Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán về trách nhiệm của kiểm toán viên và tính hữu ích của thông tin trên báo cáo tài chính được kiểm toán nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

ĐỖ THỊ HẰNG

KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN VỀ
TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ
TÍNH HỮU ÍCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO
CÁO TÀI CHÍNH ĐƢỢC KIỂM TOÁN NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

ĐỖ THỊ HẰNG

KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN VỀ
TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ
TÍNH HỮU ÍCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO
CÁO TÀI CHÍNH ĐƢỢC KIỂM TOÁN NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS. TRẦN THỊ GIANG TÂN


4.2.

Phạm vi nghiên cứu ..........................................................................................3

5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 3
6. Kết cấu của đề tài................................................................................................ 4
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ......................................................... 5
1.1.

Các nghiên cứu nước ngoài ........................................................................... 5

1.1.1. Nghiên cứu về sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ........................5
1.1.2. Nghiên cứu về các nhân tố cấu thành của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ....7
1.2.

Các nghiên cứu trong nước ......................................................................... 14

1.3.

Nhận xét về các nghiên cứu trước và xác định vấn đề cần nghiên cứu ....... 16

1.3.1. Đối với các nghiên cứu nước ngoài ...............................................................16
1.3.2. Đối với các nghiên cứu trong nước ................................................................17
1.3.3. Vấn đề cần nghiên cứu ...................................................................................17
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ...................................................................... 20


2.1.

Khái niệm về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ............................................ 20

2.5.2. Lý thuyết niềm tin cảm tính (Inspired Confidence Theory). .........................33
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................. 36
3.1.

Quy trình nghiên cứu .................................................................................. 36

3.2.

Thiết kế nghiên cứu..................................................................................... 37

3.2.1. Các giả thuyết nghiên cứu ..............................................................................37
3.2.2. Thiết kế thang đo ............................................................................................38
3.2.3. Xây dựng bảng câu hỏi...................................................................................39


3.2.4. Thiết kế mẫu ...................................................................................................42
3.2.5. Phương pháp phân tích dữ liệu.......................................................................43
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.............................. 45
4.1.

Kết quả khảo sát khoảng cách kỳ vọng về trách nhiệm của KTV và tính hữu

ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán. ....................................................... 45
4.1.1. Kết quả thống kê mô tả ..................................................................................45
4.1.2. Kết quả kiểm định giả thuyết .........................................................................46
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................... 60
5.1. Kết luận.......................................................................................................... 60
5.1.1. Điểm thống nhất ..............................................................................................60
5.1.2. Những khác biệt trong quan điểm tạo nên khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại
Việt Nam ...................................................................................................................61

4. BGĐ

Ban giám đốc

5. BQT

Ban quản trị

6. CMKiT

Chuẩn mực kiểm toán

7. DNKT

Doanh nghiệp kiểm toán

8. ĐVĐKT

Đơn vị được kiểm toán

9. GTTB

Giá trị trung bình

10. KTV

Kiểm toán viên

11. NQL


Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu


1

PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thực hiện chủ trương đa
dạng hoá các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế được mở rộng và ngày càng
đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Trong điều
kiện nền kinh tế như vậy, BCTC của doanh nghiệp không chỉ để báo cáo cho các cơ
quan quản lý nhà nước nhằm kiểm tra và xét duyệt, các thông tin này cần cho nhiều
người, được nhiều đối tượng quan tâm, khai thác sử dụng cho các quyết định kinh
tế.
Dù ở nhiều góc độ khác nhau nhưng tất cả các đối tượng này đều có cùng kỳ
vọng là có được các thông tin từ BCTC với độ tin cậy, trung thực và hợp lý. Đáp
ứng yêu cầu đó, hoạt động kiểm toán độc lập ra đời, trở thành bộ phận cần thiết,
đáng tin cậy và không thể thiếu trong đời sống các hoạt động kinh tế. Kiểm toán độc
lập cung cấp cho những người sử dụng kết quả kiểm toán sự hiểu biết về những
thông tin tài chính được lập trên cơ sở các nguyên tắc, chuẩn mực theo quy định
pháp luật, và các thông tin đó có trung thực, hợp lý hay không?
Tuy nhiên, hiện nay niềm tin vào các BCTC đã bị giảm bởi chất lượng hoạt
động kiểm toán BCTC chưa đáp ứng được mong đợi của người sử dụng. Thuật ngữ
khoảng cách kỳ vọng (AEG) bắt đầu xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ 20 sau
các thất bại nghề nghiệp kiểm toán, do sự khác biệt trong kỳ vọng của người sử
dụng với thực tiễn của nghề nghiệp kiểm toán. AEG lần đầu tiên xuất hiện ở Hoa
Kỳ, sau đó lan rộng sang các quốc gia khác như Canada, Anh, Úc. Dù đây không
phải là chủ đề mới, tuy nhiên từ khi ra đời đến nay vẫn luôn nhận được quan tâm
bởi các tổ chức nghề nghiệp, của giới học thuật, là một trong những cơ sở giúp hoàn
thiện chuẩn mực kiểm toán.


