ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HOÀNG PHƢƠNG
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở PHƢỜNG TRUNG HÒA, QUẬN CẦU
GIẤY, HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1947 – 2014
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH LÊ
HÀ NỘI - 2017
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 5
1.
Mục đích và lý do chọn đề tài ................................................................................ 5
2.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tƣ liệu tiếp cận........................................... 6
̀ h thành làng xã .......................................................................... 16
1.3.
Kinh tế - xã hội làng xã cổ truyền................................................................. 22
1.3.1.
Kinh tế truyền thống............................................................................... 22
1.3.2.
Tổ chức bộ máy làng xã .......................................................................... 25
Tiểu kết ...................................................................................................................... 29
CHƢƠNG 2 .................................................................................................................. 30
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở XÃ TRUNG HÒA TỪ NĂM 1947 ĐẾN
NĂM 1997 ..................................................................................................................... 30
2.1. Từ năm 1947 đến năm 1986 .............................................................................. 30
2.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội ........................................................................... 30
2.1.3. Mô hình hợp tác xã và những vấn đề ........................................................ 36
2.2. Từ năm 1986 đến năm 1997 .............................................................................. 41
2.2.1. Chủ trƣơng đổi mới của Đảng ................................................................... 41
2.2.2.Tình hình kinh tế - xã hội ............................................................................ 43
Tiểu kết ...................................................................................................................... 48
CHƢƠNG 3 .................................................................................................................. 50
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ Ở PHƢỜNG TRUNG HÒA TỪ NĂM 1997 ĐẾN
NĂM 2014 ..................................................................................................................... 50
3.1. Về đất đai............................................................................................................ 51
Tiểu kết ..................................................................................................................... 110
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................... 114
PHỤ LỤC ................................................................................................................ 122
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
HTX
: Hợp tác xã
UBND
: Ủy ban nhân dân
HĐND
: Hội đồng nhân dân
CCRĐ
: Cải cách ruộng đất
4
MỞ ĐẦU
1. Mục đích và lý do chọn đề tài
phát triển vũ bão của khoa học – công nghệ, Đảng đã chủ trương tiến hành công
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đưa kinh tế - xã hội Việt Nam phát triển
tương xứng với các điều kiện mới.
Có thể thấy rằng, chỉ trong vòng chưa đầy một thế kỷ, Việt Nam đã trải qua
nhiều dấu mốc lịch sử, mà trong suốt quá trình ấy, sự thăng trầm của kinh tế - xã hội
giữ vai trò quan trọng, quyết định sự tồn vong và tương lai của đất nước. Do vậy,
việc nghiên cứu sự chuyển biến kinh tế - xã hội có một ý nghĩa quan trọng.
Nằm tại cửa ngõ phía Tây của mảnh đất nghìn năm văn hiến Thăng Long –
Hà Nội, nơi hiện tại là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xã
Trung Hòa đã hòa mình cùng những thăng trầm của đất nước để trở thành một
phường nội thành khang trang, hiện đại như ngày nay. Đó là cả một quá trình biến
đổi lâu dài và liên tục trên nhiều phương diện, mà kinh tế - xã hội đóng một vai trò
quan trọng. Chính vì những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề: “Chuyến
biến kinh tế - xã hội ở phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội giai
đoạn 1947 – 2014” làm đề tài luận văn cao học của mình. Với mong muốn làm rõ
quá trình hình thành và phát triển của phường Trung Hòa trên khía cạnh kinh tế - xã
hội, chúng tôi hy vọng đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc nghiên cứu lịch sử
thủ đô Hà Nội và lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ 20 đến đầu thế kỷ 21.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tƣ liệu tiếp cận
Khoảng đầu thế kỷ XX, cho đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, các
nghiên cứu về nông dân, nông thôn và xã hội Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện. Có thể
kể đến như: Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính (1914), Người nông dân châu
thổ Bắc Kỳ của Pierre Gourou (1936), Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy
Anh (1938), Văn minh Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên (1944). Đây là những
công trình tiêu biểu, đặt nền tảng cho sự nghiên cứu mang tính khoa học về Việt
Nam trên nhiều phương diện sau này.
