Bài tập lớn học kì – Luật Dân sự module 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………………………………………………..………………….2
NỘI DUNG…………………………………………………….…………..3
I.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN……………………………………………...3
1. Khái quát chung về thừa kế…………………………………………………...3
1.1. Những quy định chung về thừa kế……………………………………………..3
1.2. Thừa kế theo pháp luật……………………………………………………...…3
2. Diện và hàng thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam…………...…5
2.1. Diện thừa kế………………………………………………………………..…..5
2.2. Hàng thừa kế…………………………………………………………………..8
2.3. Thừa kế thế vị……………………………………………………………...…14
II.
THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DIỆN VÀ
HÀNG THỪA KẾ……………………………………………….………..16
1. Thực trạng tranh chấp và các nguyên nhân tranh chấp thừa kế…………..16
2. Những đề xuất về hướng hoàn thiện các quy định về diện và hàng thừa kế
theo pháp luật……………………………………………………………...…19
KẾT LUẬN…………………………………………………………….…21
DANH MỤC GIÁO TRÌNH VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO………….………….22
1
1. Khái quát chung về thừa kế.
1.1. Những quy định chung về thừa kế.
Theo Điều 631 BLDS 2005 quy định: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định
đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật;
hưởng di sản theo di chúc hoặc pháp luật.”
Như vậy, thừa kế theo quan hệ pháp luật dân sự chính là sự dịch chuyển tài sản và
quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân tổ chức có quyền hưởng
thừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản theo di chúc hay pháp luật
(riêng đối với đất đai là thừa kế quyền sử dụng). Sự dịch chuyển di sản của người chết
sang người sống được thực hiện theo hai căn cứ: Nếu căn cứ theo ý chí, nguyện vọng
của người chết thì được gọi là thừa kế theo di chúc; Nếu căn cứ theo các quy định của
pháp luật thì được coi là thừa kế theo pháp luật.
Các nguyên tắc cơ bản của thừa kế:
-
Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của cá nhân.
-
Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế
-
Tôn trọng quyền định đoạt của người có tài sản, người hưởng di sản
-
Củng cố giữ vững tình yêu thương và đoàn kết trong gia đình(1)
Vì phạm vi những người thừ kế rộng nên pháp luật chia những người thừa kế thành
nhiều hàng thừa kế. Trong đó những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là những
người có quan hệ hôn nhân, huyết thống gần gũi nhất so với những người thuộc hàng
khác. Các hàng thứ hai, thứ ba là các hàng dự bị, những người này chỉ được hưởng di
sản nếu như không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất hoặc nếu có nhưng họ đều không
nhận hoặc không được quyền nhận.
Ở nước ta từ xưa cho đến nay có rất nhiều văn bản pháp luật liệt kê các trường hợp
thừa kế theo pháp luật. Và cùng với sự tiến bộ của hệ thống pháp luật thì các văn bản
này ngày càng được hoàn thiện hơn, cho đến nay thì các trường hợp được nêu ra trong
BLDS 2005 được coi là chi tiết và đầy đủ nhất. Theo Điều 675 thì các trường hợp
thừa kế theo pháp luật gồm:
-
Không có di chúc
-
Di chúc không hợp pháp toàn bộ
-
Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm
với người lập di chúc; cơ quan tổ chức không còn vào thời điểm mở thừa kế.
-
Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có
quyền hưởng di sản, hoặc từ chối quyền hưởng di sản
-
Xác định diện thừa kế là xác định phạm vi những cá nhân được hưởng di sản thừa
kế theo pháp luật. Về diện thừa kế, qua các chế độ xã hội khác nhau đều có một đặc
điểm chung là chủ yếu do quan hệ hôn nhân và gia đình chi phối; mặt khác nó cũng
tùy thuộc vào quan hệ sản xuất của từng giai đoạn phát triển của xã hội và dựa trên
những quy định của pháp luật trong mỗi chế độ, xã hội nhất định mà phạm vi những
những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật được quy định rộng hẹp khác nhau.
