1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thoái hóa cột sống thắt lưng là một bệnh phổ biến, rất hay gặp trong đời
sống hằng ngày và trên lâm sàng. Theo các Trung tâm thống kê ở các nước
Âu-Mỹ, có 80% người trưởng thành bị đau thắt lưng một vài lần trong cuộc
đời [38]. Thống kê của hội Chấn thương chỉnh hình Việt Nam thì số người có
chỉ định phẫu thuật cột sống chiếm 10% số bệnh nhân đau cột sống, 90%
bệnh nhân đau cột sống đều được điều trị nội khoa bằng thuốc tây y, phục hồi
chức năng và y học cổ truyền [44].
Thoái hóa cột sống thắt lưng có tích chất dai dẳng gây cho bệnh nhân cảm
giác đau đớn khó chịu, người bệnh bị hạn chế vận động vùng thắt lưng, gây
giảm sức khỏe, giảm khả năng học tập, lao động và sản xuất, ảnh hưởng tới
chất lượng cuộc sống.
Việc điều trị thoái hóa khớp, trong đó có THCSTL, chủ yếu là điều trị
triệu chứng và phục hồi chức năng kết hợp với điều trị nội khoa, ngoại khoa
và vật lý trị liệu. Y học hiện đại (YHHĐ) chủ yếu sử dụng các nhóm thuốc
chống viêm, giảm đau không steroid, thuốc giãn cơ, kết hợp với tia hồng
ngoại, sóng siêu âm, sóng từ trường, kéo giãn CSTL. Trong đó Từ trường có
tác dụng làm giãn nở các mao mạch và tiểu động mạch tại vùng điều trị, tăng
bạch cầu đặc biệt là bạch cầu limpho kéo dài 24 giờ, tăng chuyển hóa, thư
giãn cơ, từ đó có tác dụng giảm đau đối với các chứng đau mãn tính. Việc
điều trị phẫu thuật được cân nhắc khi điều trị nội khoa không kết quả hoặc
chèn ép thần kinh nhiều thể hiện trên lâm sàng và chuẩn đoán hình ảnh.
YHCT không có bệnh danh thoái hóa cột sống thắt lưng, THCSTL được
mô tả trong phạm vi các chứng tý với các bệnh danh “yêu thống”, “yêu cước
thống”… của YHCT.
2
1.1. Đặc điểm giải phẫu sinh lý - bệnh lý vùng thắt lưng
1.1.1. Đặc điểm giải phẫu cột sống thắt lưng.
Đoạn thắt lưng gồm 5 đốt sống, 4 đĩa đệm và 2 đĩa đệm chuyển đoạn
đây là nơi chịu tải 80% trọng lượng cơ thể và có tầm hoạt động rộng theo
mọi hướng. Để bảo đảm chức năng nâng đỡ, giữ cho cơ thể ở tư thế đứng
thẳng, cột sống thắt lưng hơi cong về phía trước với các góc:
- Góc cùng: tạo bởi đường thẳng ngang và đường thẳng chạy qua mặt
trên: 30 độ.
- Góc thắt lưng cùng: tạo bởi trục L5 và S1: 140 độ
- Góc nghiêng xương chậu: tạo bởi đường thẳng ngang với đường
thẳng nối giữa ụ nhô với bờ trên xương mu [5], [38], [52].
Hình 1.1. Các đốt sống thắt lưng
4
1.1.1.1. Cấu tạo đốt sống thắt lưng
Cấu tạo bởi hai phần chính: thân đốt ở phía trước và cung đốt ở phía sau.
Thân đốt: là phần lớn nhất của đốt sống, có hình trụ dẹt. Chiều ngang
lớn hơn chiều trước sau và chiều cao. Mặt trên và mặt dưới là mâm sụn.
Cung đốt sống: có hình móng ngựa, liên quan hai bên là mỏm khớp
liên cuống, mỏm khớp chia cung sống thành hai phần: phía trước là cuống
sống, phía sau là lá cung, gai sau gắn vào cung sống ở đường giữa sau, hai
mỏm ngang ở hai bên gắn vào cung sống ở gần mỏm khớp, giữa thân đốt
sống với cung sống là ống tuỷ. Riêng L5 thân đốt ở phía trước cao hơn ở
phía sau để tạo độ ưỡn thắt lưng.
