LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khoá luận này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ trong một khoá luận nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn
gốc.
Hà nội, ngày 20 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Thị Huyền
i
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua, để hoàn thành được khoá
luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản than tôi đã nhận được rất nhiều sự quan
tâm giúp đỡ của các tập thể, các cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa
KT&PTNT Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ
tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ long biết ơn sâu sắc đến cô giáo TS. Nguyễn Thị
Dương Nga đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm bài khoá luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo cùng toàn thể nhân dân xã Trung
Kênh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt đợt thực tập tốt
nghiệp này.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã khích lệ, cổ
vũ tôi hoàn thành khoá luận thực tập tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
FAO
Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc
GTSX
Giá trị sản xuất
NN
Nông nghiệp
NQ - CP
Nghị quyết – Chính phủ
NQ – TU
Nghị quyết – Trung ương
NTTS
Nuôi trồng thuỷ sản
QĐ – UB
Quyết định - Ủy ban
QĐ – TTg
về kinh tế chính trị, xã hội và bảo vệ môi trường… Đây là một biện pháp bảo
đảm công bằng xã hội trong quá trình chuyên môn hoá, hiện đại hoá và hội nhập
kinh tế quốc tế ở nước ta.
Cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu cho thấy vấn đề an ninh lương
thực trên thế giới vẫn hết sức mong manh. Theo đánh giá của liên hợp quốc, giá
lương thực trên thị trường thế giới tăng đến 5% và hiện đang có 33 quốc gia
thiếu lương thực nghiêm trọng, cận kề với nạn đói cần được cứu trợ khẩn cấp.
Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, người nông dân Việt Nam cũng không
thể không lo ngại với thực trạng hơn 40% diện tích nông – lâm nghiệp trên địa
bàn cả nước bị thoái hoá, đồng chiêm trũng không sử dụng được hoặc cho năng
suất cây trồng rất thấp. Trong khi đó dân số ngày một ra tăng đẫn đến tình trạng
đất chật người đông, dù người nông dân có chuyển đổi cây trồng, dồn điền đổi
thửa mà sản xuất theo mô hình cũ thì người dân vẫn không thể thoát khỏi
“nghèo đói”. Đối với nông dân vùng chiêm trũng thì việc chuyển đổi vùng đất
trũng thành vùng nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) là hướng đi hoàn toàn đúng đắn.
Trung Kênh là một xã nằm cuối của tỉnh Bắc Ninh và giáp với sông Thái
Bình nên Trung Kênh có lợi thế phát triển kinh tế Đường thuỷ và vật liệu xây
dựng như khai thác cát, sỏi.... Song song với phát triển ngành vật liệu xây dựng,
xã Trung Kênh cũng rất chú trọng đến phát triển nông nghiệp. Những vùng
chuyên canh sản xuất nông nghiệp xã đã áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản
xuất thu được năng suất cao. Đối với những diện tích đất chiêm trũng canh tác
1
kém hiệu quả, xã tập trung chuyển đổi sang NTTS và trở thành điểm sáng trong
phát triển kinh tế nông hộ. Tính đến nay toàn xã đã chuyển đổi được 40 ha
ruộng trũng sang NTTS. Nhìn chung các phần diện tích thả cá đang phát triển
khá tốt, đem lại hiệu quả rõ rệt, trung bình năng suất đạt 5,2 – 5,5 tấn/ha/năm,
cho thu nhập từ 70 – 75 trđ/ha/năm. Cao gấp 2,5 – 3 lần so với cấy lúa trước
đây. Nhiều hộ đầu tư vốn lớn xây dựng khu NTTS kết hợp cây trồng vật nuôi
trũng tại xã Trung Kênh.
- Đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
NTTS trên đất trũng của xã trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng:
Nghiên cứu các hoạt động gắn liền với các mô hình nuôi trồng thuỷ sản
trên đất trũng tại xã Trung Kênh.
Đối tượng nghiên cứu là những người chưa thực hiện chuyển đổi đất
canh tác sang NTTS và đang trực tiếp sử dụng ruộng trũng cho mục đích NTTS
như các nông hộ, trang trại ở xã Trung Kênh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi:
Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tại xã Trung Kênh, huyện Lương
Tài, tỉnh Bắc Ninh.
Thời gian: Số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài về thực trạng từ năm
2007 – 2009 và đưa ra định hướng phát triển gắn liền với các giải pháp chủ yếu
3
nhằm nâng cao hiệu quả kinh tê các mô hình nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng
của xã trong những năm sau.