Từ giữa thập niên 1980, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế Việt
Nam có sự phục hồi và khởi sắc. Nhờ đó, nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế -
hội của đô thị Thăng Long – Hà Nội thời trung đại đã được tác giả Nguyễn Thừa
Hỷ phân tích chi tiết dựa trên cơ sở những nguồn sử liệu trong và ngoài nước trong
7
công trình Kinh tế xã hội đô thị Thăng Long – Hà Nội thế kỷ XVII – XVIII - XIX.
Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc về Hà Nội
của các nhà nghiên cứu, các nhà Hà Nội học như: Hoàng Đạo Thúy, Trần Quốc
Vượng, Phan Huy Lê, Nguyễn Vinh Phúc, Philippe Papin… 1.
Tại địa bàn đô thị Hà Nội, từ những năm 1998-2000, do tốc độ đô thị hóa
nhanh và mạnh, Sở Khoa học công nghệ và môi trường Hà Nội đã cho thực hiện đề
tài “Nghiên cứu, điều tra, đánh giá thực trạng việc chuyển đổi từ làng, xã thành
phường của các quận mới thành lập trên địa bàn thành phố”, tiến hành khảo sát các
phường: Kim Liên, Dịch Vọng, Phú Thượng, Vĩnh Tuy với mục tiêu xem xét đánh
giá sự biến động của làng, xã, tìm ra nguyên nhân, mức độ đô thị hóa, ảnh hưởng
của quá trình đô thị hóa đến sự phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán, mục
đích sử dụng đất…nhằm xây dựng cơ sở luận cứ khoa học cho các chính sách quản
lý, phát triển đô thị. Bên cạnh đề tài này, có thể kể đến một công trình khác là “Biến
đổi kinh tế - xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa” (2003)là đề
tài do Viện Xã hội học thực hiện, Nguyễn Hữu Minh làm chủ nhiệm. Nghiên cứu
này đã chỉ ra rằng: sự thay đổi kết cấu tổ chức hành chính ở vùng ven đô có thể làm
gây những cú sốc cho những cư dân ở đó, thể hiện ở các mặt cơ cấu kinh tế - xã hội
và các giá trị văn hóa cộng đồng.
Cũng trong sự nghiên cứu quá trình biến đổi của các làng xã ngoại thành Hà
Nội dưới tác động của đô thị hóa, có thể kể đến các công trình nghiên cứu chuyên
biệt hơn. Về sinh kế của người nông dân sau khi bị thu hồi đất có “Chiến lược sinh
kế của người nông dân ven đô trong quá trình đô thị hóa” (2007) của Viện Xã hội
học, hay “Công nghiệp hóa, đô thị hóa và biến đổi sinh kế ở ven đô Hà Nội” (2014)
của Nguyễn Văn Sửu trên cơ sở nghiên cứu nhân học các biến đổi sinh kế tại các
đã thực hiện nhiều khảo sát và điều tra xã hội và văn hóa tại địa bàn thôn Trung
Kính Thượng thuộc phường Trung Hòa để nghiên cứu sự biến đổi môi trường sống
và chuyển đồi nghề nghiệp của các cư dân vùng bị ảnh hưởng bởi đô thị hóa, như:
“Biến đổi môi trường sống dưới tác động của đô thị hóa – trường hợp làng Trung
Kính Thượng, phường Trung Hòa, Hà Nội” (Tạp chí Dân tộc học số 6 năm 2008) và
“Chuyển đổi nghề nghiệp ở một số xã ngoại thành Hà Nội được chuyển thành
phường” (Tạp chí Dân tộc học số 5 năm 2009). Chúng tôi cũng tìm hiểu và nghiên
cứu các tư liệu Hán Nôm như gia phả (Phạm tộc phả ký), bia ký (Kiến lập tự sự bi
ký, Mãi đình môn bi ký), thần phả (Thần tích phả ký), tục lệ (Khoán ước Trung Kính
xã Thượng thôn) do các cụ trong làng và Ban quản lý di tích đình làng Trung Kính
9
Thượng cung cấp. Đây là những tư liệu quý giá, phản ánh nhiều thông tin về lịch sử
và văn hóa, phong tục tập quán của con người và làng xã cổ truyền. Qua những