Cho đến nay dưới góc độ quy định của pháp luật thì khái niệm diện thừa kế chưa được
đề cập mà người ta mới chỉ ngầm hiểu với nhau rằng diện những người thừa kế là
phạm vi những người hưởng di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. pháp luật
Việt Nam quy định một cá nhân có thể được hưởng di sản do người chết để lại nếu họ
phải thuộc một trong ba mối quan hệ (hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng) với người
để lại di sản.
quan hệ hôn nhân: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết
hôn;” (Điều 8, Luật HN&GĐ 2000). Như vậy chỉ coi là quan hệ hôn nhân giữa một
nam và một nữ neus họ kết hôn hợp pháp. Và để có thể được pháp luật thừa nhận quan
hệ hôn nhân hợp pháp thì họ phải tuân thủ các điều kiện và thủ tục được quy định cụ
thể tại Điều 9 và những trường hợp cấm kết hôn tại Điều 10 Luật HN&GĐ 2000. theo
đó, nam nữ kết hôn phải tuân theo các điều kiện sau:
“1. Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;
5
Bài tập lớn học kì – Luật Dân sự module 1
2. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc lừa
dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;
luật từ sau khi giành chính quyền và thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến
nay ta có thể thấy sự hoàn thiện dần. Cho đến nay BLDS 2005 thì diện thừa kế vẫn
được xác định như năm 1995 gồm: vợ hoặc chồng; các con đẻ và con nuôi (hàng thừa
6
Bài tập lớn học kì – Luật Dân sự module 1
kế thứ nhất); bố mẹ đẻ hoặc bố mẹ nuôi; ông bà nội, ngoại; anh chị em ruột (hàng thừa
kế thứ hai); cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu ruột, dì
ruột của người chết (hàng thừa kế thứ ba); cháu ruột của người chết mà người chết là
ông bà nội, chắt ruột của người chết nếu người chết là cụ nội, ngoại (thừa kế thế vị).
song có điểm khác biệt là chắt được liệt thêm vào hàng thừa kế thứ ba.
Tuy nhiên bên cạnh đó pháp luật cũng loại trừ quyền thừa kế của những người
trong diện thừa kế nếu có hành vi trái pháp luật được quy định tại điều 643 BLDS
năm 2005. Cụ thể bao gồm:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng sức khỏe hoặc hành vi ngược
đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng, danh dự nhân
phẩm của người đó.
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm
hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế có quyền hưởng.
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập
di chúc; giả maọ di chúc, sửa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ
di sản trái với ý chí người để lại di sản.
Tóm lại, những người không có quyền hưởng di sản theo khoản 1 Điều 643
BLDS năm 2005 không có quan hệ thừa kế với người để lại di sản. Họ không được
hưởng thừa kế dù theo di chúc hay theo pháp luật. Tuy nhiên nếu người có di sản đã
biết hành vi của người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc thì họ sẽ được
hưởng thừa kế theo khoản 2 Điều 643 BLDS năm 2005. Với quy định này tù thuộc
chuẩn xác mới áp dụng đúng pháp luật đồng thời ngăn chặn được sự mất đoàn kết
trong dòng tộc cũng như có tác dụng giáo dục ý thức sống, ý thức pháp luật cho những
người thuộc diện thừa kế.
2.2.
Hàng thừa kế
a, Bản chất hàng thừa kế.
Theo pháp luật, di sản của người chết được chia cho những người thân thích, gần gũi
với người chết. Tuy nhiên khhông phải cá nhân nào nằm trrong diện thừa kế cũng
được hưởng di sản như nhau và cùng một luúc mà họ chỉ được hưởng nếu thỏa mãn
những điều kiện do pháp luật quyy định. Điều kiện do pháp luật quy định hoàn toàn
không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người thừa kế. Trên cơ sở xác định diện thừa
kế như đã trình bày trên, pháp luật quy định những người có thể được hưởng di sản
8
Bài tập lớn học kì – Luật Dân sự module 1
thừa kế của người chết được xếp theo thứ tự các hàng thừa kế, theo nguyên tắc ưu tiên
và những người thừa kế cùng hàng được hươnngr phần di sản bằng nhau.
Hàng thừa kế theo pháp luật có thể hiểu là nhóm những người có cùng mức độ
gần gũi với người chết và theo đó họ cùng hưởng ngang nhau đối với di sản thừa kế
mà người chết để lại.
Theo khoản 1 Điều 676 BLDS 2005, pháp luật Việt Nam chia những người trong diện
thừa kế ra làm ba hàng:
Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi,
vợ ở miền Bắc mà việc kết hôn sau không bị huỷy bỏ bằng một bản án có hiệu lực
pháp luật thì những người vợ đó đèu là nggười thừa kế ở hàng thứ nhất của người
chồng và ngược lại.