Nội dung:
Một số vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về NTTS trên đất trũng chuyển
đổi.
Nghiên cứu kết quả và hiệu quả kinh tế của các mô hình NTTS trên đất
trũng.
4
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
định kinh tế, chính trị xã hội ( Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung, 1997).
Vai trò của đất đai càng lớn hơn khi dân số ngày càng đông, nhu cầu dùng
đất làm nơi cư trú, làm tư liệu sản xuất… ngày càng tăng và nông nghiệp phát
triển trở thành ngành kinh tế chủ đạo. Việc sử dụng đất canh tác có hiệu quả hay
không nó còn ảnh hưởng tới cả nền sản xuất nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế
của một quốc gia.
2.1.1.3 Tên các loại đất chính ở Việt Nam
+ Nhóm đất phù sa: Fluvisol
+ Nhóm đất phèn: Thionic Fluvisol
+ Nhóm đất cát: Arenosol
+ Nhóm đất xám: Acrisol
+ Nhóm đất đỏ: Ferralsol
+ Nhóm đất mặn: Salic Fluvisol
Ngoài ra còn có thể phân loại đất theo độ pH, theo thành phần cơ giới.
Đất canh tác có thể phân loại theo vụ gieo trồng: đất 1 vụ, đất 2 vụ, đất 3 vụ;
theo chế độ tưới tiêu: đất được tưới tiêu chủ động, đất không được tưới tiêu;
phân theo giá trị dinh dưỡng: đất hạng 1, hạng 2, hạng 3 hoặc phân theo địa
hình: đất cao, đất vàn, đất trũng (Đỗ Thị Ngà Thanh, 1997).
Như vậy, đất trũng là một bộ phận của đất canh tác, đất trũng là đất mà có
khả năng canh tác xong hiệu quả thường không cao do thường bị ngập úng vào
mùa mưa, chính vì vậy mà việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất của đất trũng
là quan trọng và rất cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất.
6
2.1.2 Đặc điểm của đất trũng
2.1.2.1 Khái niệm đất trũng
Hiện nay chưa có một khái niệm nào về đất trũng. Chúng ta có thể hiểu
đất trũng là loại đất có địa hình thấp, thường bị ngập úng vào mùa mưa, đất
2.1.3 Các quan điểm về nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng
2.1.3.1 Khái niệm về NTTS
Nuôi trồng thuỷ sản là một khái niệm dùng để chỉ tất cả các hình thức
nuôi trồng thực vật thuỷ sinh ở các môi trường nước ngọt, lợ, mặn (pillay,
1990).
Theo định nghĩa của FAO (1992), NTTS là các hoạt động canh tác trên
đối tượng sinh vật thuỷ sinh như cá, nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thuỷ sinh,…
Quá trình này bắt đầu từ thả giống, chăm sóc, nuôi lớn cho tới khi thu hoạch
xong. Có thể nuôi từng cá thể hay cả quẩn thể với nhiều hình thức nuôi theo các
mức độ thâm canh khác nhau như quảng canh, bán thâm canh và thâm canh.
*) Một số khái niệm khác
- Quảng canh: Là hình thức canh tác ở mức độ đầu tư thấp, nguồn dinh
dưỡng chỉ trông vào tự nhiên. Hình thức nuôi cá kết hợp với trồng lúa hoặc cây
trồng khác chủ yếu thuộc hình thức này.
- Bán thâm canh: Là hình thức canh tác ở mức độ đầu tư trung bình,
nguồn dinh dưỡng vẫn chủ yếu phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng được cung cấp
từ tự nhiên. Lượng thức ăn, phân bón tuy có bổ sung nhưng không nhiều.
- Thâm canh: Là hình thức chăn nuôi với mức độ đầu tư tương đối cao.
Nguồn dinh dưỡng chủ yếu dựa vào thức ăn được cung cấp. Đó là những thức ăn
trộn tươi sống hay đã sấy khô. Sự gia tăng sản lượng có thể có nhờ đóng góp của
thức ăn tự nhiên nhưng không đáng kể.
8
- Nuôi tổng hợp (nuôi ghép): Là nuôi nhiều đối tượng trong cùng thuỷ vực
với mục đích chính là lợi dụng tự nhiên một cách hợp lý. Thí dụ: nuôi ghép cá
trắm cỏ với cá mè trắng, mè hoa và một số loại cá khác.
