ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
NGUYỄN VĂN VẤN
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở KHU
CÔNG NGHIỆP THỤY VÂN, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Hà Nội – Năm 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
NGUYỄN VĂN VẤN
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở KHU
CÔNG NGHIỆP THỤY VÂN, TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành
: Quản lý kinh tế
Mã số
: 60340410
tỉnh Phú thọ giai đoạn 2011 - 2016 ................................................................ 39
2.2.1 Phát triển về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực khu công nghiệp Thụy Vân. 40
2.2.2. Phát triển nguồn nhân lực khu công nghiệp Thụy Vân theo các yếu tố quản
lý ............................................................................................................................................................... 58
2.3.Đánh giá chung .......................................................................................... 63
2.3.1. Những kết quả đạt được ......................................................................................................... 63
2.3.2. Những mặt còn hạn chế và nguyên nhân........................................................................... 64
Chương 3. MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC Ở KHU CÔNG NGHIÊP THỤY VÂN .................. 67
3.1. Định hướng phát triển nguồn nhân lực ở khu công nghiệp Thụy Vân
đến năm 2020. ................................................................................................. 67
3.1.1. Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 ........... 67
3.1.2. Dự báo nhu cầu NNL tại KCN Thụy Vân đến năm 2020. ............................................ 68
3.1.3 Định hướng phát triển NNL ở KCN Thụy Vân................................................................. 69
3.2. Những giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở KCN Thụy Vân tỉnh
Phú Thọ đến năm 2020 ................................................................................... 70
3.2.1. Nhóm giải pháp về giáo dục đào tạo. ................................................................................. 70
3.2.2. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách để thu hút nguồn nhân lực.............................. 72
3.2.3. Nhóm giải pháp về thông tin và dự báo cung cầu NNL................................................. 73
3.2.4. Nhóm giải pháp đối với bản thân khu công nghiệp ........................................................ 75
3.2.5. Nhóm giải pháp thuộc về bản thân các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Thụy
Vân........................................................................................................................................................... 77
3.2.6. Nhóm giải pháp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động. ...... 79
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 82
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
DN
Doanh nghiệp
GTSXCN
Giá trị sản xuất công nghiệp
KCN
Khu Công nghiệp
KT-XH
Kinh tế Xã hội
KCX
Khu chế xuất
KCN
Khu công nghiệp
KH-CN
Bảng 2.6: Phân bổ nhân lực ở KCN theo ngành nghề sản xuất 2010 ................. 43
Bảng 2.7. Tỉ lệ nghỉ phép của người lao động năm 2011 – 2016 .................... 45
Bảng 2.8: Bảng tổng hợp nguồn nhân lực trong KCN năm 2011, 2016............. 46
Bảng 2.9: Bảng tổng hợp chất lượng nhân lực theo Khu vực DN đến năm 2016 ........ 55
Bảng 2.10: Bảng tổng hợp chất lượng lao động theo ngành nghề sản xuất trong
các DN đến hết năm 2016 ................................................................................... 57
Bảng 3.1: Bảng tính tốc độ tăng bình quân nhân lực chất lượng cao ở KCN
Thụy Vân giai đoạn 2011-2016........................................................................... 68
ii
DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu đồ 2.1. Sức khỏe người lao động tại KCN Thuỵ Vân theo khối lao động
trực tiếp và gián tiếp năm 2016 .......................................................................... 44
Biểu đồ 2.2. Trình độ tin học của khối lao động gián tiếp năm 2011 và 2016. ....... 49
Biếu đồ 2.4. Tỉ lệ người lao động đã được đào tạo về kỹ năng mềm khối lao
động gián tiếp năm 2016 ..................................................................................... 50
Biểu đồ 2.5. Tình trạng vi phạm nội quy lao động của khối lao động trực tiếp
sản xuất quý 4 năm 2016..................................................................................... 54
iii
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường
đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác
định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định. Khu kinh tế được
và ưu tiên công nghệ cao, công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ sạch thì
yêu cầu về nguồn nhân lực càng đặt ra cấp thiết cả về số lượng cũng như chất
lượng và cơ cấu. Thực tế hiện nay tại các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ nói
chung, Khu công nghiệp Thụy Vân nói riêng, nguồn nhân lực sẵn có không
phù hợp với yêu cầu phát triển. Tỷ lệ người lao động qua đào tạo còn thấp chủ
yếu là lao động phổ thông. Một bộ phận lao động đã qua đào tạo nhưng còn
hạn chế về kĩ năng lao động, hiểu biết pháp luật , ý thức, tác phong nghề
nghiệp ...Bên cạnh đó đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia giỏi, công nhân làm
nghề trong các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực điện tử, công nghệ cao
ngày càng khó tuyển dụng...