Thứ năm, đối với các trường hợp hôn nhân không đăng ký kết hôn nhưng cuộc
hônn nhân đó được tiến hành trước ngày luật hôn nhân và gia đình 1986 có hiệu lực
pháp luật (có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng kí kết hôn) thì quan hệ vợ chồng
vẫn được thừa nhận nên họ là người thừa kế theo pháp luật là hàng thứ nhất của nhau.
Thứ sáu, hai vợ chồng đã ly hôn nhưng sau đó quay lại chung sống với nhau trước
ngày luật hôn nhân gia đình 1986 có hiệu lực pháp luật mà cuộc sống chung đó không
bị hủy bỏ bằng một bản án có hiệu lực thì quan hệ vợ chồng đó vẫn được chấp nhận.
Thứ bảy, đối với nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 trở
đi trước ngày 1/1/2001 (ngày luật HN&GĐ 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết
hôn nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng thì quan
hệ hôn nhân của họ vẫn được coi là hợp pháp nhưng trong khoảng thời gian từ ngày
1/1/2001 đến ngày 1/1/2003 họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã
phường nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn. Còn nếu sau ngày 1/1/2003 mà họ
không đi đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng hợp pháp (theo Nghị
quyết số 35/2000/QH – ngày 9/6/2000 của QH).
Quan hệ giữa cha mẹ với các con.
+ Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ đẻ với con đẻ.
Cha đẻ, mẹ đẻ, con đẻ được thừa kế theo pháp luật của nhau không chỉ là quy định
thừa kế của pháp luật Việt Nam mà còn là của hầu hết các nước trrên thế giới. Con đẻ
đươc hưởng thừa kế của cha mẹ đẻ không kể là con trong giá thú hay con ngoài giá
thú. Đây là mối quan hệ xác lập dựa trên cơ sở là mối qua hệ huyết thống giữa những
người cùng dòng máu trực hệ trong phạm vi hai đời liền kề nhau. Trong đó cha mẹ đẻ
là người sinh ra người đó nên được quy định ở hàng thừa kế thứ nhất.
+ Quan hệ thừa kế giữa cha nuôi mẹ nuôi với con nuôi và ngược lại.
10
quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của
nhau và còn được thừa kế theo di sản theo quy định tại Điều 676 và 677 của bộ luật
11
Bài tập lớn học kì – Luật Dân sự module 1
này”. Như vậy ta có thể thấy quy định trên là hết sức tiến bộ phù hợp với đời sống
thực tế nhằm ngăn chặn những tư tưởng lạc hậu thường tồn tại trong tư tưởng và quan
hệ của một số người.
Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị
ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông
ngoại, mà ngoại.
Mối quan hệ thừa kế giữa ông nội, bà nội với cháu nội, giữa ông ngoại, bà
ngoại với cháu ngoại và ngược lại:
Theo pháp luật Việt Nam quy định thì mối quan hệ giữa ông bà và cháu là mối
quan hệ huyết thống. Ông bà nội là người sinh ra cha của cháu, ông bà ngoại là người
đã sinh ra mẹ của cháu. Do đó việc thừa kế của ông bà khi cháu chết và cháu nhậ thừa
kế của ông bà là đương nhiên theo luật. Nhưng trước đây BLDS 1995 chỉ quy định
ông bà (nội, ngoại) ở hàng thừa kế thứ hai của cháu chứ không quy định cháu ruột ở
hàng thừa kế thứ hai của ông bà. Sở dĩ có những quy định đó trong luật năm 1995 bởi
những nhà làm luật cho rằng nếu cha mẹ của cháu chết trước ông bà thì cháu sẽ được
thừa kế thế vị, nếu cha mẹ của cháu còn sống khi ông bà chết thì cha mẹ cháu sẽ được
hưởng thừa kế. Tuy nhiên trên thực tế có những trường hợp ông bà chết nhưng cha mẹ
Quan hệ giữa cụ nội, cụ ngoại với chắt nội chắt ngoại và ngược lại
Tương tự như quan hệ thừa kế giữa ông, bà (nội, ngoại) với cháu ruột và ngược
lại. Cụ nội là người thân sinh ra ông nộihoặc bà nội, cụ ngoại là nggười sinh ra ông
ngoại hoặc bà ngoại người chết nên đây là mối quan hệ huyết thống nganh dọc
chạydọc bốn thế hệ. những người này sẽ được thừa kế ở hàng thứ ba của chắt ruột và
ngược lại.