- Nuôi chuyên canh (nuôi đơn): Là hình thức nuôi chỉ với một loại cá có
khả năng cho hiệu quả kinh tế cao; người nuôi tạo điều kiện thuận lợi nhất về
thức ăn, phân bón cho chúng để thu hoạch với năng suất cao nhất có thể đạt
Để mở rộng phát triển nuôi trồng thuỷ sản và nâng cao trình độ thâm
canh, cần phải có đầy đủ vốn, trang thiết bị kỹ thuật, diện tích đất đai và có thị
trường tiêu thụ thuận lợi.
2.1.3.3 Ý nghĩa của việc chuyển đổi đất trũng sang nuôi trồng thuỷ sản
NTTS trên dịên tích ruộng trũng sẽ đáp ứng nhu cầu gia tăng về thuỷ sản
và khắc phục tình trạng cạn kiệt vê nguồn lực thuỷ sản.
Trên thực tế cho thấy diện tích ruộng trũng chỉ dung để reo cấy thường
hay bị ngập úng khi gặp mưa, trong khi đó nhiều loài thuỷ sản nước ngọt lại rất
phù hợp với môi trường sống này nên việc chuyển đổi ruộng trũng sang NTTS
là hướng đi rất hợp lý.
Xét về hiệu quả kinh tế thì trên một đơn vị diện tích ruộng trũng nếu trồng
lúa thì cho hiệu quả thấp hơn nhiều so với NTTS. Vì vậy để giải quyết vấn đề
đói nghèo cho người dân thì việc chuyển đổi ruộng trũng sang NTTS là cần
thiết.
Do tính chất của sản xuất nông nghiệp là thường có tính mùa vụ, nên
trong khu vực nông thôn thường có tình trạng người nông dân không có việc
làm lúc nông nhàn, vì vậy NTTS sẽ tận dụng thời gian dư thừa và tạo việc làm
cho nhiều lao động khác, tạo them nhiều việc làm trong lĩnh vực dịch vụ: thức
ăn, giống, buôn bán thuỷ sản…
10
Chuyển đổi ruộng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản nó còn góp phần quan
trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn. Góp phần giảm tỷ
trọng ngành trồng trọt tăng tỷ trọng của ngành chăn nuôi và thuỷ sản.
Như vậy việc chuyển đổi ruộng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản phá thế
độc canh cây lúa từ bao đời nay, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp nông thôn, giải quyết vấn đề lao động, nâng cao thu nhập cho người dân,
giải quyết nhu cầu gia tăng về thuỷ sản. Từ đó cho thấy việc chuyển đổi ruộng
trũng sang nuôi trồng thuỷ sản là thực sự cần thiết.
Thứ ba, hiệu quả kinh tế theo quan điểm truyền thống chỉ bao gồm hai
phạm trù cơ bản là thu và chi. Hai phạm trù này chủ yếu liên quan tới yếu tố tài
chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả. Trong
khi đó, các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không chỉ đơn
thuần về mặt kinh tế mà còn cả các yếu tố khác nữa. Và có những phần thu lợi
hoặc những khoản chi phí lúc đầu không hoặc khó lượng hoá được nhưng nó là
những con số không phải là nhỏ thì lại không được phản ánh ở cách tính này.
*) Quan điểm mới về hiệu quả kinh tế
Theo quan điểm mới khi tính hiệu quả kinh tế phải căn cứ vào tổ hợp các
yếu tố. Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra. Về mối quan hệ
này cần phân biệt rõ ba phạm trù: Hiệu quả kỹ thuật (Technical efficency); Hiệu
quả phân bổ các nguồn lực (Allocative efficency) và Hiệu quả kinh tế
(Economic efficency)
Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (0) thu thêm trên một đơn vị đầu vào (I)
đầu tư thêm. Nó được đo bằng tỷ số giữa số lượng sản phẩm tăng thêm trên chi
phí tăng thêm. Tỷ số này gọi là sản phẩm biên, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn
lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm. Hiệu quả kỹ thuật của
12
việc sử dụng các nguồn lực được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa đầu vào
và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các sản phẩm khi nông dân quyết
định sản xuất.
Hiệu quả phân bổ nguồn lực là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị
chi phí đầu tư thêm. Thực chất nó là hiệu qủa kỹ thuật có tính đến các yếu tố giá
sản phẩm và giá đầu vào. Nó đạt tối đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên.
Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm. Nó chỉ đạt
được khi hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa.
+ Yếu tố thời gian, các nhà kinh tế hiện nay đã coi thời gian là yếu tố
trong tính toán hiệu quả, cùng đầu tư sản xuất kinh doanh với một lượng vốn
Giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp tính trên một đơn vị
diện tích mặt nước.