Điều tra để chứng tỏ có tồn tại hay không tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
về trách nhiệm của KTV tại Việt Nam.

-

Điều tra để chứng tỏ có tồn tại hay không tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
về tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán tại Việt Nam.

-

Đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và các
kiến nghị nhằm tăng niềm tin của người sử dụng BCTC đối với hoạt động kiểm
toán độc lập.


3

3. Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi thứ 1: Có tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và người sử
dụng về trách nhiệm KTV không?
- Câu hỏi thứ 2: Có tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và người sử
dụng về tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán không?
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.

Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khoảng cách kỳ vọng về trách nhiệm của
KTV và tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán.

chính để ra quyết định cho vay hoặc đánh giá tình hình hoạt động để đầu tư hay


4

đánh giá khả năng đóng góp cho Nhà nước thông qua đóng góp cho các loại
thuế…; nhóm này được khảo sát bao gồm: nhân viên ngân hàng, các nhân viên
làm việc ở các công ty chứng khoán, các nhà đầu tư, các nhân viên làm việc tại
các cơ quan thuế…
-

Chọn mẫu khảo sát: lựa chọn theo phương pháp thuận tiện phi xác suất.
Kích thước mẫu dự kiến 200 gồm kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo
thông qua bảng câu hỏi.
Để đảm bảo việc thu thập dữ liệu đầy đủ và nhanh chóng, tác giả sử dụng

phương pháp tiếp cận khảo sát qua mail và một số phương tiện liên lạc khác đánh
giá trực tiếp trên ứng dụng của www.docs.google.com.vn.
Dữ liệu thứ cấp
Các bài báo, tạp chí, luận văn và nghiên cứu cả trong và ngoài nước về khoảng
cách kỳ vọng kiểm toán.
Công cụ phân tích dữ liệu
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS, sau khi được sàng lọc và làm sạch,
dữ liệu được sử dụng để thực hiện các phân tích sau: thống kê mô tả, kiểm định
Independent Sample T-Test.
6. Kết cấu của đề tài
Kết cấu của luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

sử dụng BCTC yêu cầu kiểm toán viên có trách nhiệm nhiều hơn trong việc phát
hiện và báo cáo gian lận và các hành vi không tuân thủ pháp luật hơn là những gì
mà kiểm toán viên cho rằng mình phải làm.
(3) Low (1980) đã điều tra khoảng cách kỳ vọng trên tại Úc về mức độ phát hiện
và trách nhiệm công bố sai sót, gian lận và các hành vi không tuân thủ pháp luật
giữa kiểm toán viên và những người sử dụng BCTC. Kết quả là cả hai nhóm có
nhận thức hoàn toàn khác nhau. Nghiên cứu này cũng nhất quán với nghiên cứu của