thông tin đó, chúng ta có thể so sánh, đối chiếu để tìm ra những nét tương đồng và
khác biệt, hay nói cách khác là sự chuyển biến của Trung Hòa trên nhiều phương
diện. Ngoài các tư liệu như trên, chúng tôi còn tiếp cận nguồn tư liệu từ Chi cục lưu
trữ Hà Nội – một kho lưu trữ đồ sộ về Hà Nội. Tại đây, chúng tôi tra cứu và khai
thác những báo cáo kinh tế - xã hội, hồ sơ quy hoạch các dự án và các chỉ thị, công
văn của các Ban, Ngành của Nhà nước có liên quan trực tiếp đến vấn đề mà luận
văn quan tâm.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: đối tượng của luận văn là sự chuyển biến1 kinh tế xã hội tại phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Phường Trung Hòa được
hình thành năm 1997 trên cơ sở xã Trung Hòa (cũ), gồm 3 làng/thôn là Trung Kính
Hạ, Trung Kính Thượng và Hòa Mục. Do đó, chúng tôi tập trung phân tích sự
chuyển biến kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư gốc (cư trú trước 1997) ở trên
địa bàn của 3 làng xã này.
Về phạm vi nghiên cứu: chúng tôi giới hạn những nghiên cứu của mình trong
-
Phân tích và so sánh sự chuyển biến kinh tế - xã hội của phường Trung
Hòathể hiện trên nhiều phương diện khác nhau, đặc biệt là trong giai đoạn
1997 – 2014.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Ngoài việc tiếp thu và phân tích tài liệu thành văn, chúng tôi cũng tiến hành
những công tác thực địa, điền dã, thực hiện nhiều cuộc nói chuyện, phỏng vấn
người dân. Chúng tôi tuân thủ theo những phương pháp nghiên cứu của khoa học
lịch sử như phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp
đối chiếu - so sánh, để một mặt tìm hiểu về nội dung của đề tài dựa trên các mốc sự
kiện và các số liệu theo trục thời gian, mặt khác đặt chúng trong mối quan hệ không
tách rời với các chủ thể liên quan. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng cố gắng học tập, tìm
hiểu và áp dụng các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học
khác như: nhân học, xã hội học.
6. Đóng góp của luận văn
-
Luận văn góp phần làm rõ lịch sử hình thành và phát triển của phường Trung
Hòa trên các phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa.
-
Những đánh giá, lý giải của luận văn được đưa ra trên cơ sở phân tích, so
sánh những thay đổi của phường Trung Hòa qua các giai đoạn, gắn liền với
đó là những đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Qua đó, luận văn
rút ra những kinh nghiệm từ bài học lịch sử, phục vụ cho công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước.
phường nằ m bên bờ nam sông Tô Lich
̣ ; phía Bắc giáp phường Yên Hòa , phía Tây
giáp Mễ Trì (quâ ̣n Nam Từ Liêm), phía Nam giáp phường Nhân Chính (quâ ̣n Thanh
Xuân).
Quâ ̣n Cầ u Giấ y đươ ̣c thành lâ ̣p theo Nghi ̣đinh
̣
74/CP của Chính phủ năm
1996. Ngày 1-9-1997, quâ ̣n đươ ̣c chin
́ h thức hoa ̣t đô ̣ng và vâ ̣n hành bô ̣ máy quản l ý
Nhà nước. Quâ ̣n Cầ u Giấ y đươ ̣c thành lâ ̣p dựa trên cơ sở sáp nhâ ̣p của 4 thị trấn và
3 xã của huyện Từ Liêm . Đó là các thi ̣trấ n Nghiã Đô , Nghĩa Tân, Mai Dich,
̣ Cầ u
Giấ y1 và các xã Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa . Nay tấ t cả đều gọi là phường.
