ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO THỊ DUNG
PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ
TUỆ TẠI VIỆT NAM. THỰC TIỄN PHÁP LÝ VÀ PHƢƠNG
HƢỚNG HOÀN THIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO THỊ DUNG
PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỞ HỮU
TRÍ TUỆ TẠI VIỆT NAM. THỰC TIỄN PHÁP LÝ VÀ
PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN
Chuyên ngành
: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TSVH
: Tài sản vô hình
TSHH
: Tài sản hữu hình
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do lựa chọn đề tài ................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài ................................................................ 2
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn.................... 4
3.1. Mục đích nghiên cứu ................................................................................ 4
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu............................................................................... 4
3.3. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................. 4
4. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................ 5
5. Kết cấu của Luận văn ................................................................................. 6
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ
TUỆ VÀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ .......................... 7
1.1. Khái quát chung về quyền sở hữu trí tuệ .............................................. 7
1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ ............................................................ 7
1.1.2. Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ ...................................................... 9
1.2. Khái quát chung về góp vốn bằng quyền SHTT ................................. 14
1.2.1. Khái niệm góp vốn và bản chất pháp lý của hành vi góp vốn...14
1.2.1.1. Khái niệm góp vốn ........................................................................... 14
1.2.1.2. Bản chất pháp lý của hành vi góp vốn ........................................... 15
2.1.7. Điều kiện hạn chế trong việc góp vốn bằng quyền SHTT ............... 58
2.1.8. Hạch toán tài chính tài sản góp vốn là quyền SHTT ....................... 63
2.1.9. Quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể tham gia góp vốn bằng
quyền SHTT ................................................................................................... 65
2.1.10. Hậu quả pháp lý khi chấm dứt việc góp vốn bằng quyền SHTT ...... 67
2.2. Đánh giá pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền SHTT ........... 68
2.2.1. Kết quả đạt đƣợc ................................................................................. 68
2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân .................................................................... 70
Kết luận Chƣơng 2 ........................................................................................ 78
CHƢƠNG III: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN BẰNG
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN
BẰNG QUYỀN SHTT .................................................................................. 79
3.1. Thực trạng hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT tại Việt Nam ...... 79
3.1.1.
Góp vốn bằng quyền sử dụng nhãn hiệu Vinashin ...................... 80
3.1.2.
Góp vốn bằng nhãn hiệu Sông Đà.................................................. 83
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động
góp vốn bằng quyền SHTT ........................................................................... 85
3.2.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật ............................................................ 85
3.2.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật.............................................. 87
3.2.3. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật góp vốn
bằng quyền SHTT ......................................................................................... 91
nghiệp 2014 cho phép nhà đầu tư nước ngoài góp vốn bằng giá trị quyền
SHTT với tư cách là một loại TSVH để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh
doanh. Tuy nhiên, trên thực tế việc góp vốn kinh doanh bằng quyền SHTT
1
vẫn là một hình thức góp vốn mới mẻ, lạ lẫm và gặp nhiều lúng túng, vướng
mắc từ góc độ pháp lý lẫn thực tiễn áp dụng. Xuất phát từ nhận thức về vai trò
quan trọng của giá trị quyền SHTT đối với mỗi doanh nghiệp và nền kinh tế
trong bối cảnh hội nhập cũng như nhu cầu thực tế về việc sử dụng quyền
SHTT vào hoạt động góp vốn kinh doanh, tôi chọn đề tài: “ Pháp luật về góp
vốn bằng quyền SHTT tại Việt Nam. Thực tiễn pháp lý và phƣơng hƣớng
hoàn thiện”.
Khi chọn đề tài này, tôi hướng đến tìm hiểu và phân tích những vấn đề lý
luận có liên quan đến góp vốn bằng quyền SHTT và làm rõ những tồn tại, hạn
chế của quy định PLVN hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp sửa đổi, bổ sung các
quy định pháp luật liên quan để hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng quyền
SHTT và giúp các chủ thể kinh doanh khai thác tốt hơn nguồn TSTT mà lâu
nay còn bỏ ngỏ, chưa được khai thác triệt để.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Góp vốn bằng quyền SHTT là hình thức góp vốn kinh doanh khá phổ
biến trên thế giới, được pháp luật nhiều nước ghi nhận và biểu hiện qua không
ít các công trình nghiên cứu của các chuyên gia nổi tiếng trong và ngoài nước.