6

Lee (1970) và Lee cho rằng những bên liên quan có kỳ vọng cao hơn về hoạt động
kiểm toán hơn là những gì mà kiểm toán viên đang thực hiện.
(4) Low và các cộng sự (1988) đã điều tra khoảng cách kỳ vọng giữa kiểm toán
viên và các nhà phân tích tài chính về mục tiêu kiểm toán tại Singapore. Những đối
tượng khảo sát được cung cấp danh sách 13 mục tiêu của cuộc kiểm toán. Kết quả
nghiên cứu chỉ ra rằng mục tiêu cơ bản của cuộc kiểm toán là đưa ra ý kiến của
KTV về BCTC. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng cuộc kiểm toán cần được
xem như là sự bảo đảm về tính chính xác về BCTC của một đơn vị. Nhìn chung
mong đợi của các nhà phân tích tài chính về trách nhiệm KTV trong việc ngăn chặn
và phát hiện sai phạm trọng yếu từ phía kiểm toán viên cao hơn là những gì mà
kiểm toán viên có thể thực hiện.
(5) Humphrey và các cộng sự (1993) thực hiện cuộc điều tra để thu thập bằng
chứng về ý kiến và nhận thức về kiểm toán từ nhiều nhóm người khác nhau. Kết
quả chỉ ra không có sự khác biệt đáng kể liên quan nhận thức về việc lập BCTC là
phải tuân thủ theo luật định và chuẩn mực, nhưng có sự khác biệt đáng kể về vai trò
của kiểm toán viên. Nói chung, kiểm toán viên cho rằng họ có trách nhiệm và vai
trò ít hơn so với những người sử dụng BCTC kỳ vọng về họ. Một điều thú vị là 71%
kiểm toán viên không cho rằng Bảng cân đối kế toán trình bày trung thực về tình
hình tài chính, trong khi đó 51% Giám đốc tài chính và 81% những người sử dụng

kiểm toán kỳ vọng ở Ireland. CIEUFS kết luận rằng khoảng cách mong đợi kiểm
toán cấu thành từ những yếu tố: Tính chính xác của BCTC , nguyên tắc hoạt động
liên tục/ khả năng thanh toán, cảnh báo về sự phá sản sắp xảy ra, gian lận, mức độ
tuân thủ chuẩn mực kiểm toán và tính độc lập của kiểm toán viên.
 Tính chính xác
Nghiên cứu cho thấy rằng, đa số người sử dụng luôn có niềm tin đối với báo
cáo kiểm toán, họ cho rằng ý kiến trên báo cáo kiểm toán là chấp nhận toàn phần thì
BCTC là chính xác tuyệt đối. Ủy ban này cho rằng “khoảng cách tồn tại giữa kiểm
toán viên và người sử dụng báo cáo tài chính về mức độ chính xác trên báo cáo tài
chính chỉ có thể thu hẹp được bằng cách làm cho những người sử dụng báo cáo tài
chính hiểu rằng trên báo cáo tài chính thì còn khá nhiều khoản ước tính, do vậy việc
xét đoán là không thể tránh khỏi”
 Nguyên tắc hoạt động liên tục/ khả năng thanh toán


8

Báo cáo tài chính thường được lập dựa trên giả định hoạt động liên tục nếu
ngược lại, báo cáo tài chính phải được lập dựa trên giả định khác và cần phải thuyết
minh rõ trên báo cáo tài chính. Trách nhiệm của BGĐ xét đoán xem liệu giả định
này có được tôn trọng hay không khi lập BCTC. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho
thấy, BGĐ không cho rằng đó là trách nhiệm của mình phải công bố trên báo cáo tài
chính hay báo cáo thường niên của Công ty về giả định này. Chính vì vậy, khi công
ty bị phá sản thì khoảng cách giữa người sử dụng báo cáo tài chính đối với đơn vị
được kiểm toán hay với kiểm toán viên lại càng có sự chênh lệch lớn khi lợi ích của
người sử dụng BCTC bị ảnh hưởng.
 Cảnh báo về sự phá sản sắp xảy ra
Nghiên cứu cho thấy rằng cả kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo tài
chính đều cho rằng kiểm toán viên có trách nhiệm phát hiện và cảnh báo về sự phá
sản sắp xảy ra đối với đơn vị được kiểm toán, cung cấp cho người sử dụng thông tin