Địa bàn thuộc quận Cầu Giấy ngày nay vốn là một vùng đất cổ , từ xa xưa là
mô ̣t phầ n của huyê ̣n Từ Liêm , phủ Quốc Oai , trấ n Sơn Tây . Thời Nguyễn , từ năm
1831, huyện Từ Liêm thuô ̣c p hủ Hoài Đức , tỉnh Hà Nội ; đến thời Pháp thuô ̣c , từ
năm 1903, thuô ̣c phủ Hoài Đức (đã thu nhỏ ), tỉnh Hà Đông . Sau ngày giải phóng
thủ đô năm 1954, thuô ̣c quâ ̣n VI ngoa ̣i thành . Đế n năm 1961, Hà Nội mở rộng địa
giới hành chiń h , xóa bỏ các quận , lâ ̣p ra 4 khu phố nô ̣i thành và
4 huyê ̣n ngoa ̣i
thành, từ đó huyện Từ Liêm đươ ̣c lâ ̣p la ̣i, gồ m đấ t của 2 quâ ̣n V và VI.
Là một khu v ực làng xã lâu đ ời thuô ̣c mảnh đấ t nghìn năm văn hiế n Thăng
Long – Hà Nội, Trung Hòa thừa hưởng những đă ̣c điể m lich
̣ sử – văn hóa hế t sức
đô ̣c đáo và phong phú . Vùng Trung Hòa nằ m bên bờ Tây Nam dòng sông Tô Lich
̣ ,
nghề , nhiề u đă ̣c sản có giá tri ̣ , đặc biệt là khu vực xung quanh hồ Tây và ven sông
Tô Lịch. Khởi đầ u từ thời Lý , các vua ở Thăng Long hằng năm được nhân dân đem
dâng các thứ của ngon vâ ̣t la ̣ . Làng Mễ Trì dâng gạo ngon , làng Võng Thi ̣dâng cá
béo, làng Hoàng Mai dâng rươ ̣u, làng Vòng dâng cốm ...Vào thế kỷ XVI, ngoài việc
trồ ng lúa, vùng ven sông Tô Lịch đã là nơi trồng và cung cấp nhiều hoa màu và cây
ăn quả, ví dụ như vùng Láng hồi đó đã nổ i tiế n g là nơi trồ ng hành tỏi và các thứ rau
[44, tr.67]. Trong các thế kỷ XV II - XVIII, nông sản phẩ m ở kinh thành Thăng
Long, ngoài thóc lúa và các cây lương thực , còn có nhiề u thứ đặc sảnkhác: Thịnh
Quang trồng long nhã n, Nghi Tàm và Quảng Bá chuyên trồ ng hoa . Theo thời gian,
các làng nghề thủ công ngày càng phát triể n, có những nơi trở thành phường chuyên
nghiê ̣p. Sách Dư đi ̣a chí của Nguyễn Trãi có nhắc tới mộ t số làng nghề nổi tiếng khi
ấy như : Yên Thái (tức làng Bưởi) chuyên làm giấ y , Thụy Chương chuyên dệt vải
nhỏ, Nghi Tàm ngoài trồ ng hoa cũng dê ̣t vải
, dê ̣t lu ̣a , phường Hàng Đào nhuô ̣m
điề u tơ lu ̣a ... Về sau còn thấ y nói đế n nhiề u phường khác như phường Yên Phu ̣ in
tranh, Ngũ Xã chuyên đúc đồ ng, Trích Sài chuyên dệt the, dê ̣t liñ h [44, tr.143].