Các tài liệu nghiên cứu, bài báo, chuyên đề của các học giả, nhà nghiên
cứu nước ngoài có giá trị và được phổ biến rộng rãi như:
- “Intellectual Property rights, the WTO and Developing countries”
(Quyền sở hữu trí tuệ, WTO và các nước đang phát triển) của tác giả
C.M.Correa (2000);
- “Intellectual Property rights and economic growth” (Quyền sở hữu trí
thế giới. Vì vậy, trên cơ sở đó, tôi muốn tiếp tục nghiên cứu đề tài về góp vốn
bằng quyền SHTT trên góc độ phân tích sâu hơn về thực trạng pháp lý tại
Việt Nam và đưa ra các giải pháp hữu ích để hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả của hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT trong nền kinh tế hội nhập
như hiện nay.
3
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về góp
vốn bằng quyền SHTT và pháp luật về góp vốn bằng quyền SHTT; nêu rõ
thực trạng hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT tại Việt Nam; rút ra những
điểm tích cực cần phát huy và chỉ rõ những tồn tại, hạn chế cần khắc phục,
loại bỏ; từ đó đề xuất, kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật và nâng
cao hiệu quả thực hiện pháp luật về góp vốn bằng quyền SHTT ở Việt Nam.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là:
- Các văn bản pháp luật về quyền SHTT và góp vốn bằng quyền SHTT ở
Việt Nam;
- Các văn bản pháp luật về góp vốn bằng quyền SHTT của Trung Quốc,
Pháp và Thổ Nhĩ Kỳ;
- Các công trình nghiên cứu, quan điểm, bình luận của các tác giả trong
và ngoài nước về góp vốn bằng quyền SHTT;
- Thực tiễn hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT và các chế định pháp
lý về góp vốn bằng quyền SHTT ở Việt Nam hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu khái niệm và các yếu tố ảnh hưởng đến góp vốn
bằng quyền SHTT, các phương pháp định giá quyền SHTT; nghiên cứu một
quy định pháp luật về góp vốn bằng quyền SHTT của Việt Nam so với các quốc
gia (Trung Quốc, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ), từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm làm
luận cứ cho các đề xuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả điều chỉnh của
pháp luật về góp vốn bằng quyền SHTT ở Việt Nam;
- Phương pháp chứng minh: Được dùng để chứng minh cho các luận
điểm, luận cứ được đưa ra trong Luận văn;
- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để tổng hợp các luận điểm, căn
cứ lý luận được đưa ra trong Luận văn để đưa ra các kết luận của từng chương
và kết luận chung của Luận văn.
5
5. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm 03 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền SHTT và góp vốn bằng
quyền SHTT;
- Chương 2: Pháp luật Việt Nam về góp vốn bằng quyền SHTT;
- Chương 3: Thực trạng hoạt động góp vốn bằng quyền SHTT ở Việt Nam
và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật về góp vốn bằng quyền SHTT.
6
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ
TUỆ VÀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1.1. Khái quát chung về quyền sở hữu trí tuệ
1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ
chương trình đã được mã hoá”; “quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ
chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch
tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh
do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành;
“quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống
cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng
quyền sở hữu” .
Như vậy, quyền SHTT tại Việt Nam được hiểu gồm: (i) quyền tác giả;
(ii) quyền liên quan (đến quyền tác giả); (iii) quyền sở hữu công nghiệp và
(iv) quyền đối với giống cây trồng. Không phải nước nào cũng phân chia
quyền SHTT như vậy. Chẳng hạn, tại nhiều nước và trong nhiều khuôn khổ
(Châu Âu, Tổ chức Thương mại thế giới – WTO, Nhật Bản) có sử dụng khái
niệm “quyền sở hữu công nghiệp” và coi quyền đối với giống cây trồng cũng
là một bộ phận của quyền sở hữu công nghiệp.