Vì vậy, việc nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng phát triển nguồn
nhân lực ở Khu công nghiệp Thụy Vân tỉnh Phú Thọ để có những giải pháp
nhằm tạo ra sự chuyển biến về chất, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng cho
phát triển kinh tế - xã hội nói chung và khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ nói riêng là rất cần thiết.
Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài " Phát triển nguồn nhân lực ở khu công
nghiệp Thụy Vân tỉnh Phú Thọ" làm nội dung nghiên cứu luận văn tốt nghiệp.
Đề tài hướng đến trả lời câu hỏi nghiên cứu chính là:
Khu công nghiệp Thụy Vân cần phải thực hiện các giải pháp quản lý
nào để phát triển nguồn nhân lực cho chính khu công nghiệp này trong thời
gian tới?
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đề tài
Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một đề tài có lĩnh vực
nghiên cứu rộng và được tiếp cận dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Đã có
2
nhiều công trình nghiên cứu khoa học, hội thảo, các bài viết đăng tải trên nhiều
sách báo, tạp chí khác nhau như:
- Bàn về cùng chủ đề, có thể kể đến nhóm các đề tài như: Đề tài: “Chiến
lược phát triển NNL của Việt Nam” của Tiến sỹ Nguyễn Tuyết Mai; Đề tài:
“Nghiên cứu con người và NNL đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của GS.TS
Phạm Minh Hạc; Đề tài: “Nâng cao chất lượng NNL ngành Xây dựng tỉnh Nam
Định” của Thạc sỹ Nguyễn Văn Va. Bên cạnh đó, cũng có các đề tài vi mô liên
quan đến nguồn nhân lực như: Đề tài: “Nâng cao chất lượng NNL hệ thống kho
bạc nhà nước Việt Nam” của Thạc sỹ Lê Văn Khoa; Đề tài: “Nâng cao chất lượng
NNL của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Nghệ An”
của Thạc sỹ Ngô Anh Tuấn; TS Mai Quốc Chính (1999), "Nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực đảp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước", NXB chính trị Quốc gia,
Hà Nội. - Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Văn Phúc (2008), "Thị trường hàng
hoá sức lao động trình độ cao ở Việt Nam hiện nay", Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh. Đề tài khoa học cấp bộ: Tiến sỹ Nguyễn Minh
Quang (2008), "Thị trường hàng hoá sức lao động chất lượng cao: Những vấn đề
lý luận và thực tiễn ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay". - Luận văn thạc sỹ kinh
tế của Lê Quang Hùng (2006), "Nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển
kinh tế - xã hội ở thành phố Đà Nẵng", Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Nhóm các đề tài trên được tiếp cận theo các khía cạnh khác nhau của
quá trình phát triển đặc biệt được nhìn nhận chủ yếu ở khía cạnh vĩ mô vì vậy
đã cung cấp cho các nhà phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát
triển nguồn nhân lực nói chung và nhân lực cho các khu công nghiệp nói riêng
trong đó yếu tố thị trường lao động và đặc điểm địa phương học phải được
xem xét một cách cụ thể.
