam và mùa khô
(tháng 12 – 4) với hoàn lưu gió Đông khống chế. Do nằm trong vùng nhiệt đới gió
mùa kết hợp với điều kiện địa hình và mặt đệm là những vườn dừa, vườn cây rộng lớn
và những cánh đồng đan xen tạo cho Bến Tre có sự tương đối đồng nhất về khí hậu,
không có sự phân hóa mạnh mẽ theo không gian giữa các huyện, giữa các vùng ven
biển và các huyện xa biển. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.250 – 1500 mm.
d. Chế độ thủy hải văn
Chế độ triều: Thủy triều biển Bến Tre tương đối lớn, xấp xỉ với thủy triều vịnh
Bắc Bộ, và lớn hơn thủy triều ở bán đảo Cà Mau khoảng 2 lần. Chu kì triều một năm
thường lớn nhất vào tháng 11 và 12 dương lịch, nhỏ nhất vào tháng 5, 6 dương lịch.
Xâm nhập mặn: Do Bến Tre nằm ở vùng cửa sông ven biển chịu ảnh hưởng
của triều, gió chướng, sóng... nên hàng năm tỉnh bị mặn xâm nhập nghiêm trọng, nhất
là vào mùa khô. Độ mặn của nước biến thiên theo từng tháng do ảnh hưởng phối hợp
của thủy triều và lưu lượng nước thủy triều đổ về. Hàng năm vào mùa khô, mặn theo
dòng triều xâm nhập sâu vào các sông chính trong tỉnh, gây thiệt hại ít nhiều đến sản
xuất và đời sống. Triều biển Đông đẩy mạnh vào sâu trên các sông, mặn theo triều nên
một ngày cũng thường xuất hiện 2 đỉnh mặn và 2 chân mặn. Trị số đỉnh mặn và chân
sông và do địa hình thấp nên vào mùa khô nguồn nước bị nhiễm mặn nghiêm trọng,
một số vùng còn bị nhiễm phèn.
- Tài nguyên nước ngầm: Tổng trữ lượng nước ngầm là 32.640 m3/ ngày, tồn
tại ở 3 dạng: nước ngầm giồng cát, nước ngầm tầng nông, nước ngầm tầng sâu.
Tài nguyên rừng: do khí hậu nhiệt đới và tiếp giáp với biển nên thuận lợi phát
triển cả 3 loại rừng: rừng ngập mặn, rừng nước lợ và rừng tự nhiên. Tổng diện tích
trồng rừng tập trung tự nhiên ở Bến Tre là 16 ha và trồng cây phân tán là 3.723 cây,
bên cạnh đó, tỉnh còn đẩy mạnh việc chăm sóc rừng với 1.674 ha và tu bổ được 44 ha
(2009).
14