41% số người được khảo sát xác định trách nhiệm của KTV là đưa ra ý kiến kiểm
toán về tính trung thực, hợp lý của BCTC; 24% cho rằng báo cáo kiểm toán là báo
cáo về tính hữu hiệu của quá trình quản lý của đơn vị được kiểm toán; 25% cho
rằng đó là kết quả kiểm toán sẽ cho thấy sự bảo đảm về tình hình tài chính của công
ty; 10% còn lại cho rằng họ không biết thực sự về công việc của KTV. Ngoài ra, Ủy
ban này cũng nhận thấy rằng có một sự nhầm lẫn về thông tin được truyền tải trên
báo cáo kiểm toán, đây là nguyên nhân vì sao khi một công ty bị phá sản, người sử
dụng BCTC đều cho rằng đó là lỗi của KTV.
(3) Gloeck và De Jager (1993) đo lường khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại
Cộng hòa Nam Phi. Kết quả chỉ ra rằng có khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và có 3
nhân tố chính cấu thành nên là (i) tính độc lập của kiểm toán viên; (ii) trách nhiệm
của kiểm toán viên, đặc biệt liên quan đến gian lận và tính liên tục hoạt động; (iii)
sự không thỏa mãn về kiểm toán bắt buộc đối với các công ty có quy mô nhỏ. Hơn
60% người trả lời cho rằng kiểm toán viên bị ảnh hưởng đáng kể từ phía các nhà
quản lý của công ty khách hàng.
(4) Porter (1993) đã nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại New
Zealand, kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng cách kỳ vọng gồm hai thành phần cấu
thành bởi: Khoảng cách về kết quả và khoảng cách hợp lý. Khoảng cách về kết quả
là khoảng cách do dịch vụ chưa hoàn hảo. Khoảng cách hợp lý là khoảng cách do


10

yêu cầu quá cao của xã hội đối với nghề kiểm toán. Nghiên cứu được thực hiện
thông qua khảo sát hai nhóm đối tượng bị ảnh hưởng bởi hoạt động kiểm toán: (1)
là nhóm tài chính bao gồm các KTV, nhân viên các công ty, các nhà phân tích tài
chính, sinh viên kiểm toán và (2) là nhóm công chúng bao gồm luật sư, phóng viên
tài chính và các thành viên của công chúng nói chung. Từ kết quả nghiên cứu của
mình, Porter đã xác định có hơn 20% công chúng nhận thức KTV phải thực hiện 10
nhiệm vụ trong khi nhóm cộng đồng tài chính cho rằng đó là điều không hiệu quả

kỳ vọng kiểm toán rất lớn ở Singapore, đặc biệt là trách nhiệm của KTV đối với
việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận, cụ thể:
+ KTV có trách nhiệm phát hiện tất cả các gian lận
+ KTV chịu trách nhiệm duy trì sổ sách kế toán
+ KTV chịu trách nhiệm trong việc ngăn ngừa hành vi gian lận
+ BCTC đã được kiểm toán phản ánh trung thực và hợp lý
+ BCTC đã được kiểm toán là hữu ích trong việc giám sát hoạt động của đơn
vị…
Tóm lại, kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố cấu thành nên khoảng cách kỳ
vọng kiểm toán giữa KTV và người sử dụng báo cáo kiểm toán là sự khác biệt trong
nhận thức của mỗi nhóm, khác nhau về trách nhiệm KTV, vai trò và chức năng của
kiểm toán. Ngoài ra kết quả từ nghiên cứu này đã đưa ra được giải pháp cho các
chuyên gia để giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và cải thiện việc ra quyết
định của người sử dụng báo cáo tài chính.
(7) Mohamed Nazri Fadzly Zauwiyah Ahmad (2004) nghiên cứu này dựa trên
các nghiên cứu của Schelluch (1996) và Best và cộng sự (2001) nhằm mục đích
điều tra về sự tồn tại và các nhân tố cấu thành của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở
Malaysia. Động lực của nghiên cứu này là từ sự thất bại của Enron và Andersen,
bên cạnh đó môi trường kế toán của Malaysia đã được cải thiện đáng kể sau các
cuộc cải cách kế toán và kiểm toán vào những năm 1998 về luật BCTC và việc
thành lập ban Chuẩn mực kế toán Malaysia. Phương pháp thực hiện là sử dụng bảng
khảo sát gồm 2 phần: phần 1 liên quan về nhân khẩu học của người trả lời, phần 2
gồm 17 câu hỏi liên quan về sự khác biệt về nhận thức giữa KTV và người sử dụng
báo cáo kiểm toán dựa vào 2 yếu tố cấu thành: trách nhiệm KTV, độ tin cậy và tính
hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán. Tác giả đã khảo sát 1.300 người


