MỤC LỤC
NỘI DUNG
I. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Đối tượng nghiên cứu
3. Phương pháp nghiên cứu
II. Nội dung
1. Cơ sở lí luận
2. Thực trạng của vấn đề
2.1. Đặc điểm tình hình địa phương và nhà trường
2.2. Thực trạng dạy học 2 buổi / ngày ở trường Tiểu học Xuân Thành
3. Một số giải pháp tổ chức thực hiện chỉ đạo công tác dạy học 2 buổi /
TRANG
1
1
2
2
2
2
2
2
3
5
ngày ở trường Tiểu học Xuân Thành
4. Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học 2 buổi / ngày ở trường
9
Tiểu học Xuân Thành
dạng hóa các hình thức tổ chức dạy và học, cũng như các hoạt động học tập
trong nhà trường, hướng đến mục tiêu giáo dục toàn diện.
Ở buổi 2, giáo viên (GV) có cơ hội tốt nhất để thực hiện việc dạy phân
hoá HS, có thời gian bù đắp lỗ hổng kiến thức cho HS yếu, có điều kiện tốt nhất
để phát triển năng lực tư duy cho HS khá giỏi. Ngoài ra, ở buổi 2, ta có thể tạo
những sân chơi thật bổ ích cho việc phát triển toàn diện nhân cách học sinh.
Lâu nay, trong dạy học GV đã thực sự đổi mới từ việc chọn nội dung,
hình thức, thời lượng, đồ dùng dạy học, cách đánh giá,… cho phù hợp với đối
tượng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục (GD). Song hầu như GV đã giành hết
thời gian và tâm huyết cho dạy học buổi 1- buổi dạy học các tiết được cơ cấu sẵn
trong chương trình. Còn vấn đề dạy học buổi 2 chưa được nhiều GV quan tâm,
không ít GV xem nhẹ hình thức dạy học buổi 2, nhiều GV xem buổi 2 như là giờ
tự học, tự làm bài tập, tự kiểm tra kiến thức, kỹ năng của HS. Bên cạnh một số
tiết dạy học buổi 2 thực sự có hiệu quả thì có không ít những tiết dạy ở buổi 2
GV giao cho HS một số bài tập đồng loạt HS giải quyết hết các bài tập đó là hết
nhiệm vụ của tiết học. Còn trong tiết đó, bao nhiêu HS cần rèn kiến thức, kỹ
năng gì? Cần rèn đến đâu? Các em có hứng thú học không? Có nhu cầu học hay
không thì GV ít chú ý đến nên phần nào chất lượng dạy học buổi 2 hiệu quả
chưa cao.. Chính vì lẽ đó tôi muốn tìm ra một số giải pháp Nâng cao chất lượng
tổ chức dạy học 2 buổi/ngày cho học sinh Tiểu học.
2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
1
Giáo viên, học sinh trường Tiểu học Xuân Thành huyện Thọ Xuân
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trong Đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp ngữ liệu.
- Phương pháp khái quát hóa.
các bậc cha mẹ phụ huynh học sinh đã đầu tư đúng mức về tinh thần lẫn vật chất
cho con em đi học. Họ sẵn sàng tạo mọi điều kiện cho con em học tập. Tuy
nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số gia đình đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó
khăn, một số phụ huynh đi làm ăn xa gửi con cho ông bà nên việc quan tâm đến
việc học hành của con em, còn phó thác cho nhà trường làm ảnh hưởng không
nhỏ đến việc học tập của học sinh.
2
b. Tình hình nhà trường :
Về đội ngũ:
Năm học 2016 – 2017, trường có tỉ lệ giáo viên 1,5/lớp, đủ giáo viên dạy
các môn đặc thù, các môn Tự chọn; 100% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn.