Giáo sĩ Richard ở thế kỷ XVIII trầm trồ trước cảnh buôn bán sầm uất trên
bế n sông Hồ ng và ở các chơ ̣ sông Tô Lich
̣ ở kinh thành Thăng Long đã phải thố t lên
“số lượng thuyề n bè lớn lắ m , đến nỗi rất khó mà lội đư ợc xuố ng bờ sông : những
sông, những bế n buôn bán sầ m uấ t nhấ t của chúng ta
14
(Âu Châu ), ngay thành phố
Venise nữa với tấ t cả những thuyề n lớn thuyề n nhỏ của nó cũng không thể đem đế n
An Phú nấ u ke ̣o mạch nha ngọt đường
Trung Kínhthì lễ vàng hương
Nghĩa Đô làm giấy để làng tả văn
The La, lĩnh Bưởi, chồ i Phùng
Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ bên
Sự phồ n thinh
̣ của đô thi ̣Thăng Long – Kẻ Chợ trong những thế kỷ trung đại
cũng là tiền đề giúp cho các nghề nông nghiệp , thủ công nghiệp quý giá được bảo
tồ n và phát huy , đồ ng thời góp phầ n ta ̣o nên những vùng văn hóa hế t sứ c đă ̣c trưng
trong bức tranh văn hóa Viê ̣t Nam . Nằ m trong pha ̣m vi của cái nôi văn hóa
, văn
minh ấ y, Trung Hòa thừa hưởng những điề u kiê ̣n thuâ ̣n lơ ̣i về lich
̣ sử và tự nhiên để
tồ n ta ̣i và phát triể n qua nhiề u biế n chuyể n của đấ t nước.
1
2
Dẫn theo: [44, tr.145].
Cầ u Cót, cầ u Trung Kính, cầ u Mo ̣c, cầ u Giát, cầ u Lủ và cầ u Minh Kính .
15
1.2.
Lƣơ ̣c sƣ̉ hin
̀ h thành làng xã
là con cháu họ Hùng ) tên Đô ̣ lấ y người vơ ̣ Châu Ái 2 là Mạc Thị Viên lập làm chính
phi. Sau đó không lâu , Chính phi có mang ở tuổi 23 và sinh hạ một người con trai ,
đă ̣t tên là chàng Nô ̣n . Khi Hùng Duê ̣ Vương sắ p mấ t, chúa bộ Ai Lao cũng là dòng
dõi họ Hùng là Thục Vương đem quân định đánh chiếm nước Văn Lang
. Vua sai
Nô ̣n Công cùng Tản Viên đem quân tuầ n giữ các xứ . Mô ̣t hôm Nô ̣n Công tiế n quân
tới vùng đấ t thuô ̣c xã Kiń h Chủ 3, huyê ̣n Từ Liêm, đươ ̣c nhân dân làm lễ đón mừng .
Quan sát thấ y điạ thế có thể thông với ba xứ
1
(giáp với xứ Đoài , Bắ c và Nam ), điạ
Dịch nghĩa ra là “ Phả ghi chép thần tích ”, đươ ̣c chép la ̣i rõ ràng ngày 28 tháng 9 năm Giáp Dầ n niên hiê ̣u
Tự Đức 7 (1854). Bản dịch của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
2
Đất Thanh Hóa ngày nay.
3
Có cụ trong làng nói là “Cảnh Chủ” .
16
hình lại tiện lợi, đường thủy thông đi các nơi, thuâ ̣n cho viê ̣c dùng binh và rèn luyê ̣n
quân si ,̃ người dân tiń h tiǹ h thuầ n hâ ̣u nên Nô ̣n Công truyề n lê ̣nh cho quân lin
́ h xây
dựng doanh tra ̣i đồ n binh đề phòng chố ng quân Thu ̣c ở các ba mă ̣t . Ít lâu sau Nộn
Công cưới cô Nguyễn Thi ̣Cẩ n Nương , là con gái họ Nguyễn Đức ở xã Kính Chủ
làm đệ nhị phu nhân.
nghiệp, các xóm làng quanh vùng Hà Nội dần ra đời và phát triển, trải dài từ cửa
sông Tô (phố Chợ Gạo hiện nay) đến cống Cót (Yên Quyết) và các làng ở vùng
Láng (Láng Thượng, Láng Trung và Láng Hạ), Mọc (Nhân Chính). Tập hợp các
xóm làng đó trở thành một huyện, rồi quận mang tên Tống Bình (vào khoảng những
1
Dẫn theo: [57, tr.12].
17
năm 454 – 456), rồi Tống Châu, đến đầu thế kỷ VII thành An Nam đô hộ phủ, rồi
Đại La Thành vào thế kỷ IX. Đến thời đức vua Lý Công Uẩn, ông đã chọn nơi vùng
đất thiêng này để xây dựng kinh đô mới “cho muôn đời con cháu mai sau”.