Quan hệ thừa kế giữa bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột với cháu
ruột:
Quan hệ thừa kế giữa những người này với nhau cũng dựa trên mối quan hệ huyết
thống. Bác ruột là anh hoặc chị của cha hoặc mẹ người chết, chú ruột là em trai của
cha người chết, cô ruột là em gái của cha người chết, cậu ruột là em trai của mẹ người
chết, dì ruột là em gái của mẹ người chết. Những người này theo pháp luật được xếp
vào hàng thừa kế thứ ba của nhau.
b, Hưởng di sản thừa kế theo trình tự hàng.
Trình tự ưu tiên hưởng di sản phải theo quy luật sắp xếp thứ tự các hàng. Trước
hết, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được ưu tiên hàng đầu bởi giữa họ có
mối quan hệ thân thuộc, thiêng liêng và gần gũi nhất. Hàng thừa kế thứ nhất được xác
định trên cả ba mối quan hệ huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng. Tuy nhiên những
người này sẽ không được hưởng di sản nếu vi phạm khoản 1 Điều 643 BLDS năm
2005 hoặc bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Và lúc này, ngoài
những người trên không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất thì những người thừa kế ở
hàng tiếp theo sẽ được hưởng di sản, điều này cũng tương tự như đối với hàng thừa kế
13
hưởng. đây là một hạn chế của BLDS 1995 về thừa kế thế vị bởi khi cha mẹ cháu chết
trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì đáng lẽ ra cha meju cháu
được hưởng phải thế vị cho cháu và xem đó như quyền lợi, trách nhiệm bổn phận
đáng lẽ ra cha mẹ cháu không chết sẽ nuôi dưỡng và chăm só cháu. BLDS 2005 đã bổ
sung trường hợp chết cùng thời điểm quy định tại điều 677 BLDS 2005. Nhưng quy
14
Bài tập lớn học kì – Luật Dân sự module 1
định này cũng cần phải có sự xem xét kỹ bởi xét theo quan hệ thân thuộc cháu không
có lỗi và cũng không chịu trách nhiệm về hành vi độc lập của bố mẹ. Thiết nghĩ nên
cho cháu hoặc chắt của người để lại di sản được thừa kế thế vị ngay cả trong trường
hợp cha mẹ cháu bị tước quyền hưởng di sản khi còn sống. Với quy định này, một
phần đảm bảo sự ổn định và bảo vệ quyền lợi của cháu, chắt khi không còn cha mẹ.
Theo quy định hàng thừa kế thứ 2 tại điều 676 BLDS 2005 và thừa kế thế vị tại
điều 677 BLDS 2005 thì cháu thuộc diện thừa kế của ông bà. Vậy khi nào cháu được
thừa kế thế vị của ông bà và khi nào cháu được hưởng thừa kế theo hàng? Thừa kế thế
vị không phải là thừa kế theo hàng mà chỉ dựa trên cơ sở hàng thừa kế đây là hai khái
niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ với nhau. Vì vậy căn cứ theo quy định tại
khoản 1 và quy định về điều kiện chia di sản thừa kế theo hàng tại khoản 3 Điều 676
BLDS 2005, sự cần thiết phải làm rõ trong trường hợp nào thì cháu, chắt được hưởng
thừa kế theo pháp luật của ông bà và các cụ (nội, ngoại).
Trong trường hợp những người thừa kế thứ nhất đều đã chết mà trong số những
người đã chết có cha hoặc mẹ cháu thì trong trường hợp này cháu được thừa kế thế vị.
Nhưng không phải mọi trường hợp toàn bộ những người ở hàng thừa kế thứ nhất đã
chết thì người thừa kế ở hàng thứ hai được hưởng di sản. Mà có những trường hợp tại
hàng thừ kế thứ nhất có các con của người để lại di sản và người co đó đã có con, là
cháu của người để lại di sản thì con của người đó là cháu của người để lại di sản được
thừa kế thế vị, không phải là người hưởng di sản theo hàng thừa kế thứ hai. Như vậy
Cuộc sống vật chất ngày một nâng cao, bên cạnh tư liệu tiêu dùng, di sản thừa kế
còn bao hàm cả tư liệu sản xuất có giá trị lớn. đặc biệt kể từ khi pháp luật của nhà
nước ta ghi nhận đất có giá trị và quyền sử dụng đất được coi là một quyền tài sản của
cá nhân thì quyền sử dụng đất mà người chết để lại đôi khi lại là một tài sản có giá trị
rất lớn. Có những trường hợp nggười chết để lại hàng ngàn mét vuông đất chỉ cho một
người quản lý sử dụng nhưng không có tranh chấp gì vì lúc đó giá trị không đáng kể.