Mỏm ngang: có hai mỏm ngang chạy từ cung đốt sống ra ngoài.
Gai sống: có một gai dính vào cung đốt sống.
Lỗ đốt sống nằm ở giữa, thân đốt sống nằm ở trước và cung đốt sống
kín phần sau bên của phần tự do.
+ Dây chằng vàng dầy và khỏe phủ mặt sau của ống sống.
6
+ Các dây chằng liên gai, dây chằng liên mỏm gai, dây chằng trên gai
nối các gai sống với nhau. Ngoài những dây chằng, trên đốt L4-L5 còn
được nối với xuơng chậu bởi những dây chằng thắt lưng chậu, những dây
chằng này đều bám vào đỉnh mỏm ngang L4, L5 và bám vào tận mào chậu
ở phía truớc và phía sau. Dây chằng thắt lưng chậu căng dãn giúp hạn chế
sự di động quá mức của hai đốt sống thắt lưng L4, L5 [5], [38], [52].
1.1.1.3. Lỗ liên đốt, sự phân bố thần kinh cột sống
Lỗ liên đốt sống:
Rễ thần kinh thoát ra khỏi ống sống qua lỗ liên đốt, lỗ này được giới
hạn ở phía trước là bờ sau bên của đĩa đệm, ở phía trên và phía dưới là
cuống sống của hai đốt kế cận nhau, ở phía sau là mỏm khớp là khớp liên
cuống, phủ phía trước khớp liên cuống là bao khớp và phần bên của dây
chằng vàng [9], [10].
Phân bố thần kinh cột sống:
Từ phía trong rễ thần kinh xuyên qua màng cứng đi ra ngoài tới hạch giao
cảm cạnh sống tách ra các nhánh:
+ Nhánh trước: phân bố cho vùng trước cơ thể.
+ Nhánh sau: phân bố cho da, cho cơ vùng lưng cùng bao khớp và diện
ngoài của khớp liên cuống.
+ Nhánh màng tủy: đi từ hạch giao cảm, chui qua lỗ liên đốt vào ống
sống, chi phối cho các thành phần bên trong bao gồm khớp liên cuống, dây
chằng dọc sau, bao tủy. Do có sự liên quan về giải phẫu nên bất cứ sự thay
đổi nào của những thành phần liên quan ở lỗ liên đốt cũng sẽ kích thích rễ
thần kinh gây ra đau đớn.
8
Thoái hóa đốt sống:
Hậu quả tiếp sau thoái hóa đĩa đệm là các sợi đàn hồi của vòng sợi
giảm và được thay thế bởi các tổ chức xơ, dẫn tới sự giảm linh động giữa
hai đốt sống. Áp lực nội đĩa đệm giảm, các đốt sống gần nhau hơn, khả
năng chống rung sóc giảm, bao sợi và các dây chằng của nó trở nên chùng
lỏng. Chỗ dây chằng bám vào màng xương đốt sống bị yếu và dễ dàng bị
bong khỏi điểm bám do bất kỳ một lực nào tác động hoặc do khối lượng
đĩa đệm mất tính đàn hồi đẩy ra. Các chất thoát ra ngoài tiếp tục làm giảm
số lượng mô đĩa đệm, các đốt sống tiến lại gần nhau hơn, các dây chằng
căng trung ương lỏng lẻo càng dễ bóc tách tạo ra một vòng bệnh lý luẩn
quẩn, các chất bị bong trở thành dị vật và gây nên phản ứng kích thích, có
thể gây nên xơ hóa kéo theo can xi hóa dẫn tới viêm khớp thoái hóa, viêm
khớp, phì đại[5], [27], [24], [30].
1.1.3. Cơ chế gây đau thắt lưng
Đau thắt lưng là triệu chứng của nhiều bệnh, do nhiều nguyên nhân khác
nhau gây ra. Tuy nhiên có 3 cơ chế gây đau thắt lưng sau.