Qua đây, có thể thấy rằng, quyền SHTT là quyền mà nhà nước dành
cho các cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu TSTT được kiểm soát độc quyền
TSTT trong một thời hạn nhất định nhằm ngăn chặn sự khai thác các tài sản
này một cách bất hợp pháp. Theo Luật SHTT năm 2005 quy định: “Quyền
SHTT là quyền của các tổ chức, cá nhân đối với TSTT, bao gồm: quyền
tác giả, quyền liên quan đến tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền
đối với giống cây trồng”.
Các đối tượng TSTT được khái quát bao gồm:
8
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Quyền tác giả
- Kiểu dáng công
nghiệp
- Thiết kế bố trí
mạch tích hợp bán
dẫn
- Bí mật kinh doanh
- Nhãn hiệu
- Tên thương mại
- Chỉ dẫn địa lý
Giống cây trồng mới
1.1.2. Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ
Quyền SHTT là quyền sở hữu đối với TSTT - một dạng của TSVH. Do
đó đặc điểm của TSTT có đầy đủ các đặc điểm cơ bản của dạng tài sản cố
định vô hình cụ thể như sau:
- Tính vô hình: TSTT tồn tại chủ yếu dưới dạng thông tin, tri thức, do đó
khó nhận thức sự tồn tại của tài sản này bằng giác quan của con người mà chỉ
bằng nhận thức. TSTT thường được hiện thực khi áp dụng để sản xuất hay
gắn lên các hàng hóa, dịch vụ trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Tính xác định: TSTT là loại TSVH có khả năng nhận diện được. TSTT
thường được thể hiện dưới những hình thức vật chất xác định (bản mô tả,
công thức, hình vẽ…), do đó con người có khả năng nhận biết, khả năng lan
truyền không có giới hạn và có thể do nhiều người cùng chiếm hữu. Đồng
thời, mỗi TSTT là một đối tượng tồn tại độc lập, có nội dung xác định, có
chức năng, công dụng, giá trị xác định. Một TSTT có thể xác định riêng biệt
khi doanh nghiệp có thể đem tài sản đó cho thuê, góp vốn, bán, trao đổi hoặc
thu được lợi ích kinh tế cụ thể trong tương lai. Những tài sản chỉ tạo ra lợi ích
9
10
Thứ hai, căn cứ phát sinh và xác lập quyền đối với quyền SHTT khác
với các TSHH khác. Quyền sở hữu đối với các TSHH là thời điểm chủ sở hữu
xác lập việc chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản đó. Theo quy định của Bộ
luật Dân sự, căn cứ xác lập quyền sở hữu gồm: do lao động, do hoạt động sản
xuất, kinh doanh hợp pháp, được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc
theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thu hoa lợi, lợi tức; tạo
thành vật mới do trộn lẫn, sáp nhập, chế biến; được thừa kế tài sản; chiếm hữu
trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi,
bị bỏ quên, bị chôn dấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di
chuyển tự nhiên; chiếm giữ tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay
tình, liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu theo quy định pháp luật [6,
Điều 170]. Tuy nhiên, quyền SHTT được tạo ra bởi trí tuệ của con người hoặc
những hoạt động do cảm hứng. Đây là hoạt động riêng biệt, có ý thức và sáng
tạo. Với đặc thù của hoạt động sáng tạo nên quyền SHTT được nhà nước bảo
hộ. Do đó, căn cứ phát sinh và xác lập quyền đối với quyền SHTT hầu hết là
khi tiến hành thủ tục đăng ký bảo hộ hoặc nhận chuyển nhượng, thừa kế từ
chủ SHTT. Tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ đối với quyền tác giả và
quyền liên quan; quyền đối với bí mật kinh doanh; quyền đối với tên thương
mại thì việc phát sinh và xác lập quyền khi đáp ứng đầy đủ điều kiện của pháp
luật mà không cần tiến hành thủ tục đăng ký bảo hộ.
Thứ ba, việc thực hiện quyền chiếm hữu của chủ sở hữu quyền SHTT
khác với các TSHH. Quyền chiếm hữu là quyền của chủ sở hữu tự mình nắm
giữ, quản lý tài sản. Quyền chiếm hữu trong quyền sở hữu các TSHH được
thể hiện bằng các chủ sở hữu nắm giữ và quản lý các tài sản của mình. Và
việc nắm giữ, quản lý này của chủ sở hữu sẽ loại trừ việc nắm giữ TSHH đó
của chủ thể khác. Trong trường hợp, tài sản thuộc sở hữu chung của hai hay
thể dõi theo tài sản của mình thông qua các quyền nhân thân đối với TSTT.