*) Công thức tính hiệu quả kinh tế
Công thức 1: Hiệu quả = Kết quả thu được/ Chi phí bỏ ra
Hay H = Q/C
Trong đó: Q là kết quả thu được như GO, VA, MI
C là chi phí bỏ ra như IC,CPVC
Công thức 2: So sánh mức chênh lệch cuả kết quả sản xuất với mức chênh
lệch của chi phí bỏ ra.
H = ∆Q/ ∆C
Cách xác định kết quả sản xuất thu được và chi phí sản xuất bỏ ra cũng
được hiểu tương tự như đối với công thức thứ nhất.
Giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp tính trên một đồng vốn
đầu tư.
14
Giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp tính trên một công lao
động.
*) Hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng thuỷ sản
Trong NTTS các hộ nuôi nhiều loại cá và do đặc điểm sinh học nên các
loài cá có môi trường sống khác nhau, mỗi loại cá thích nghi với tầng nước nhất
định nên việc tính hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích mặt nước không thể
tách riêng cho từng loài cá.
Trong quá trình tính toán hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích mặt
nước, chúng tôi tính doanh thu, chi phí lợi nhuận… cho tất cả các loại cá mà hộ
nuôi trong vụ gần nhất mà chúng tôi điều tra. Trong quá trình điều tra và tổng
hợp số liệu chúng tôi xác định loại cá nuôi chính khi đầu tư nuôi và thu hoạch,
từ đó đấnh giá được việc đầu tư và kết quả cho thu nhập từ loại cá hộ nuôi có
+ Các chi phí ảnh hưởng đến chi phí nguyên vật liệu như: giá mua con
giống, chất lượng con giống, điều kiện tự nhiên của vùng thu mua, thời gian thu
mua, đối tượng cung cấp, hình thức vận chuyển…
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến khấu hao tài sản cố định như: đặc điểm vùng
sinh thái, tính đại diện của công nghệ, giá thành lắp giáp, thời gian sử dụng, nhà
cung cấp…
+ Chi phí lao động phục vụ sản xuất chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như:
sức lao động, trình độ lao động, thị trường lao động, chiến lược đào tạo sử dụng
của nhà sản xuất…
+ Chi phí thuế sản xuất chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: chính sách
thuế của Nhà nước, mặt hàng của doanh nghiệp sản xuất, thị trường bán sản
phẩm của doanh nghiệp…
16
Như vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế NTTS. Tuy
nhiên mức độ ảnh hưởng của nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, chính sách và
cơ chế quản lý của quốc gia, trình độ năng lực của nhà sản xuất và lực lượng lao
động, mức độ phát triển của khoa học công nghệ, tập quán tiêu dùng,… Từ nhận
định đó có thể rút ra một số nhận xét:
+ Việc làm thế nào để nâng cao hiệu quả kinh tế, đánh giá chính xác hiệu
quả kinh tế là điều rất khó khăn. Để làm được việc đó cần phải đánh giá chính
xác các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế, các yếu tố cấu thành và tác động
đến đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất
+ Hiệu quả kinh tế luôn biến động, chỉ thể hiện tương đối chính xác mối
quan hệ giữa giá trị các yếu tố đầu vào và giá trị sản phẩm đầu ra trong một giai
đoạn nhất định.
+ Bất kỳ ở thời điểm nào hiệu quả kinh tế cũng nằm ở 1 trong 3 khả năng,
đó là H < 1, H = 1, H > 1. Trong trường hợp H < 1 hay H = 1, khi chi phí các
phát triển, trong khi các nước phát triển nhập khẩu tới 80% tổng giá trị thuỷ sản
thế giới mỗi năm.
Trên phạm vi khu vực, 27 nước thành viên của Liên minh Châu Âu là thị
trường tiêu thụ thuỷ sản lớn nhất trên thế giới, nhập khẩu thuỷ sản vào EU tăng
11% lên 23 tỷ USD năm 2007.
Mục tiêu của NTTS là sản xuất ra thành phẩm cho con người. Tuy nhiên
có một số đối tượng nuôi trồng thuỷ sản không trực tiếp cung cấp thành phẩm
18
cho con người như nuôi cá cảnh, nuôi để góp phần tái tạo nguồn lợi… NTTS
đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong các hoạt động kinh tế thế giới, đặc
biệt ở các nước nghèo, nơi mà nông nghiệp đóng vai trò chính trong nền kinh tế
quôc dân. Thành tựu trong NTTS đã góp phần đáng kể trong việc tăng thu nhập
cho dân cư ở những nước nghèo kể từ hơn hai thập kỷ qua.