Nhưng khi mỗi mét vuông đất lên cơn sốt giá thì những tranh chấp là tất yếu xảy ra vì
nó liên quan mật thiết đến lợi ích của mỗi người. Mặt khác di sản thừa kế của người
chết có khi bao gồm cả những tài sản hữu hình (nhà, đất, vườn…) còn bao gồm cả
những tài sản vô hình (thờ cúng tổ tiên, chăm sóc người thân còn lại của người
chết…..) trong khi pháp luật lại có những quy định rất chung chung dẫn đến việc áp
dụng pháp luật đối với cơ quan nhà nước đã khó khăn nhưng đối với những người dân
thì đó quả là một vấn đề không hề đơn giản. Hiện nay số vụ việc tranh chấp liên quan
đến diện và hàng thừa kế xảy ra khá nhiều mà xung quanh những vụ việc này ta có thể
lần ra những nguyên nhân cơ bản.
Vụ việc 1: tranh chấp thừa kế giữa những người trong hàng thứ nhất và thứ hai.
16
Bài tập lớn học kì – Luật Dân sự module 1
Bản án số 02/DSST ngày 10 tháng 1 năm 2007 của tòa án nhân dân huyện Hàm
Yên đã xử việc chia di sản của ông Nguyễn Hùng Tiến sinh năm 1954, trú tại thôn
Tân Lập, xã Đức Ninh, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang với bị đơn là anh Nguyễn
Văn Lương sinh năm 1983 trú tại thôn Tân Lập, xã Đức Ninh, huyện Hàm Yên, tỉnh
Tuyên Quang.
Ba người con của ông Tiến đều bị truất quyền hưởng di sản nhưng anh Tuấn chết cùng
thời điểm với ông Tiến do vậy di chúc liên quan đến anh Tuấn vô hiệu và toàn bộ di
sản được phân chia theo pháp luật. Do anh Tuấn chết cùng thời điểm vớiông Tiến, do
vậy hai người con của anh Tuấn là Mai và Khang được thừa kế thế vị. Tại hàng thừa
kế thứ nhất của ông Tiến chỉ còn một suất thừa kế liên quan đến anh Tuấn và các con
của anh Tuấn được thừa kế thế vị là: Mai = Khang = 720.000.000 đồng : 2=
360.000.000 đồng.
Nhận xét:
Như vậy qua vụ tranh chấp trên chúng ta thấy rằng cùng là một nhận định nhưng
cách chia di sản của 2 Tòa án là hoàn toàn khác nhau. Thoạt nhìn ta sẽ cho rằng tòa sơ
thẩm đúng bởi nhiều người thắc mắc cho rằng tại sao những người ở hàng thừa kế thứ
nhất vẫn còn mà tại sao lại cho người thừa kế ở hàng thứ hai hưởng? Nhưng trên thực
tế quyết định của tòa phúc thẩm mới chính xác bởi một điều rất đơn giản là theo
nguyên tắc hưởng di sản theo trình tự hàng thừa kế và không thể có hai hàng thừa kế
cùng được hưởng di sản (trường hợp những người ở hàng thứ nhất bị truất quyền thừ
kế). Chính vì hiểu theo hai hướng khác nhau mà các tòa án cũng dẫn đến những phán
quyết sai lầm dẫn đến kiện tụng nhưng đồng thời qua tình huống này ta có thể thấy
ranh giới giữa đúng và sai là rất mong manh và việc áp dụng pháp luật trong xác định
diện thừa kế có thể dẫn đến những sai sót.
Như vậy thông qua vụ án trên cũng như tìm hiểu một số vụ án liên quan đến tranh
chấp thừa kế liên quan đến diện và hàng thừa kế và thực tiễn xét xử đối chiếu với quy
định của pháp luật về thừa kế ta thấy có một số nguyên nhân sau:
-
Khi còn sống rất nhiều người không nghĩ đến chuyện lập di chúc vì lắm thủ
tục, chưa nắm rõ. Một số khác những di chúc định đoạt không rõ ràng dẫn đến số vụ
án tranh chấp mang ra pháp luật là phổ biến đồng thời do những hiểu biết về những
quy định về pháp luật của nhà nước của đại bộ phận người dân về những quy định của
pháp luật về thừa kế còn hạn chế.