Đối với một số đối tượng của quyền SHTT, luật bảo hộ quyền nhân thân của
tác giả sáng tạo ra các đối tượng quyền SHTT và quyền này không thể chuyển
giao cho người khác.
12
Thứ sáu, căn cứ chấm dứt quyền sở hữu đối với TSHH chấm dứt trong
các trường hợp: Chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác;
chủ sở hữu từ chối quyền sở hữu của mình; tài sản bị tiêu hủy; tài sản bị xử lý
để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu; tài sản bị trưng mua; tài sản bị tích thu;
vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di
chuyển tự nhiên mà người khác đã được xác lập quyền sở hữu trong các điều
kiện do pháp luật quy định [6, Điều 171]. Cũng giống như quyền sở hữu tài
sản thông thường, quyền SHTT cũng đều được phát sinh và chấm dứt dựa
trên những căn cứ nhất định. Nếu như quyền sở hữu tài sản thông thường
được phát sinh và chấm dứt gắn liền với sự tồn tại của tài sản thì quyền SHTT
thường chấm dứt theo thời hạn bảo hộ của Nhà nước đối với các TSTT (trừ
một số trường hợp đặc biệt chấm dứt do văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ hiệu lực).
Quyền SHTT chỉ được nhà nước bảo hộ trong một thời hạn nhất định theo
quy định của pháp luật nhằm đảm bảo cân bằng hài hòa lợi ích của chủ sở hữu
quyền SHTT và lợi ích chung của toàn xã hội.
Thứ bảy, một số đối tượng của quyền SHTT được xác lập theo thủ tục
đăng ký bảo hộ bị giới hạn bởi phạm vi lãnh thổ và thời hạn bảo hộ. Quyền
sở hữu đối với TSHH là quyền tuyệt đối và nó không bị giới hạn bởi lãnh thổ
và thời hạn bảo hộ. Chủ sở hữu TSHH luôn được ghi nhận là chủ sở hữu đối
với tài sản dù họ ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Còn đối với các đối
tượng quyền SHTT chỉ được bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ mà họ tiến hành
đăng ký và trong một khoảng thời gian nhất định theo quy định của pháp luật
hành. Hơn nữa, việc lưu thông, trao đổi một tài sản trên thị trường không chỉ
căn cứ vào tập quán của từng địa phương mà phải tuân thủ những quy định
pháp luật về thuộc tính pháp lý của từng loại tài sản.
Việc chuyển đổi quyền sở hữu tài sản cụ thể lấy quyền lợi trong công
ty thường được quy đổi theo tỷ lệ nhất định mà người ta gọi là tỉ lệ vốn góp
mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ.
Lợi ích mà người góp vốn nhận được là phần vốn góp hoặc cổ phần.
Các phần vốn góp và cổ phần này không phải được hình thành từ thế giới vật
14
chất như các TSHH (vật), cũng không phải là sản phẩm được hình
thành từ hoạt động sáng tạo của trí tuệ (đối tượng của quyền SHTT).
Phần vốn góp hiểu là kết quả của sự chuyển một phần giá trị tài sản cụ thể
của người góp vốn vào công ty để đổi lấy một phần giá trị khác trừu tượng hơn.
Tài sản góp vốn về nguyên tắc là tất cả các loại tài sản mà theo quan
niệm của pháp luật Việt Nam hiện nay bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và
quyền tài sản [6, Điều 163]. Tuy nhiên, pháp luật có thể qui định cụ thể về tài
sản góp vốn đối với từng trường hợp cụ thể. Theo khoản 1, Điều 35 Luật
Doanh nghiệp 2014: Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do
chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền SHTT, công nghệ,
bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng đồng Việt Nam.