- Cuối cùng, nhóm đề tài phân tích sâu hơn về nguồn nhân lực của Phú
Thọ như: Đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp về đào tạo nhằm phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao của tỉnh Phú Thọ ” do Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ
thuật Phú Thọ chủ trì. Luận văn thạc sỹ:“Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là hoạt động phát
triển nguồn nhân lực tại các KCN.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian và thời gian: Đề tài đi sâu phân tích quá trình phát triển
nguồn nhân lực ở Khu công nghiệp Thụy Vân tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 2016 và tầm nhìn đến 2020.
- Về nội dung: Phát triển nguồn nhân lực liên quan và chịu nhiều tác
động của rất nhiều lĩnh vực đa dạng và phức tạp vượt khỏi phạm vi của khu
công nghiệp, vì vậy luận văn xin được chú trọng vào việc nghiên cứu và đề ra
các giải pháp quản lý nhằm phát triển nguồn nhân lực với cấp độ chủ thể quản
lý là khu công nghiệp Thụy Vân tỉnh Phú Thọ.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản như:
- Phương pháp thu thập số liệu:
Đề tài chủ yếu sử dụng số liệu thứ cấp được thu thập thông qua phương
pháp nghiên cứu tài liệu.
Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thứ cấp thông qua các cơ quan
(Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ, Sở Lao động Thương binh
và Xã hội, Sở Y tế, Cục Thống kê), sách, báo, tạp chí, các đề tài có liên quan...
Bên cạnh dữ liệu thứ cấp, đề tài có thu thập một số số liệu sơ cấp thông
qua việc điều tra thực tế tại KCN Thụy Vân tỉnh Phú Thọ bằng các phương
pháp cụ thể là phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý nhân sự, người lao động
trong doanh nghiệp và cán bộ quản lý Khu công nghiệp Thuỵ Vân, Khu công
nghiệp tỉnh Phú Thọ. Số lượng : 120 công nhân và 20 lãnh đạo công ty và 10
cán bộ Ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh.
6
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN LỰC NHÂN LỰC Ở KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực
1.1.1
Một số khái niệm chủ yếu:
Khái niệm về phát triển.
Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình
vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật: từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn.
Chẳng hạn, quá trình biến đổi của các giống loài từ bậc thấp lên bậc cao;
quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thức thức tổ chức xã hội loài người: từ
hình thức tổ chức xã hội thị tộc, bộ lạc còn sơ khai thời nguyên thuỷ lên các
hình thức tổ chức xã hội cao hơn là hình thức tổ chức bộ tộc, dân tộc...; quá
trình thay thế lẫn nhau của các thế hệ kỹ thuật theo hướng ngày càng hoàn
thiện hơn..
Hiện nay, khái niệm về phát triển vẫn còn tiếp tục là vấn đề tranh luận
giữa các nhà nghiên cứu khoa học và hoạch định chính sách trên thế giới. GS
Bùi Đình Thanh khái quát lại bằng việc đưa ra một khái niệm về phát triển:
Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc
trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách
thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của
xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực
tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân
là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của
một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của
một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh
thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước” [12, tr 25]
Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số
trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Như vậy, theo nghĩa
9
rộng, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người của một quốc gia, một
vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, quản
lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội bên cạnh nguồn lực tài
chính, vốn, tài nguyên, thiết bị, v.v… Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực được
hiểu là nguồn lao động. Do đó, nó có thể lượng hóa được là một bộ phận của
dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động,
tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể
các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Nói
cách khác, nguồn nhân lực của một tổ chức, một doanh nghiệp được hình
thành trên cơ sở các cá nhân với các vai trò, vị trí được phân công khác nhau,
nhưng do yêucầu hoạt động của tổ chức, của doanh nghiệp, đã được liên kết
lại với nhau để phấn đấu cho một mục tiêu nhất định, nhằm đạt những thành
quả do tổ chức, doanh nghiệp đó đề ra.
Nguồn nhân lực được xem xét và đánh giá theo hai góc độ là số lượng
và chất lượng.