áp dụng nhiều khi rất khác nhau và do cách hiểu của những nhà làm luật là khác nhau.
Thứ hai, những quy định chung tại điều 642 BLDS 2005 quy định những trình tự
thủ tục đối với người từ chối nhận di sản rất phức tạp chưa phù hợp với thực tế. bởi lẽ
theo quan niệm của dân cũng như nguyên tắc tự định đoạt của chủ thể khi tham gia
quan hệ dân sự, việc từ chối hưởng di sản mà phải tuân theo những thủ tục, quy định
nghiêm ngặt theo Điều 642 BLDS 2005 có phần thiếu thuyết phục. Hơn nữa về thời
hạn từ chối hưởng di sản theo quy định tại điều 645 BLDS 1995 thì thời hạn là 6
tháng kể từ thời điểm mở thừa kế với quy định này sau 6 tháng không từ chối thì
không có cơ sở để xác định là chấp nhận việc từ chối hay nhận di sản. Đây cũng là
19
Bài tập lớn học kì – Luật Dân sự module 1
một điểm rắc rối khi giải quyết tranh chấp và cho đến khi khoản 3 Điều 642 BLDS
2005 quy định rõ sau 6 tháng không từ chối được xem là đồng ý. Tuy nhiên so với
thời hiệu khởi kiện 10 năm thì thời hạn từ chối là 6 tháng có vẻ như không hợp lí. Giả
sử nếu sau 6 tháng người đó vẫn cương quyết từ chối nhận di sản thì Tòa sẽ giải quyết
như thế nào? Đây cũng là một vấn đề mà các nhà làm luật phải xem xét kỹ.
Thứ ba, mối quan hệ giữa hàng thừa kế thứ hai và thừa kế thế vị cần được làm rõ
hơn nữa. bởi xét về cơ cấu tuổi trong hàng thừa kế thứ hai mặc dù các nhà làm luật đã
quan tâm đến cơ cấu tuổi đối xứng về địa vị pháp lý của chủ thể theo hàng. Vì ông
nôi, bà nôi, ông ngọai bà ngoại được thừa kế của cháu ruột mình là ông, bà (nội,
ngoại) và ngược lại cháu được thừa kế của ông, bà (nội, ngoại) của mình. Nhưng tại
Điều 677 BLDS lại quy định trường hợp thừa kế thế vị. mặc dù như đã trình bày ở
hàng thừa kế thứ hai lý do mà các nhà làm luật bổ sung cháu được thừa kế thứ hai,
chắt ở hàng thừa kế ở hàng thứ ba bên cạnh điều luật thừa kế thế vị là nhằm bảo vệ
quyền lợi cho người được hưởng di sản, quan tâm đến quyền lợi của các cháu, chắt
khi bố mẹ cháu vẫn còn sống nhưng không được hưởng do bị truất quyền hưởng di
sản, hoặc từ chối nhận di sản. Và mặc dù ai cũng biết thừa kế thế vị không phải là
xác hơn.
21
Bài tập lớn học kì – Luật Dân sự module 1
DANH MỤC GIÁO TRÌNH VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập 1,
Nxb. CAND, Hà Nội, 2006.
2. Lê Đình Nghị (chủ biên), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập 1, Nxb.
Giáo dục, Hà Nội, 2009.
3. Phùng Trung Tập, Luật Thừa kế Việt Nam, Nxb. Hà Nội, 2008.
4. Phạm Văn Tuyết, Thừa kế - Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng,
Nxb. CTQG, Hà Nội, 2007.
5. Phan Thị Kim Chi – Diện và hàng thừa kế theo quy định của BLDS năm
2005 – Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội – 2006.
6. Nguyễn Minh Tuấn, Pháp luật thừa kế của Việt Nam – Những vấn đề lí
luận và thực tiễn, Nxb. Lao động – xã hội, Hà Nội, 2009.
7. Phùng Trung Tập, “Pháp luật thừa kế Việt Nam hiện đại – Một số vấn đề
cần được bàn luận”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 7/2008, tr. 26 –
32.
8. Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học,
Nxb. CAND, 1999.
9. Bộ luật dân sự năm 1995 và 2005.
10. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
11.http/://www.chinhphu.vn
12.http://www. Sinhvienluat.vn.
22