- Cơ chế hoá học:
Theo cơ chế này đau thắt lưng là sự kích thích các đầu mút thần kinh
của các cấu trúc nhậy cảm như dây chằng dọc sau, màng tuỷ, bao khớp liên
cuống, rễ thần kinh…Chất kích thích được giải phóng ra từ những tế bào
viêm hoặc những tế bào của tổ chức tổn thương. Các chất kích thích hoá
học bao gồm: Hydrogen hoặc các enzym. Những chất này kích thích trực
tiếp các đầu mút thần kinh của các cấu trúc nhạy cảm gây nên triệu chứng
đau, nóng với tính chất vị trí và cường độ đau không thay đổi khi thay đổi
tư thế cột sống. Đau theo cơ chế này có thể giảm hoặc loại bỏ bằng 2 cách:
Giảm các chất kích thích hoá học (vai trò của các thuốc chống viêm) và
10
+ Khởi phát từ từ, đau mạn tính tái phát nhiều lần, lần sau đau tăng lên
kéo dài mà không thấy biểu hiện thoái lui.
+ Đau nửa đêm về sáng, thay đổi thời tiết đau tăng.
+ Đau cả ngày lẫn đêm mà các biện pháp giảm đau thông thường không
có tác dụng là đau của nhiều bệnh kết hợp [4], [36].
Các dấu hiệu thực thể của hội chứng cột sống:
+ Điểm đau cột sống: Ấn hoặc gõ trên các mỏm gai đốt sống bệnh nhân
phát hiện được điểm đau. Trường hợp tổn thương rễ thần kinh thường có
điểm đau ở cột sống tương ứng.
+ Điểm đau cạnh sống (cách đường liên mỏm gai khoảng 2cm).
+ Co cứng cơ cạnh cột sống thắt lưng: Quan sát bệnh nhân ở tư thế
đứng thẳng hoặc nghiêng, thấy rõ cơ bên nào bị co cứng sẽ nổi vồng lên.
Khi sờ nắn, ấn tay thấy khối cơ căng, chắc.
+ Các biến dạng cột sống: Bệnh nhân ở tư thế đứng thẳng, nhìn vùng thắt
lưng theo hướng nghiêng, có thể đánh giá độ ưỡn, gù, vẹo của cột sống [4].
+ Tầm hoạt động của cột sống thắt lưng: Yêu cầu bệnh nhân cúi ngửa
nghiêng phải, nghiêng trái, xoay và quan sát thấy tầm hoạt động bị hạn chế.
* Đo độ giãn cột sống thắt lưng (Nghiệm pháp Schober), ở tuổi vị thành
niên bình thường khoảng cách này giãn thêm khoảng 4-5 cm, chỉ số
Schober bình thường từ 14/10 cm đến 15/10 cm [5].
* Độ ưỡn cột sống: Bình thường góc nghiêng, góc xoay, góc ngửa
khoảng 30o. Nếu góc độ nhỏ hơn 10 o là bệnh lý [5].
1.1.4.2. Triệu chứng cận lâm sàng
X-Quang quy ước:
11
đau không steroid.
- Thuốc giãn cơ, an thần.
- Vitamin nhóm B liều cao có tác dụng giảm đau chống viêm, chống
thoái hóa thần kinh.
1.1.5.3. Phẫu thuật
Được chỉ định trong các trường hợp:
- Một số trường hợp thoát vị đĩa đệm độ 3- 4.
- Các bệnh gây di lệch chèn ép vào tủy, đám rối đuôi ngựa (lao, viêm
mủ, u, chấn thương…).
- Phẫu thuật làm cứng, cố định cột sống khi có nguy cơ lún đốt sống, gù
vẹo nhiều…[4].
1.2. Thoái hóa cột sống thắt lưng theo YHCT
YHCT không có bệnh danh thoái hóa cột sống thắt lưng. Bệnh được mô
tả trong phạm vi chứng tý của YHCT với các bệnh danh “yêu thống”, “yêu
cước thống” “tọa cốt phong”...