Về số lượng: Số lượng NNL được tính bằng tổng số người đang có việc
làm, số người thất nghiệp và số người lao động dự phòng. Nhưng đối với
Khu công nghiệp thì NNL không bao gồm những người trong độ tuổi lao động
của toàn xã hội mà chỉ tính những người trong độ tuổi lao động đang làm việc
tại các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp.
tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực, nên có nhiều cách hiểu khác nhau khi
bàn về phát triển nguồn nhân lực. Theo quan niệm của Liên Hiệp quốc,
PTNNL bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc
đẩy phát triển kinh tế xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Có quan điểm
cho rằng: PTNNL là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh
thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người
trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp
ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế xã
11
hội. Tổ chức Văn Hóa, Khoa Học và Giáo Dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO) sử
dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực dưới góc độ hẹp là làm cho toàn bộ
sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ phát triển của
đất nước. Các nhà kinh tế có quan niệm phát triển nguồn nhân lực gần với
quan niệm của UNESCO là phải gắn với phát triển sản xuất, chỉ nên giới hạn
phát triển nguồn nhân lực trong phạm vi phát triển kỷ năng lao động và thích
ứng với yêu cầu về việc làm. Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO):
Sự phát triển nguồn nhân lực như một quá trình mở rộng các khả năng tham
gia hiệu quả vào phát triển nông thôn bao gồm cả tăng năng lực sản xuất.Tổ
chức Lao Động Quốc Tế (ILO) cho rằng phát triển nguồn nhân lực không chỉ
chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc bao gồm cả vấn đề đào tạo nói chung mà
còn là phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con người để phát triển
tiến tới có việc làm hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá
nhân. Đứng trên quan điểm “Con người là nguồn vốn – vốn nhân lực”, tác giả
Yoshihara Kunio (Nhật Bản) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt
động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát
triển của mỗi cá nhân”. Với các cách diễn đạt khác nhau, nhưng PTNNL có
Tuyển dụng là một bước cụ thể nhằm thực hiện bản hoạch định tài
nguyên nhân lực. Quá trình tuyển dụng bao gồm việc mô tả các yêu cầu về
công việc, tổ chức quảng cáo, tiến hành các hoạt động phỏng vấn, đưa ra và áp
dụng các tiêu chuẩn tuyển chọn nhất quán. Tuyển dụng cũng bao gồm việc trao
đổi, thương lượng về mức lương và phúc lợi thích hợp có thể làm thoả mãn cả
nhân viên và Ngân hàng.
Thứ ba - Công tác đào tạo:
Đào tạo là khâu tiếp theo của việc tuyển dụng. Nếu lao động đã đạt yêu
cầu làm việc thì bỏ qua khâu đào tạo, còn chưa đạt yêu cầu thì cần phải tổ chức
thực hiện, sau khi kết thúc giai đoạn đào tạo mà đạt yêu cầu mới thu nhận
13
chính thức với các thủ tục theo quy định của luật pháp và quy chế. Việc đào tạo
nhằm đảm bảo cho người lao động làm việc đúng kỹ năng.
Thứ tư - Chế độ tiền lương và đãi ngộ nói chung:
Đây là một lĩnh vực nhạy cảm, là một trong những động lực quan trọng
để gắn kết người lao động với doanh nghiệp và khuyến khích phát triển tài
năng mỗi người. Việc trả lương thưởng cho người lao động được tính toán và
áp dụng theo các hình thức, cấp bậc khác nhau.
Thứ năm - Quản trị các mối quan hệ trong lao động:
Chủ yếu thông qua quy chế tổ chức và bộ máy của quy trình làm việc,
làm sao để mỗi người đều thấy rõ vai trò của mình và thấy mình thực sự cần
cho mọi người và mọi người đều cần cho mình. Với mục đích duy trì và phát
triển tốt mối quan hệ lao động trong tổ chức sẽ giúp cho các nhà Quản lý nhân
lực xây dựng được tổ chức vững mạnh, đáp ứng được những nhu cầu thay đổi
phức tạp trước các yếu tố môi trường mà tổ chức đang hoạt động.