Đời sống của cư dân vùng ven kinh đô ngày xưa thường diễn ra trên một
vùng đất rộng vài ngàn đến vài chục ngàn mét vuông , là những làng xóm có lũy tre
bao bo ̣c , có ao hồ , ruô ̣ng nước làm chướng nga ̣i thiên nhiên đồ ng thời là những
thành tường bảo vệ cư dân làng khỏi thú dữ
, quân cướp , quân xâm lươ ̣c . Phụ nữ
mă ̣c yế m kiń ngực , váy chui. Nam giới đóng khố , kiể u khố thả chấ m mông thả đuôi
dài phía trước, phía sau quấn hai ba vòng quanh bụng 1. Thức ăn chủ yế u là ga ̣o , gạp
nế p nhiề u hơn ga ̣o tẻ , với rau, củ, bầ u, bí, cá, tôm, ốc, gà, lơ ̣n, trâu, ngựa…Dân làng
cũng cất được rượu , ăn trầ u , làm bánh chưng , bánh dầ y. Các hình thức vui chơi ,
sinh hoa ̣t văn hóa cô ̣ng đồ ng như đánh vâ ̣t , đánh đu, chọi gà, múa hát, bơi thuyề n ,
kể chuyê ̣n...cũng đã ăn sâu vào đời sống của cư dân nơi đây.
Trải qua nhiều thăng trầm , biế n cố cùng đấ t nước , xã Kí nh Chủ đã có nhiề u
lầ n thay đổ i hành chiń h và tên go ̣i . Theo Hậu thầ n sự tích phả ký (Phả ghi chép sự
tích hậu thần ): “Ngày 9 tháng giêng năm Vĩnh Trị 2 (1677) vâng chép rõ vào ngày
Năm 1888, khi lâ ̣p thành phố Hà Nô ̣i, mô ̣t số xã của huyê ̣n Từ Liêm đươ ̣c cắ t
vào khu “ngoại ô Hà Nội” . Năm 1899, Phủ Thống sứ Bắc Kỳ quyết định xóa bỏ
huyê ̣n Viñ h Thuâ ̣n rồ i lấ y nố t phầ n đấ t còn la ̣i của
2 huyê ̣n Tho ̣ Xương và Viñ h
Thuâ ̣n cùng mô ̣t số xã thuô ̣c huyê ̣n Từ Liêm , Thanh Trì để lâ ̣p ra huyê ̣n Hoàn Long .
Đế n năm 1915, Toàn quyền Đông Dương quyết định bãi bỏ bỏ vùng ngoại ô Hà
Nô ̣i, sáp nhập huyện Hoàn Long vào tỉnh Hà Đông . Sau đó vua Khải Đinh
̣ ra đa ̣o du ̣
ngày 26-12-1918 quy đinh
̣ cấ p phủ n gang với huyê ̣n thì huyê ̣n Từ Liêm bi ̣xóa bỏ ,
chỉ còn phủ Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Đông
. Để mở rô ̣ng thành phố Hà Nô ̣i , năm
1942 Pháp quyết định cắt 23 làng thuộc phủ Hoài Đức cùng với huyện Hoàn Long
để lập ra “Đại lý đặ c biê ̣t Hà Nô ̣i” , nhưng nhân dân ta vẫn quen go ̣i là đa ̣i lý Hoàn
Long.
Điạ giới và điạ danh hành chính cuả Thăng Long – Hà Nội chỉ trong khoảng
mấ y thế kỷ như trên đã thay đổ i rấ t nhiề u lầ n
. Nằm ở ven đô , xã Kính Chủ cũng
không đứng ngoài quỹ đa ̣o bi ến đổ i liên tu ̣c ấ y . May mắ n thay , các tác giả của sách
Đi ̣a danh Hà Nội thời Nguyễn
1
của đã dày công khảo cứu các nguồn tư liệu Hán
Liêm, phủ Hoài Đức.