( Trong đó CĐ: 2; ĐH: 13, có 5 giáo viên đã được công nhận giáo viên dạy giỏi
cấp tỉnh, 7 giáo viên được công nhận giáo viên giỏi cấp huyện). Trong năm học
trường có 2 GV đạt GV dạy giỏi cấp tỉnh, 2 SKKN đạt giải cấp tỉnh, 6 SKKN
đạt giải cấp huyện (trong đó 3 bản được gửi đi tỉnh).
Đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên nhà trường nhiệt tình, có
trách nhiệm; nhiều cán bộ, giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phương
pháp dạy học tốt; chất lượng dạy học năm sau cao hơn năm trước.
Về cơ sở vật chất:
Nhà trường có cơ sở vật chất tương đối tốt, cơ sở vật chất được xây dựng
theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa; sân chơi bãi tập, hệ thống công trình vệ
sinh, nước sạch đầy đủ, cảnh quan môi trường sư phạm đảm bảo xanh - sạch đẹp - an toàn.
Tổng số phòng học: 10 (cao tầng: 10 phòng), đảm bảo đủ 1 phòng/lớp cho
10 lớp thực hiện chương trình (35 tiết/tuần)
Trang thiết bị dạy học: Có 20 máy vi tính bàn, 4 máy tính xách tay, 1 ti vi,
2 máy chiếu, điện thoại, đài catset; các trang thiết bị khác, sân chơi, bãi tập, bồn
hoa, thảm cỏ, bàn ghế, bảng chống loá đầy đủ, phục vụ tốt cho dạy - học 2
buổi/ngày và các hoạt động khác của nhà trường.
đối tượng và phương pháp, hình thức dạy học phong phú đòi hỏi giáo viên phải
thực sự dày công. Trong khi đó, cường độ lao động của giáo viên tương đối
nhiều, thời gian hạn chế (giáo viên đi dạy có thể đến 9 buổi/tuần, sinh hoạt
chuyên môn, hoạt động công tác đoàn thể, lao động cùng học sinh, phụ đạo học
sinh tiếp thu chậm, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu,...). Vì vậy việc tiếp cận
thông tin mới, việc nghiên cứu các tài liệu, soạn giáo án có phần hạn chế.
Trong những năm gần đây, ngành Giáo dục đã chỉ đạo mạnh mẽ, sát sao về
vấn đề tự chủ trong dạy học. GV đã linh hoạt, chủ động chọn nội dung, thời
lượng, phương pháp. Thế nhưng không tránh khỏi một số buổi 2, các tiết tự
chọn, năng khiếu được cơ cấu cứng nên việc điều chỉnh thời lượng một số tiết
không thực hiện được.
Một số GV còn ngại khi lên lớp buổi 2. Do GV chưa tự tin với việc lựa
chọn nội dung, hình thức, phương pháp dạy học. Vì vậy hình thức dạy buổi 2
còn nghèo nàn, chưa phong phú, chưa hấp dẫn, chưa tạo cho HS thích học và
say mê học. Một số tiết chưa dạy theo nhu cầu của HS, chưa giúp được HS yếu
rèn kiến thức, kỹ năng; HS giỏi chưa có nhiệm vụ riêng, HS cá biệt chưa được
quan tâm đúng mức nên nề nếp lớp học chưa nghiêm túc, không khí lớp học
chưa sôi nổi, HS chán học, hiệu quả không cao.
b.Về phía học sinh:
Do đặc thù mỗi lớp học đều có đủ các loại đối tượng HS như (tiếp thu tốt,
tiếp thu bài được, tiếp thu chậm, khuyết tật, cá biệt...) nên quá trình tiếp thu bài
của các em còn có những bất cập.
Còn một bộ phận HS tiếp thu chậm, bố mẹ đi làm ăn xa ở nhà với ông bà
nên việc quan tâm của gia đình đến việc học của học sinh còn hạn chế. Những
học sinh này rất ngại học chóng chán, ỷ lại, nhiều em làm ảnh hưởng đến nề nếp
và không khí lớp học.
c. Về phía nhà trường:
Cơ sở vật chất nhà trường chưa thực sự đảm bảo cho việc tổ chức dạy học
2 buổi/ngày như: các phòng chức năng chưa có đủ, phòng máy chưa đảm bảo hư
hỏng nhiều, các trang thiết bị phục vụ cho các hoạt động tập thể còn nghèo nàn.