13
“Yêu thống”, “yêu cước thống” là từ dùng để chỉ chứng trạng đau nhức, tê
bì, hạn chế vận động vùng cột sống thắt lưng cũng như những ảnh hưởng tới
hoạt động và cảm giác của chi dưới trong một số bệnh lý. Nguyên nhân đa
phần do thận hư bất túc, cảm nhiễm ngoại tà dẫn tới khí huyết kinh mạch trở
ngại không thông gây nên đau. YHCT cho rằng: Lưng là phủ của thận, thận
chủ tiên thiên có năng lực làm cho cơ thể cường tráng. Thận hư sẽ làm cho con
người mệt mỏi, trước hết là đau mỏi vùng thắt lưng. Mặt khác, thận chủ cốt tủy
nên khi thận khí không đầy đủ sẽ dẫn tới đau xương khớp, đau lưng, mỏi
gối.Trên lâm sàng thấy đau thắt lưng trước tiên phải xem xét tạng thận có thể bị
tổn thương hay không. Căn cứ vào biểu hiện lâm sàng, chứng yêu thống có thể
tương ứng với các bệnh đau lưng cấp tính, thoát vị đĩa đệm, viêm tuỷ sống,
cho bệnh nặng thêm.
1.2.2 Các thể lâm sàng
- Yêu thống thể phong hàn thấp:Vùng lưng có cảm giác lạnh, nặng nề, vận
động khó khăn, trước đau nhẹ, dần dần đau nặng, nằm ngồi nghỉ ngơi cũng
không đỡ đau, thay đổi thời tiết đau tăng, rêu lưỡi trắng nhớt.
- Thể thấp nhiệt: Đau vùng lưng, nơi đau có cảm giác nóng nhức, tiểu tiện
đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch nhu sác.
- Yêu thống thể huyết ứ nội đình: Đau lưng cố định, nhẹ thì cúi ngửa khó,
nặng thì đau tăng khi vận động, ấn đau cự án, bệnh nhân có tiền sử chấn
thương, chất lưới tối xạm, hoặc có điểm ứ huyết, mạch tế sáp.
- Yêu thống thể can thận hư: Đau mỏi lưng, đầu gối mỏi vô lực, lao động
thì đau tăng, nghỉ ngơi thì giảm đau. Thiên về dương dư thì bụng dưới co
cứng, mặt nhợt, chân tay lạnh, chất lưỡi nhạt, mạch trầm tế. Thiên về âm hư
thì tâm phiền mất ngủ, miệng ráo, họng khô, sắc mặt hồng, lòng bàn chân bàn
tay ấm, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác.
15
Trên lâm sàng, có thể gặp các thể bệnh đơn thuần như trên, nhưng cũng
rất hay gặp các thể phối hơp với nhau như: phong hàn bế trở, can thận khuy
tổn, huyết ứ nội đình [3], [44]…
1.2.3. Điều trị chứng yêu thống theo YHCT
Cũng như YHHĐ, YHCT có các phương pháp khác nhau để điều trị
chứng yêu thống, yêu cước thống. Nhìn chung việc điều trị được chia làm 2
phương pháp chính: dùng thuốc và không dùng thuốc [3], [13], [34].
- Phương pháp dùng thuốc đông dược:
Trong YHCT, mỗi thể bệnh có một pháp điều trị đặc thù với một hay
nhiều bài thuốc cho mỗi thể bệnh. Thuốc có thể dùng dưới dạng thuốc uống
hay thuốc dùng ngoài.
dụng của xung điện phát ra từ máy điện châm.
Kích thích của dòng xung điện có tác dụng làm dịu cơn đau, kích thích
hoạt động của các cơ, các tổ chức, tăng cường dinh dưỡng ở các tổ chức, làm
giảm viêm, giảm xung huyết, giảm phù nề tại chỗ.