STT CTTX BTĐD HNĐB ĐKĐD DMLX
1
2
Kính
Chủ
3
1893
1901 LXBK 1932
+
Trung
Ái
+
+
Trung
Kính
+
+
+
,
anh em dân quân tự vê ̣ ngoa ̣i thành đã chủ đô ̣ng liên kế t vớ i nhau, số ng tâ ̣p trung ,
giúp đỡ đồng bào tản cư và chi viện cho anh em dân quân nội thành xây dựng lực
lươ ̣ng chiế n đấ u.
20
Nhâ ̣n thức rõ tầ m quan tro ̣ng của khu vực ngoa ̣i thành trong công cuô ̣c kháng
chiế n như vâ ̣y, cuố i năm 1947, chính quyền cách m ạng cho hơ ̣p nhấ t Ủy ban kháng
chiế n và Ủy ban hành chính Hà Nội thành Ủy ban kháng chiến – hành chính Hà
Nội, đồ ng thời gô ̣p 5 khu hành chính ngoa ̣i thành làm 3 quâ ̣n. Tiế p đó là cho thành
lâ ̣p các liên khu dựa trên cơ sở sáp nhâ ̣p của các khu hành chin
́ h cũ nhằ m tăng
cường sức ma ̣nh chiế n đấ u và tình đoàn kế t , tạo ra sức mạnh nội lực hỗ trợ cho cuộc
kháng chiến chống Pháp đang trong thời điểm ác liệt nhất , tên gọi Trung Hòa ra đời
trong thời kỳ này (gộp Trung Kính và Hòa Mục thành liên khu Trung Hòa). Đồng
chí Đức Lộc và Phạm Hữu Liêm được Ủy ban kháng chiến cử về vùng Trung Hòa
xây dựng cơ sở kháng chiến. Đến đầu năm 1948, chi bộ Đảng ghép giữa 2 làng hợp
nhất làm một do đồng chí Lăng (cán bộ biệt phái) là bí thư chi bộ [2, tr.33]. Tháng
11/1949, chính quyền ta cho sáp nhâ ̣p các quâ ̣n IV , V và VI 1 thành một quận ngoại
thành gồm 34 liên xã . Xã Trung Hòa ra đời trên cơ s ở sáp nhập 2 xã là: xã Trung
Kính (gồ m 2 thôn Trung Kính Thươ ̣ng và Trung Kính Hạ) và xã Hòa Mục . Cơ cấ u
tổ chức hành chiń h này đươ ̣c giữ maĩ cho đế n năm
1954. Khi thủ đô đươ ̣c giải
phóng, Ủy ban hành chính Hà Nội được thành lập và chia thành phố thành 4 quâ ̣n
Họ lấy nông nghiệp đa canh làm nguồn sống chính, ngoài thâm canh tăng năng suất,
người dân còn xen canh, gối vụ, luân phiên nhau để đất quay vòng [2, tr.9]. Các cụ
trong làng kể rằng, từ lâu đời nay, nhân dân Trung Hòa đã có nhiều kinh nghiệm
thâm canh các loại lúa khác nhau. Để đảm bảo cho chất lượng gạo thơm và có năng
suất cao, người dân nơi đây rất chú trọng cày sâu, bừa kỹ và chăm bón tốt. Do điều
kiện thổ nhưỡng tốt cộng với sự cần cù lao động, các cánh đồng ở Trung Kính
thường xuyên tốt tươi, đẹp mắt. Thế nên trong ca dao tục ngữ dân gian xưa mới có
câu “Lúa làng Giàn1, quan kẻ Mọc2”.
Chăn nuôi
Chăn nuôi gia súc, gia cầm vốn không phải là nguồn sống chủ yếu của người
dân Trung Hòa, tuy nhiên nó cũng góp phần quan trọng hỗ trợ nông nghiệp và đời
sống kinh tế. Từ xa xưa, người dân các thôn làng đã nuôi và sử dụng nhiều gia súc,
gia cầm. Lâu dần, do việc chăn thả bừa bãi gây thiệt hại ruộng đồng, chính quyền
các thôn phải lập khoán ước, quy định phạt tiền nếu ai vi phạm lệ làng: “thấy việc
chăn thả quá bừa bãi, phá hoại ruộng vườn lúa má, công lũy, cây cối nên lập khoán
ước để ngăn cấm người trong thôn nếu có lợn gà trâu bò phải làm chuồng để nuôi,
không được chăn thả bừa bãi, cho nên mấy năm trở lại đây ruộng vườn không bị
phá hoại” [103].