Thứ sáu - Công tác kiểm tra đánh giá
Đây là một hệ thống chỉ tiêu/tiêu chí để thể hiện các yêu cầu của việc
các ngành kinh tế ở mỗi giai đoạn phát triển; ngược lại sự phát triển quá nhiều
hoặc quá ít, tạo ra sự thiếu hụt hay dư thừa so với nhu cầu của nền kinh tế
quốc dân đều là sự phát triển bất hợp lý về số lượng và gây nên những khó
khăn, trở ngại trong sử dụng nguồn nhân lực.
(2) - Phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng
Phát triển nguồn nhân lực được nghiên cứu là các hoạt động đầu tư phát
triển thông qua 3 yếu tố: trí lực, thể lực và đạo đức.
Trí lực được thể hiện ở góc độ: trình độ văn hóa; trình độ nghề,
chuyên môn kỹ thuật.
Tri thức là yếu tố cơ bản của trí lực, là sự tổng hợp khái quát kinh nghiệm
cuộc sống, là nhận thức lý tính. Nắm bắt được nó sẽ có lợi trong việc chỉ đạo thực
tiễn, có lợi trong việc nâng cao khả năng phân tích và lý giải vấn đề.
15
Trí lực là sự kết tinh của tri thức nhưng không phải là tri thức xếp đống.
Một đống tri thức đơn giản chỉ có thể là cuốn từ điển trong kho chứa sách và
được mọi người sử dụng, còn kết tinh lại bao gồm cả việc chắt lọc, cải tạo và
chế tác tri thức. Đối với những người theo chủ nghĩa Mác, trí lực là năng lực
nhận thức và cải tạo thế giới. Như thế có nghĩa là loại năng lực ấy phải lấy sự
vân dụng tri thức tiến hành khoa học và lao động làm nội dung. Trí lực ngoài
việc chiếm giữ tri thức ra còn phải có một phương pháp tư duy khoa học và kĩ
năng kĩ xảo điêu luyện. Hay nói một cách cụ thể hơn, trí lực được phân tích
theo hai góc độ sau:
(i) Về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Trình độ văn hóa là khả năng về tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu
những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn giản để duy trì sự sống.
Trình độ văn hóa được cung cấp thông qua hệ thống giáo dục chính quy,
ứng viên mà ngoài trình độ chuyên môn nghiệp vụ ( thường được thể hiện qua
bằng cấp, khả năng học vấn…) còn có những kỹ năng mềm khác hỗ trợ cho công
việc. Kỹ năng mềm là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng như: kỹ năng sống, giao
tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, tin học, ngoại ngữ
... là những kỹ năng thường không phải lúc nào cũng được học trong nhà trường,
không liên quan đến kiến thức chuyên môn. Nó bổ trợ và làm hoàn thiện hơn
năng lực làm việc của người lao động. Chúng quyết định bạn là ai, làm việc thế
nào, là thước đo hiệu quả cao trong công việc.
Thể lực
Thể lực là tình trạng sức khỏe của NNL bao gồm nhiều yếu tố cả về thể
chất lẫn tinh thần và phải đảm bảo được sự hài hòa giữa bên trong và bên
ngoài. Chất lượng NNL được cấu thành bởi năng lực tinh thần và năng lực thể
chất, tức là nói đến sức mạnh và tính hiệu quả của những khả năng đó, trong
đó năng lực thể chất chiếm vị trí vô cùng quan trọng. Thể lực tốt thể hiện ở sự
nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai của sức khỏe cơ bắp trong công việc; thể
lực là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực; bởi nếu không chịu được sức
17
ép của công việc cũng như không thể tìm tòi, sáng tạo ra những nghiên cứu,
phát minh mới. Thể lực của NNL được hình thành, duy trì và phát triển bởi
chế độ dinh dưỡng, chế độ chăm sóc sức khỏe. Vì vậy, thể lực của NNL phụ
thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội, phân phối thu nhập cũng như
chính sách xã hội của mỗi quốc gia.
Hiến chương của tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nêu : Sức khỏe là một
trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải
là không có bệnh hoặc thương tật.
Thể lực là sự phát triển hài hòa của con người cả về thể chất lẫn tinh
thần (sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần).Thể lực là năng lực lao động