Hiện nay kỹ thuật điện châm đã có mặt hầu hết trong các chỉ định của
châm cứu điều trị các chứng bệnh khó như châm chữa liệt, châm chữa giảm
thị lực do teo gai thị, châm giảm đau và đỉnh cao là châm tê. Có thể khẳng
định rằng nếu không có máy điện châm thì khó có thể thực hiện được cuộc
phẫu thuật với phương pháp vô cảm bằng châm tê. Điện châm là dùng máy
điện tử tạo xung điện ở cường độ thấp với các dải tần số khác nhau kích thích
vào huyệt nhằm mục đích bổ hoặc tả liên tục đều đặn hơn vê tay, do đó điều
khiển sự vận hành khí huyết nhanh mạnh, để đưa trạng thái cơ thể trở lại cân
bằng và ổn định, hết bệnh tật. Điện châm thay thế cho thủ pháp vê tay kích
17
thích huyệt một cách đều đặn nhịp nhàng không làm cho bệnh nhân đau đớn,
mà ngược lại bệnh nhân còn có cảm giác tê, tức, nặng làm dịu cơn đau một
cách nhanh chóng, do vậy điện châm ra đời đáp ứng được mục đích điều khí
của châm cứu một cách nhanh mạnh mà không đau đớn [43], [44].
1.3.1. Cơ chế tác dụng của châm theo Y học hiện đại
Châm cứu là một kích thích gây ra một cung phản xạ mới có tác dụng ức
chế và phá vỡ cung phản xạ bệnh lý. Vogralic và Kassin (Liên Xô cũ) căn cứ
vào vị trí và tác dụng của nơi châm đề ra 3 loại phản ứng của cơ thể đó là:
phản ứng tại chỗ, phản ứng tiết đoạn và phản ứng toàn thân [47], [48],
[49].
Phản ứng tại chỗ:
+ Châm cứu vào huyệt là một kích thích gây một cung phản xạ mới có tác
dụng ức chế cung phản xạ bệnh lý: như làm giảm cơn đau, giải phóng sự co
kinh lạc. Nếu tà khí thịnh thì phải loại bỏ tà khí ra ngoài (dùng phương pháp
tả), nếu do chính khí hư thì phải bồi bổ cho chính khí đầy đủ (dùng phương
pháp bổ). Một khi chính khí của cơ thể được nâng cao, kinh khí trong các
đường kinh vận hành được thông suốt thì tà khí sẽ bị đẩy lùi, bệnh tật ắt sẽ
tiêu tan [14], [49].
Chỉ định và chống chỉ định
• Chỉ định:
- Dùng để cắt chứng đau 1 số bệnh: Đau khớp, đau răng, đau dây thần
kinh, cơn đau nội tạng...
- Chữa tê liệt, teo cơ trong các chứng liệt: Liệt nửa người, liệt các dây
thần kinh ngoại biên (liệt VII ngoại biên, liệt đám rối thần kinh cánh tay...)
- Châm tê tiến hành phẫu thuật.
• Chống chỉ định:
- Các trường hợp bệnh lý thuộc cấp cứu.
- Người có sức khỏe yếu, thiếu máu, có tiền sử mắc bệnh tim, phụ nữ
đang có thai hoặc hành kinh.
19
- Cơ thể ở trạng thái không thuận lợi: vừa lao động xong, mệt mỏi, đói...
- Một số huyệt không được chỉ định châm hoặc cấm châm sâu như:
Phong phủ, Nhũ trung...
Cách tiến hành [43].
- Sau khi đã chẩn đoán xác định bệnh, chọn phương huyệt và và tiến
hành châm kim đạt tới đắc khí, sau đó nối các huyệt cần được kích thích bằng
xung điện tới máy điện châm.
- Cần kiểm tra lại máy điện châm trước khi vận hành (tất cả các núm
đều chỉnh ở vị trí số 0) để đảm bảo an toàn. Tránh mọi động tác vội vàng
khiến cường đọ kích thích quá ngưỡng gây co giật mạnh khiến bệnh nhân
Tác động của từ trường lên cơ thể sống:
Điện từ trường tác động vào cơ thể theo 2 phương thức: phương thức tụ điện
và phương thức cảm ứng [22], [40].