1.2.1.2. Bản chất pháp lý của hành vi góp vốn
Từ khái niệm trên ta có thể nhận thấy bản chất pháp lý của góp vốn là
hành vi pháp lý làm chấm dứt quyền sở hữu tài sản của người góp vốn, làm
phát sinh quyền sở hữu tài sản của công ty và tạo lập ra công ty (một thực thể
kinh doanh) thuộc sở hữu của người góp vốn hoặc thuộc sở hữu chung của
những người góp vốn.
Khi góp vốn kinh doanh là các thành viên đó tự ràng buộc mình vào
hiểu theo nghĩa kinh tế và nghĩa pháp lý, có nghĩa là cần xem xét khái niệm
phần vốn góp từ phương diện kinh tế và từ phương diện pháp lý.
Nếu xét trên phương diện kinh tế, góp vốn là việc tạo ra tài sản cho
công ty nhằm đảm bảo thực hiện các hoạt động kinh doanh theo mục đích đã
đăng ký của công ty và đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ trong trường hợp
công ty bị phá sản. Khi tài sản được một thành viên, một cổ đông góp vào
công ty, tài sản đó được chuyển dịch quyền sở hữu từ thành viên đó, cổ đông
đó sang công ty. Việc dịch chuyển quyền sở hữu này có thể được thực hiện
thông qua giao kết hợp đồng thành lập công ty của các cổ đông, thành viên
góp vốn. Bằng hành vi góp vốn các thành viên, các cổ đông sáng lập đã tạo ra
sản nghiệp ban đầu cho công ty để đổi lại quyền lợi của mình trong công ty.
Quyền lợi này được xác định theo các quy định của pháp luật và điều lệ của
16
công ty. Ở khía cạnh kinh tế, việc góp vốn hay hùn vốn cũng là việc nhiều
người cùng góp nguồn lực của mình để tạo nên một nguồn lực chung lớn hơn
nhằm thực hiện ý tưởng kinh doanh hoặc hưởng lợi ích từ việc góp vốn vào
hoạt động kinh doanh.
Nếu xét trên phương diện pháp lý, góp vốn là hành vi chuyển giao tài
sản để đổi lấy quyền lợi đối với công ty. Nói tóm lại góp vốn về bản chất
pháp lý là một hành vi pháp lý. Hành vi này là căn cứ làm chấm dứt quyền sở
hữu tài sản của người góp vốn đối với tài sản góp vốn cụ thể, đồng thời làm
phát sinh quyền sở hữu của công ty đối với tài sản góp vốn đó, và làm phát
sinh quyền sở hữu của người góp vốn đối với phần vốn góp vào công ty theo
tỷ lệ với các phần vốn góp khác hoặc quyền sở hữu của người góp vốn
(người mua cổ phần) đối với một hoặc một số cổ phần của công ty.
Có thể lý giải cụ thể rằng: thông qua hành vi góp vốn, mối quan hệ
pháp lý được tạo lập. Nghĩa vụ đối ứng giữa người góp vốn thành lập công ty
SHTT đối với các đối tượng SHTT được xác định trong thời hạn được bảo hộ.
Tuy nhiên, ở đây có sự mâu thuẫn giữa các quy định của pháp luật về góp vốn
thành lập doanh nghiệp. Theo quy định của Luật doanh nghiệp, hoạt động góp
vốn thành lập doanh nghiệp sẽ có sự chuyển dịch về tài sản góp vốn từ bên
góp vốn sang cho doanh nghiệp nhận góp vốn: “Thành viên công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển
quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty ….” [3, Điều 36). Do đó, một trong
những điều kiện để một tài sản có thể được sử dụng để góp vốn thành lập
doanh nghiệp phải là tài sản có thể được đưa vào trong giao dịch dân sự. Tuy
nhiên, nếu sử dụng khái niệm “giá trị quyền SHTT” trong hoạt động góp vốn
thì sẽ không thể hiện được sự chuyển dịch tài sản từ bên góp vốn sang cho
doanh nghiệp nhận góp vốn bởi giá trị quyền SHTT không phải là một tài sản
và nó không thể chuyển dịch trong giao lưu dân sự. Theo quy định của Bộ
luật dân sự năm 2005: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền
tài sản”. Trong Bộ luật dân sự năm 2005 coi quyền SHTT là một quyền tài
18