12

và thu về được 398 phiếu khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng cách kỳ

13

cộng sự. Cũng như các nghiên cứu trước, kết quả tìm thấy là khoảng cách kỳ vọng
kiểm toán tại Iran được cấu thành từ ba yếu tố chính là mức độ tin cậy của BCTC
được kiểm toán và thông tin hữu ích mà BCTC được kiểm toán mang lại cho người
sử dụng, đặc biệt là trách nhiệm KTV đối với việc phát hiện gian lận, tính hiệu quả
của hệ thống kiểm soát nội bộ và trách nhiệm chuẩn bị BCTC.
(10) Amirhossein Taebi Noghondari Soon-Yau Foong (2013), nghiên cứu này
được thực hiện riêng đối với lĩnh vực ngân hàng về những nội dung chính như là:
tiền đề và hậu quả của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại Malaysia, trách nhiệm
kiểm toán và độ tin cậy của BCTC được kiểm toán đối với việc cho vay của các
ngân hàng tại Malaysia. Kết quả nghiên cứu cho thấy một khoảng cách khá lớn giữa
cán bộ tín dụng ngân hàng (kể cả với cán bộ tín dụng có kinh nghiệm lâu năm) và
các kiểm toán viên về trách nhiệm của KTV và độ tin cậy của BCTC được kiểm
toán mang lại. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng quyết định cho vay của ngân
hàng. Nghiên cứu này cũng đề xuất rằng để thu hẹp khoảng cách này, các ngân
hàng cần có chính sách tuyển dụng và đào tạo để nâng cao sự hiểu biết về kiến thức
kế toán, trách nhiệm kiểm toán viên và mức độ đảm bảo được cung cấp bởi các
chức năng kiểm toán để tránh việc quá phụ thuộc vào các thông tin trên báo cáo
kiểm toán khi đánh giá đơn xin vay vốn.
(11) Anila Devi (2014), mục đích của nghiên cứu này là xác định các biến cấu
thành nên khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa kiểm toán viên và người sử dụng
báo cáo tài chính bao gồm các ngân hàng và nhà đầu tư. Các biến được sử dụng là
độ tin cậy của thông tin trên BCTC được kiểm toán, trách nhiệm kiểm toán viên và
tính hữu ích của BCTC được kiểm toán. Các dữ liệu được thu thập thông qua bảng
câu hỏi với kích thước mẫu n = 300 ngẫu nhiên gồm 100 đối tượng từ mỗi nhóm và
259 mẫu được nhận lại. Bảng câu hỏi bao gồm hai phần, phần đầu tiên thu thập dữ
liệu nhân khẩu học và phần 2 gồm 16 câu hỏi liên quan đến các biến. Nghiên cứu
này cho thấy rằng khoảng cách này đang tồn tại giữa các kiểm toán viên và nhà đầu
tư trong hai biến đó là mức độ tin cậy và tính hữu ích của BCTC được kiểm toán.

của chuẩn mực. Sự khác biệt về nhận thức này tạo nên một khoảng cách mong đợi
kiểm toán tại Việt Nam. Như vậy, Việt Nam có tồn tại khoảng cách mong đợi kiểm
toán và nguyên nhân chủ yếu là do sự mong đợi chưa hợp lý từ xã hội, do chuẩn
mực chưa đầy đủ và sự thiếu năng lực của KTV.
(2) Ngô Thị Thúy Quỳnh, 2015,Giải pháp thu hẹp khoảng cách kỳ vọng giữa
kiểm toán viên và nhà quản lý trong việc kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam,
luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu đã chỉ ra