HT CHT
25
6
16
7
17
5
17
6
75
24
Thích học các môn
Môn Tiếng việt
năng khiếu và tự
chọn
HTT HT CHT ÂN MT TD Tin
13
24
4
15
8
10 15
22
15
6
25 15 15 20
19
17
6
cơ sở bám sát các yêu cầu về nội dung, kế hoạch giáo dục, thực hiện chương
trình sách giáo khoa theo quy định. Nội dung dạy học buổi 2 chú trọng thực
hành kiến thức đã học, tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động thực tế tại
địa phương nhằm hỗ trợ cho việc học tập hoặc bồi dưỡng học sinh năng khiếu,
dạy học các môn Tự chọn, tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong hội đồng, lựa chọn giáo
viên giảng dạy ở các khối lớp phù hợp với năng lực và chuyên môn để phát huy
thế mạnh của từng người. Động viên cán bộ giáo viên nêu cao tinh thần trách
nhiệm, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao. Trong sắp xếp, bố trí giáo viên nhà trường ưu tiên cho những lớp đầu cấp
và cuối cấp.
5
Xây dựng cơ cấu các khối, tổ chuyên môn. Giao trách nhiệm cho khối, tổ,
giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học, lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học
phù hợp với đối tượng học sinh ở từng khối, từng lớp của mình đang dạy.
b. Hình thức tổ chức:
Cuối mỗi năm học căn cứ vào kết quả thi định kỳ lần 2 của khối 1,2,3 lần
4 của các khối khối 4,5, biên chế các lớp học sinh theo nhóm đối tượng từ cao
đến thấp để bàn giao chất lượng cho giáo viên nhận học sinh vào đầu năm học
sau.
Buổi học thứ nhất:
Chỉ đạo dạy học theo kế hoạch giáo dục và thực hiện chương trình, sách
giáo khoa quy định cho mỗi lớp, theo chương trình giáo dục phổ thông được ban
hành kèm theo công văn số 4232/BGD&ĐT-GDTH ngày 25/8/2015 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo. Mỗi buổi học không quá 4 tiết, mỗi ngày học không quá 7
tiết. Chỉ đạo giáo viên dạy đảm bảo yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng cơ bản các
môn học. Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập phù hợp với trình độ từng nhóm
học sinh (Hoàn thành tốt, Hoàn thành, chưa hoàn thành). Lựa chọn phương pháp
Chỉ đạo giáo viên tổ chức các hoạt động thực hành cho học sinh. Đối với
đối tượng học sinh chưa hoàn thành, giáo viên có biện pháp cụ thể, sát hợp với
khả năng để giúp học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập theo chuẩn kiến thức kĩ
năng. Đối với đối tượng học sinh tiếp thu tốt, giáo viên đưa ra các dạng bài tập
mở rộng, đào sâu kiến thức và kích thích tư duy của học sinh. Tổ chức các hoạt
động nhằm củng cố kiến thức, bồi dưỡng năng khiếu cá nhân, học môn tự chọn
theo sở thích và năng lực của học sinh.
Củng cố kiến thức, kĩ năng, thực hành kiến thức đã học và tổ chức học
sinh tham gia các hoạt động thực tế tại địa phương nhằm hỗ trợ cho việc học tập
như:
Học các môn tự chọn; Phát triển năng khiếu theo các nội dung tự chọn;
Tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Tổ chức theo hướng các hoạt động giáo dục phù hợp đối tượng, có thể
chia học sinh ở cùng một khối lớp (hoặc khác khối lớp) theo các nhóm hoạt
động trên cơ sở phù hợp khả năng và nhu cầu, có thể là thành lập câu lạc bộ:
- Nhóm củng cố kiến thức: ( Câu lạc bộ Toán - Tiếng việt)
- Nhóm bồi dưỡng năng khiếu, sở thích với các hoạt động như: thực hành
đo đạc, giải toán nhanh, ứng dụng kiến thức toán vào thực tế, bồi dưỡng kĩ năng
giao tiếp, đọc diễn cảm, đọc thơ, thi kể chuyện, thi hùng biện, viết chữ đẹp, câu
lạc bộ,...