1
Giàn là tên nôm của thôn Hạ xã Kính Chủ (nay là Trung Kính Ha ̣ ).Xin chú ý phân biê ̣t với vùng Kẻ Giàn
(Xuân Đỉnh bây giờ ) cũng là một địa phương thuô ̣c Hà Nô ̣i có tên nôm trùng với tên Giàn của Trung Kính
Hạ. Về tên nôm này , có rất nhiều cách viết và cách đọc khác nhau như : Giàn Kính Chủ , Đàn Kính Chủ , Dàn
Kính Chủ.
2
Vùng Mọc nổi tiếng có nhiều người làm quan trong lịch sử.
22
lấy nhựa trám trắng cũng cầu kỳ lắm. Sau đó nhặt sạch tạp chất, trộn đều với các loại thảo mộc, bột than rồi
cho vào cối giã đến khi thật dẻo, vừa giã vừa rưới nước vào cối cho nguyên liệu được nhuyễn đều và quánh.
Xong mới đem đi se hương. Người làng Trung Kính Hạ chuyên làm tăm hương để người Trung Kính
Thượng se hương. Nghe thì đơn giản, nhưng chẻ tăm hương là cả một công đoạn cầu kỳ, vất vả. Để ra được
2
23
Tết, cả làng phơi hương, vào sân nhà ai cũng thấy những bó hương xòe tròn trên sân
phơi như hoa nở trên luống.
Cũng từ yêu cầu của nghề làm hương là phải sử dụng nhiều kỹ thuật vót tre,
nứa nên người dân Trung kính trong thời gian nông nhàn còn làm một số nghề thủ
công khác như vót đũa tre và làm mành tre/nứa đan. Đũa tre Trung Kính làm ra là
sản phẩm được người tiêu dùng rất ưa chuộng bởi sự chắc chắn, cứng cáp và gắp
thức ăn dễ dàng (đũa có một đầu vuông, một đầu tròn, cầm rất chắc tay). Còn nghề
dệt mành tre/nứa cũng khá phát triển, sản phẩm làm ra được khắp các nơi nội, ngoại
thành mua bán và tiêu thụ, thâm chí xuất khẩu thường xuyên ra nước ngoài. Những
thứ còn sót lại sau quá trình vót tre/nứa để làm tăm, đũa, mành có thể đem bán
ngoài chợ để làm đóm, hoặc cột lại thành đống bùi nhùi để đun nấu.
Hình 1: Một số vật dụng sử dụng trong nông nghiệp và thủ công nghiệp xưa ở Trung Hòa
(Tranh vẽ tay của ông Trần Minh Hải)
những que tăm hương chất lượng, người làng phải lên Bến Nứa, hoặc bãi sông Hồng để mua nứa về chẻ tăm
hương. Họ không dùng tre vì tre có rằm, khó nhẵn, khi làm dễ bị đứt tay, tổn thương. Sau khi chẻ nứa ra làm
nhiều kích cỡ thì đem ngâm ở ao hoặc sông Tô Lịch cho đến khi có mùi. Sau đó dùng dao nhọn sắc, có cán
dài kẹp vào nách mà pha nứa ra thành tăm. Những bó tăm ấy được buộc lại, đem phơi đứng cho thật khô, rồi
mang vào đạp cho tung xơ, bong cạnh, bong rằm. Những tăm hương như thế đã là nhẵn nhụi, nhưng để cẩn
thận, người ta vẫn hơ trên lửa để cháy hết bông xơ, rồi lại dùng khăn ướt tuốt cho hết xơ, lúc đó mới mang đi
se hương. Tham khảo: [59; tr.55 – 57].
Ở cấp thôn, xóm và giáp:
1
Ở đây chúng tôi có tham khảo và sử dụng tư liệu từ các công trình nghiên cứu về các khu vực làng xã lân
cận như: Nhân Chính, Yên Hòa. Xin xem: [13; tr.41-46], [3].
25