2.2.2 Kinh nghiệm trong chuyển đổi ruộng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản
của một số địa phương
*) Tỉnh Bắc Ninh
Xã Bình Dương, huyện Gia Bình (Bắc Ninh) là xã điển hình về chuyển
đổi ruộng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản trong tỉnh Bắc Ninh nhiều năm nay.
Đến thời điểm này, được sự khuyến khích, chỉ đạo chặt chẽ của chính quyền địa
phương, bà con nông dân ở các hợp tác xã đã chuyển đổi được trên 150 ha các
chân ruộng đồng chiêm trũng cấy một vụ lúa năng suất, sản lượng thấp sang
nuôi thả cá, hình thành được các vùng nuôi thả cá tập trung rộng từ 10 đến 15
ha, có giá trị hàng hoá, thu hút, sử dụng hàng trăm lao động nông thôn. Kết quả
nuôi trồng thuỷ sản cho thu nhập cao gấp từ 8 đến 10 lần so với thời gian còn
độc canh cây lúa. Ba năm trở lại đây, mỗi năm bình quân sản lượng cá ở trong
xã đạt được đã vượt qua 1000 tấn, thu lãi hàng chục tỷ đồng. Sản lượng cá tăng
cao, xã Bình Dương đã đưa được tổng giá trị ngành chăn nuôi, thuỷ sản hàng
năm lên hơn 12 tỷ đồng. Từ thực tiến sản xuất, năm nay xã Bình Dương tiếp tục
đối với mỗi chủ trang trại. Các hộ sản xuất hiện nay vẫn tự lo bao tiêu sản phẩm
của mình nên khi giá cả thị trường bấp bênh họ trực tiếp chịu ảnh hưởng.
*) Tỉnh Nam Định
Bên cạnh việc chuyển đổi thành công tại một số tỉnh thì việc chuyển đổi
từ đất nhiễm mặn sang nuôi tôm tại Nam Định đang gặp phải khó khăn.
Năm 2002 UBND tỉnh Nam Định phê duyệt dự án “Đầu tư chuyển đổi
vùng lúa nhiễm mặn sang nuôi tôm” tại xã Nam Điền với tổng diện tích 210 ha
20
do UBND xã làm chủ đầu tư. Tổng số vốn đầu tư cho dự án là 11,379 tỷ đồng,
trong đó ngân sách tỉnh hỗ trợ 6,2 tỷ đồng còn lại là vốn tự có của dân, dự án
được tiến hành triển khai đến hết năm 2006 phải chuyển đổi xong. Tôm được
nuôi theo hình thức công nghiệp trên toàn bộ diện tích của dự án. Năm 2005 xã
Nam Điền đã chuyển đổi và đưa vào nuôi thả tôm được 37 ha (trong đó có 12 ha
lúa) với hơn 60 hộ dân tham gia. Tuy nhiên qua 2 vụ những hộ dân này rơi vào
cảnh điêu đứng, nhiều gia đình đã lâm vào cảnh nợ lần hang chục triệu đồng,
nhiều hộ đã phải bỏ cuộc. Có gia đình đã phải bán nhà cửa và tài sản để trả nợ.
*) Nguyên nhân dẫn đến thất bại trong dự án chuyển đổi tại Nam Định
- Đa số người dân xã Nam Điền cho rằng: Dự án này không khả thi bởi
hang trăm ha nuôi thuỷ sản của xã những năm qua không hiệu quả.
- Dự án xa rời với tiềm lực của người dân. Theo thống kê hiện toàn xã này
có gần 20% hộ nghèo. Trong tổng số 726 hộ dân có đất nằm trong dự án thì có
quá nửa điều kiện kinh tế khó khăn, nhiều hộ thuộc diện nghèo đói. Trong khi
đó để nuôi trồng thuỷ sản người dân phải đầu tư số tiền khá lớn.
- Sự bất hợp lý trong khâu khảo sát dự án. Khảo sát dự án là nuôi công
nghhiệp xong thực tế không có diện tích đất để nuôi công nghiệp (Đức Kế,
2006).
Như vậy với kinh nghiệm chuyển đổi ruộng trũng sang nuôi trồng thuỷ
hành quy định hỗ trợ phát triển nông nghiệp giai đoạn 2002-2005 trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh.
Quyết định số 106/2005/QĐ – UB của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc hỗ
trợ phát triển nông nghiệp, hỗ trợ đầu tư chương trình nước sạch vệ sinh môi
trường nông thôn giai đoạn 2006-2010 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
22