-Nhóm phát triển thể chất: ( Câu lạc bộ TDTT và các sở thích khác).
Các hoạt động như: cờ vua, cầu lông, thể dục nhịp điệu,...
- Nhóm phát triển nghệ thuật với các hoạt động về nhạc dân tộc, đàn
oocgan, múa, khiêu vũ, vẽ, nặn, trang trí,...
Nhóm hoạt động xã hội với các hoạt động về tìm hiểu tự nhiên, xã hội,
lịch sử, địa lí, văn hoá truyền thống,...
Chỉ đạo Tổng phụ trách Đội, giáo viên xây dựng kế hoạch hoạt động 1
tiết/ tuần ( 4 tiết/ tháng). Nội dung này được thực hiện tích hợp vào các môn Mĩ
thuật, Thủ công, Kĩ thuật, Âm nhạc phù hợp với thực tiễn của địa phương và nhà
trường. Ngoài ra, đưa một số luật như luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em, luật Bảo
được phân công bồi dưỡng môn Toán; giáo viên có sở trường môn Tiếng Việt
được phân công bồi dưỡng môn Tiếng Việt; giáo viên có kinh nghiêm phụ đạo
học sinh tiếp thu chậm được phân công dạy nhóm học sinh này. Giáo viên có
năng khiếu viết chữ đẹp được phân công luyện viết chữ đẹp cho HS...
d. Xây dựng thời khoá biểu
Để việc dạy học 2 buổi/ngày đạt hiệu quả cao thì việc xây dựng thời khóa
biểu của nhà trường là hết sức quan trọng. Thời khóa biểu (TKB) phản ánh
chương trình giáo dục và có ảnh hưởng đến toàn bộ học sinh và giáo viên trong
nhà trường. Vì vậy, TKB của nhà trường được coi là bộ xương sống cơ bản nhất
kết nối hầu hết các các hoạt động của nhà trường. Chính vì lẽ đó bài toán xếp
Thời khóa biểu trở thành một trong những vấn đề chính và quan trọng vào bậc
nhất của mỗi nhà trường trong việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày.
TKB không khoa học sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe cả về thể chất và tinh
thần của giáo viên, học sinh; đến chất lượng học của học sinh và chất lượng dạy
của giáo viên; đến chất lượng giáo dục của nhà trường. Nếu TKB không khoa
học sẽ ảnh hưởng đến cả sinh hoạt của gia đình học sinh.
Do mấy năm gần đây ngành Giáo dục đã chỉ đạo mạnh mẽ và giao cho
Hiệu trưởng các nhà trường được chủ động xây dựng kế hoạch dạy học 2
buổi/ngày, vì những lẽ đó mà tôi đã sắp xếp TKB để toàn trường thực hiện sao
cho đáp ứng nhu cầu phát triển của học sinh; đáp ứng nhu cầu vật chất, tâm lý,
và trí tuệ,... TKB được xây dựng trên cơ sở sau:
TKB phải được xây dựng phù hợp với, đặc điểm sư phạm và vệ sinh học
đường, trên cơ sở lấy học sinh làm trung tâm; vì quyền lợi của học sinh;
TKB được sắp xếp trên cơ sở căn cứ vào mức độ tập trung, khả năng, nhu
cầu học tập, quy mô lớp học để tối đa hóa cơ hội học tập cho các em. Một số
môn đòi hỏi HS phải tư duy nhiều như: Toán, Tiếng Việt cần sắp xếp vào thời
gian mà HS có thể tập trung chú ý cao, ví dụ tiết 1-2 buổi sáng.