+ Dưới tác động của từ trường thì lưu lượng máu tăng lên sẽ làm tăng khả
năng chuyển tải oxy, cả hai việc này giúp khả năng chữa bệnh của cơ thể được
tăng lên.
+ Việc thay đổi sự di chuyển của ion calci: Từ trường có thể đưa các ion
calci tới để điều trị chỗ xương bị gãy chỉ nửa thời gian so với bình thường hoặc có
thể giúp cho việc lấy calci khỏi khớp xương bị viêm hoặc khớp xương bị đau.
+ Sự cân bằng pH của những thể dịch khác nhau trong cơ thể (thông thường
sự mất cân bằng pH xảy ra khi bị bệnh) có thể làm thay đổi nhờ từ trường.
+ Sự sản xuất hormon từ các tuyến nội tiết có thể tăng lên hoặc giảm xuống
nhờ từ trường.
+ Sự thay đổi hoạt động của các enzym và những quá trình sinh hóa khác.
Tác dụng điều trị của từ trường: [28], [29].
+ Chống viêm (nhiễm khuẩn và không nhiễm khuẩn).
21
+ Giảm phù nề.
+ Giảm đau.
+ Tăng tuần hoàn ngoại vi và điều chỉnh áp lực động mạch.
+ Điều hòa hoạt đọng thần kinh thực vật.
+ Giảm độ nhớt máu, hạn chế kết dích tiểu cầu.
+ Kích thích miễn dịch không dặc hiệu.
+ Hạn chế lắng đọng cholesterol, hạn chế hình thành sỏi.
+ Kích thích tân tạo vi mạch, tái tạo tổ chức.
+ Kích thích phát triển xương, hạn chế loãng xương.
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
23
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 03/2015 đến 10/2016
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Châm cứu Trung ương.
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân từ 30 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính, nghề nghiệp, được chẩn
đoán đau do thoái hóa cột sống thắt lưng theo tiêu chuẩn của y học hiện đại.
- Bệnh nhân đồng ý tự nguyện tham gia vào nghiên cứu.
2.1.3. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo Y học hiện đại
Các bệnh nhân được chẩn đoán THCSTL với biểu hiện lâm sàng sau:
- Bệnh nhân được chẩn đoán là đau lưng do thoái hóa cột sống.
- Bệnh nhân từ 30 tuổi trở lên.
- Bệnh nhân tự nguyện tham gia nghiên cứu.
- Bệnh nhân tuân thủ điều trị.
- Cận lâm sàng có thoái hóa cột sống lưng.
- Đau vùng thắt lưng ở giai đoạn cấp và bán cấp.
Có các dấu hiệu của hội chứng cột sống:
+ Biến dạng cột sống, các tư thế chống đau: trước- sau, thẳng-chéo.
+ Nghiệm pháp Schober tư thế đứng ≤ 13/10 cm.
+ Dấu hiệu bấm chuông.
- Hình ảnh X-quang thường quy: dựa vào ba dấu hiệu cơ bản của thoái
hóa cột sống:
- Bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu phải đáp ứng tiêu chuẩn chọn
Bệnh nhân đau
bệnh nhân và tiêu chuẩn loại
bệnh
nhân
khỏi nghiên cứu.
dotrừ
thoáí
hóa
CSTL
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành theo mô hình thử nghiệm lâm sàng mở có
đối chứng (so sánh trước và sau điều trị, so sánh giữa hai nhóm).
Nhóm I (điện châm kết hợp
Nhóm II (điện châm đơn
Cỡ mẫu nghiên cứu 60 bệnh nhân chọn ngẫu nhiên
để đảm bảo bệnh
thuần)
từ trường)
(n = về
30)tuổi và mức độ
nhân được phân(n
bố=vào
30)hai nhóm sao cho có sự tương đồng
đau.
- Nhóm I (nhóm nghiên cứu): gồm 30 bệnh nhân được điều trị bằng
Lâmchâm
sàngkết hợp với từ trường.