15

rằng có tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và NQL tại Việt Nam liên
quan đến trách nhiệm KTV. NQL đặt kỳ vọng vào cuộc kiểm toán nhiều hơn so với
nhận thức của KTV, đặc biệt là các trách nhiệm liên quan đến vai trò phát hiện và
ngăn chặn sai sót, gian lận, các hành vi không tuân thủ và các dịch vụ phi kiểm toán
khác. Thêm vào đó, thông qua khảo sát các thuộc tính của NQL có thể ảnh hưởng
đến kỳ vọng của họ vào hoạt động kiểm toán thì thấy rằng các NQL không có kiến
thức kiểm toán và ít kinh nghiệm làm việc thường kỳ vọng cao hơn các nhóm NQL
có kiến thức và kinh nghiệm làm việc làm việc lâu hơn do họ nhận thức được mục
tiêu truyền thống và những hạn chế tiềm tàng của cuộc kiểm toán. Kết quả nghiên
cứu cho thấy rằng mặc dù không thể xóa bỏ khoảng cách kỳ vọng kiểm toán nhưng
có thể giảm thiểu chúng một cách hiệu quả nhất thông qua giáo dục kiến thức, nâng
cao hiểu biết về bản chất và chức năng của kiểm toán không chỉ với NQL mà còn
với các đối tượng người sử dụng khác nhau. Điều này không những tạo điều kiện
thuận lợi cho KTV làm việc mà còn nâng cao uy tín nghề nghiệp kiểm toán trong xã
hội.
(3) Nhóm nghiên cứu Đại học Kinh tế - luật, 2015, Đo lường khoảng cách kỳ
vọng giữa nhà đầu tư và chất lượng công ty kiểm toán, ĐHQG.HCM. Việc gửi bảng
hỏi khảo sát dành cho các đối tượng: kiểm toán viên, kế toán trưởng, nhà đầu tư,
nhóm nghiên cứu đã có những cái nhìn cụ thể về quan điểm của kiểm toán viên đối

Thông qua tìm hiểu về các nghiên cứu nước ngoài ở phần trên đã cho thấy, theo
thời gian các nghiên cứu trên thế giới nhờ kế thừa các nghiên cứu trước nên ngày
càng hoàn thiện hơn cả về mặt nội dung và ý nghĩa đưa ra những kết luận có cơ sở
và ứng dụng thực tiễn hơn. Các nghiên cứu trước và sau trên thế giới đều có những
điểm tương đồng như sau:
- Các nghiên cứu đều gắn liền với nền kinh tế tại mỗi thời điểm, tiếp cận theo
hướng gắn kết với sự phát triển của nghề của kiểm toán, với nhu cầu của người sử
dụng báo cáo kiểm toán. Mục đích để nghề kiểm toán ngày càng hoàn thiện hơn và
có ý nghĩa hơn.
- Đa số các nghiên cứu trước là những nghiên cứu chung chung về vấn đề có
tồn tại hay không khoảng cách kỳ vọng kiểm toán, chưa đưa ra các nhóm riêng lẻ về
các nhân tố cấu thành nên khoảng cách đó. Càng về sau, các nghiên cứu đã được
xem xét đến các yếu tố cấu thành nên khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và có hướng
giải pháp thu hẹp cho từng yếu tố.


17

- Các nghiên cứu sau kế thừa kết quả các nghiên cứu trước, những nghiên cứu
sau có tính mới hơn đưa ra những bằng chứng có tính thuyết phục cao hơn, khắc
phục dần những hạn chế của những nghiên cứu trước.
1.3.2. Đối với các nghiên cứu trong nƣớc
Đối với các công trình nghiên cứu trong nước nghiên cứu về “khoảng cách kỳ
vọng kiểm toán” có thể cho thấy rằng:
- Các tác giả chú trọng vào việc nghiên cứu về mong đợi thực tế của xã hội về
trách nhiệm KTV, các trách nhiệm đó đã được các KTV thực hiện như thế nào, bản
thân KTV nhìn nhận ra sao, ĐVĐKT và người sử dụng báo cáo kiểm toán nghĩ gì
về trách nhiệm của KTV trong cuộc kiểm toán BCTC.
- Các nghiên cứu này cũng đã đưa ra được những bằng chứng thực nghiệm về
việc tồn tại khoảng kỳ vọng kiểm toán tại Việt Nam về sự mong đợi của xã hội đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status