TKB phải được sắp xếp đan xen giữa các hoạt động giáo dục với các môn
học khác nhau để tạo hứng thú và động cơ học tập cho học sinh.
8
chọn lọc. Bởi vậy: " GV Tiểu học giữ vai trò quyết định đến sự phát triển đúng
hướng của các em, là nhân tố quyết định đối với chất lượng GD của mỗi lớp
tiểu học, của từng HS tiểu học". Hiểu điều đó để GV định hướng cho mình trong
công tác chuẩn bị.
b: Dạy đến từng đối tượng HS, dạy theo nhu cầu người học một cách hợp lý.
- Khi mọi đối tượng HS đều được học, mỗi một học sinh được giao từng
công việc cụ thể phù hợp với năng lực, sở trường thì các em sẽ hăng hái thực
hiện, không khí lớp học sôi nổi. Muốn đạt được mục tiêu này giáo viên phải:
- Tìm hiểu, nắm bắt, phân loại đối tượng HS:
Đây là việc làm rất quan trọng, bởi lẽ khi phân loại được HS của lớp, giáo
viên đó hình dung ra nhóm học sinh nào cần gì để giáo viên có kế hoạch. Bởi
thế, ngay từ đầu năm, tôi đã chỉ đạo hướng dẫn giáo viên tổ chức cho học sinh
chơi một số trò chơi để giáo viên có điều kiện tìm hiểu về lý lịch, nhu cầu, năng
lực, uy tín HS:
9
+ Yêu cầu HS ghi nhanh lý lịch đơn giản (tên, ngày tháng năm sinh, con
ông, bà, chỗ ở, sở thích, và 5 người bạn mà em quý nhất) ra giấy nháp, GV thu
để tìm hiểu HS.
+ Qua nhiều kênh thông tin như thể hiện năng lực học tập của HS, qua
giao tiếp, qua GV chủ nhiệm cũ, qua gia đình và qua khảo sát đầu năm, phân
loại HS để có biện pháp dạy học phù hợp.
- Chọn nội dung giảng dạy cho phù hợp với từng nhóm đối tượng HS:
Song song với việc nắm bắt, phân loại học sinh, giáo viên phải quan tâm
đến chuẩn kiến thức, kỹ năng cần đạt của từng bài, từng phần trong từng tiết học
chính khóa ở buổi 1. Với nội dung đó, ở buổi 2 học sinh hoàn thành và hoàn
thành chưa tốt cần luyện kỹ năng gì. Em nào chưa nắm được chuẩn? Em nào
hổng kiến thức kỹ năng gì? Nguyên nhân do đâu, cần đưa nội dung vào dạy và
với lượng bài bao nhiêu còn HS có khả năng tiếp thu tốt cần mở rộng, khắc sâu
10
HS có lòng nhân ái, có kiến thức, kỹ năng nhưng bằng phương pháp nhẹ nhàng
hiệu quả.
Như vậy, Trong dạy học hình thức, phương pháp dạy học, 1 tiết dạy buổi
2 cần phải diễn ra nhẹ nhàng trong bầu không khí thi đua sôi nổi sẽ gây hứng thú
cho học sinh, giáo viên phải luôn “làm mới”, luôn “dễ hoá” (cho HS chưa hoàn
thành) mà không hạ chuẩn để thu hút HS. Ở đây, các đối tượng đều được luyện
kỹ năng ở các mức độ khác nhau. Và cái được hơn nữa là các em được luyện kỹ
năng sống, được trải nghiệm qua giao tiếp.
d. Mạnh dạn điều chỉnh thời lượng, kết hợp đan xen các tiết học một
cách hợp lý, tích hợp các kiến thức ở các lĩnh vực qua các sân chơi trí tuệ cho
HS.
Ngoài những tiết Ôn luyện riêng biệt cho từng phân môn GV cần phải
linh hoạt để lựa chọn các phương pháp dạy học, đa dạng hóa các hình thức lên
lớp để tạo sân chơi trí tuệ cho HS là vô cùng quan trọng bởi lúc đó các em được
ôn kiến thức, được luyện kỹ năng, được phát triển toàn diện trong không khí thi
đua sôi nổi, vui tươi, lành mạnh.
Thực tế, thời khóa biểu nhà trường đã xây dựng nhằm đảm bảo mục tiêu
giáo dục toàn diện cho HS rất cụ thể cho từng lớp. Song, trong quá trình dạy học
ở buổi 2, ở một số buổi học (có thể 1 tháng 1 lần) ta có thể đan xen các tiết vào
nhau, xâu chuỗi các tiết tạo thành 1 buổi sinh hoạt câu lạc bộ (câu lạc bộ Toán
học, câu lạc bộ Âm nhạc, câu lạc bộ Mỹ thuật...), 1 buổi sinh hoạt ngoài giờ lên
lớp, 1 sân chơi trí tuệ cho HS rất thú vị và hiệu quả.
e. Phối hợp với các lực lượng GD
- Tranh thủ sự hợp tác của đồng nghiệp.
+ Trong sinh hoạt tổ chuyên môn, một nội dung không thể thiếu là dự kiến
nội dung, thời lượng dạy học cho tuần sau. GV trong tổ trao đổi, thảo luận, góp
ý, bổ sung cho nhau để chọn những nội dung dạy buổi 2 chất lượng hơn (tuy
cũng như tư cách, đạo đức nhà giáo, tôn trọng, lắng nghe ý kiến học sinh. Đề
cao quyền học sinh.
Đặc biệt, ở dạy buổi 2 khi mà vấn đề dạy học phân hóa càng rõ nét thì
việc đánh giá HS cũng cần lựa chọn từng nội dung đánh giá, từng hình thức
đánh giá theo năng lực từng em. Nếu như HS hoàn thành và chưa hoàn thành,
GV đánh giá yêu cầu luyện kiến thức, kỹ năng cơ bản thì học sinh có năng khiếu
phải chọn nội dung cần đánh giá cao hơn phù hợp với năng lực các em. Không
đánh giá ngang bằng, đại trà, chung chung. Cần đánh giá học sinh tế nhị, khéo
léo, theo chuẩn và theo năng lực. Đặc biệt là theo TT22 sửa đổi bổ sung TT 30
nêu rõ “ Phải đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh, coi trọng động viên, khuyến
khích sự cố gắng của các em, giúp các em phát huy nhiều nhất khả năng của
mình”.
h. Xây dựng môi trường sư phạm thân thiện.
Môi trường sư phạm thân thiện sẽ nâng cao chất lượng GD. Khi trong lớp
tràn đầy tình yêu thương, khi GV quan tâm đặc biệt đến HS, khi HS tôn trọng
lẫn nhau thì tác động tốt đến kết quả dạy học. Vì vậy:
- Cần xây dựng tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong lớp, HS khá
giỏi luôn biết giúp đỡ HS yếu qua phong trào “Đôi bạn cùng tiến”, “Giúp
bạn”,...
- GV cần yêu nghề, yêu HS, dành cho các em sự gần gũi nhất.
- Trang trí lớp học gọn gàng, khang trang, thân thiện, trưng bày sản phẩm,
để HS được thể hiện, được học,... Trong lớp, GV phải tạo niềm tin cho học sinh,
GV vừa là mẹ, vừa là người bạn, phải mẫu mực, gần gũi, yêu thương, thân thiện,
chia sẻ với học sinh.
i. Xây dựng đầu tư cơ sở vật chất.
Cơ sở vật chất nhà trường góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất
lượng dạy và học. Chính vì vậy cần có sự quan tâm của các cấp đầu tư cơ sở vật
chất nhà trường; Hiệu trưởng cần có tầm nhìn chiến lược để tham mưu; Ngoài ra
hàng năm cần mua sắm, bổ sung trang thiết bị dạy học đã xuống cấp, thay thế
những đồ dùng phù hợp với điều kiện hiện tại....
Tổng
số học
sinh
194
204
Kết quả so với cùng kỳ năm trước
HHT
HT
CHT
TS
115
129
%
59.2
65.4
TS
79
72
%
40.8
34.6
TS
0
0
39
41
43
42
39
204
39
36
38
37
33
193
32
34
39
35
36
186
29
37
41
34
36
197
35
39
đua – Khen thưởng.
+ Chỉ đạo sát sao công tác kiểm tra, đôn đốc, dự giờ thăm lớp nhằm giúp
đỡ giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề. Cán bộ quản lý
nhà trường học hỏi, nâng cao năng lực tổ chức, quản lí.
+ Quan tâm chăm lo động viên đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường cả về
vật chất và tinh thần.
Chỉ đạo CBGV nắm chắc tinh thần chỉ đạo theo tinh thần của cấp trên,
đặc biệt là nâng cao nhận thức về vấn đề tự chủ trong dạy học để đảm bảo mọi
đối tượn học sinh được tiếp thu bài tốt.
Đa dạng hoá các hình thức dạy học ở buổi 2 nhằm gây hứng thú học tập
cho HS.
Đan xen nhiều môn, nhiều mảng kiến thức, ôn luyện dưới nhiều hình
thức để HS được phát triển toàn diện nhân cách một cách thoải mái, nhẹ nhàng,
hiệu quả.
Xây dựng môi trường sư phạm thân thiện cho học sinh tạo điều kiện tốt
nhất, để các em được phát triển toàn diện bởi lẽ ở lứa tuổi của các em đang ở
gia đoạn " Học mà chơi, chơi mà học" Như Bác Hồ đó nói: “Người thầy giáo
không chỉ dạy bằng công thức, bằng câu chữ có sẵn mà bằng cả tâm hồn của
mình”. Đối với dạy buổi 2, nhất là trong dạy học phân hoá GV phải có tâm và
phải nâng tầm để đáp ứng với yêu cầu của đất nước trong giai đoạn hiện nay .
Trên đây là một số kinh nghiệm từ thực tế quá trình chỉ đạo dạy học 2
buổi/ngày của bản thân tôi tại trường Tiểu học Xuân Thành – Thọ Xuân. Tuy
chưa thực sự phong phú nhưng đã có những kết quả đáng kể. Kính mong hội
14
đồng khoa học các cấp và đồng nghiệp bổ sung góp ý để kinh nghiệm được áp
dụng rộng rãi hơn trong các trường có điều kiện tương tự.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thọ Xuân, ngày 19 tháng 5 năm 2017
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Xuân
Chức vụ và đơn vị công tác: Hiệu trưởng trường TH Xuân Thành – Thọ Xuân
TT
Tên đề tài SKKN
1.
Một số biện pháp quản lý xây
dựng trường Tiểu học đạt chuẩn
Quốc gia.
Một số biện pháp quản lý nâng cao
chất lượng dạy học môn Tiếng
Việt ở Tiểu học.
Xây dựng mối quan hệ giữa Hiệu
trưởng với Hội cha mẹ học sinh
trong công tác xã hôi hóa giáo dục
ở trường Tiểu học.
Một số biện pháp nâng cao chất
lượng tổ chức dạy học 2 buổi/ngày
cho học sinh Tiểu học.
Một số biện pháp nâng cao chất
lượng tổ chức dạy học 2 buổi/ngày
cho học sinh Tiểu học.
2.
3.
C
2011 - 2012
PGT&Đ T
Thọ Xuân
B
2014 - 2015
PGT&Đ T
Thọ Xuân
B
2016 - 2017
17